1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phân tích những hạn chế của pháp luật trọngtài thương mại hiện hành và đề xuất hướng hoàn thiện

17 283 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 143,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khái quát về trọng tài thương mại 1.1 Khái niệm trọng tài thương mại Khoản 1 Điều 3 Luật Trọng tài thương mại năm 2010: “Trọng tài thương mại là phương thức giải quyết tranh chấp do các

Trang 1

MỤC LỤC

A ĐẶT VẤN ĐỀ 1

B GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 1

I.Những vấn đề lý luận chung về trọng tài thương mại và pháp luật trọng tài thương mại hiện nay 1

1 Khái quát về trọng tài thương mại 1

2 Pháp luật Trọng tài thương mại ở Việt Nam 3

II Những hạn chế của pháp Luật Trọng tài hiện hành 5

1 Hạn chế trong những quy định của pháp luật Trọng tài 5

2 Những hạn chế khi áp dụng pháp luật Trọng tài vào thực tế để giải quyết tranh chấp 9

3 Vụ việc cụ thể: 10

III Kiến nghị hoàn thiện pháp luật trọng tài trong thời gian tới 12

1 Kiến nghị hoàn thiện các quy định của pháp luật trọng tài hiện hành 12

2 Kiến nghị các biện pháp hỗ trợ để đảm bảo việc thực thi trên thực tế pháp luật TTTM 14

C KẾT THÚC VẤN ĐỀ 15

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO…… ……… 16

Trang 2

A ĐẶT VẤN ĐỀ

Với việc kế thừa những ưu điểm của pháp lệnh Trọng tài thương mại năm 2003, đồng thời có điều chỉnh, bổ sung những điều khoản mới cho phù hợp với bối cảnh kinh tế hiện nay cũng như tương thích với các văn bản pháp luật về Trọng tài thương mại quốc tế, Luật Trọng tài thương mại năm 2010 đã ra đời mở ra một chặng đường mới cho lịch sử phát triển của pháp luật về trọng tài thương mại ở nước ta Tuy nhiên sau nhiều tháng thực hiện thì đã pháp luật trọng tài hiện hành đã bộc lộ những điểm còn hạn chế trên thực tế Nghiên

cứu về pháp luật trọng tài em chọn đề tài: “ Phân tích những hạn chế của pháp luật trọng tài thương mại hiện hành và đề xuất hướng hoàn thiện”.

B GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

I.Những vấn đề lý luận chung về trọng tài thương mại và pháp luật trọng tài thương mại hiện nay.

1 Khái quát về trọng tài thương mại

1.1 Khái niệm trọng tài thương mại

Khoản 1 Điều 3 Luật Trọng tài thương mại năm 2010: “Trọng tài thương mại là phương thức giải quyết tranh chấp do các bên thoả thuận và được tiến hành theo quy định

của Luật này” Như vậy, với tư cách là một phương thức giải quyết tranh chấp, Trọng tài

thương mại (TTTM) có thể được hiểu là phương thức mà các bên tranh chấp tự nguyện thỏa thuận với nhau để ủy thác việc giải quyết tranh chấp đã hoặc sẽ phát sinh giữa họ cho TTTM Trên cơ sở có các tình tiết khách quan của tranh chấp, TTTM được quyền đưa ra quyết định cuối cùng để giải quyết tranh chấp và quyết định này có giá trị bắt buộc đối với

các bên Quy định này của Luật TTTM 2010 phù hợp Luật mẫu UNCITRAL cũng quy

định: “ Trọng tài là mọi hình thức Trọng tài có hoặc không có sự giám sát của một tổ chức thường trực” ( Điều 2).

1.2 Đặc điểm của Trọng tài thương mại

Thứ nhất, với tư cách là một phương thức giải quyết tranh chấp kinh doanh thương

mại, Trọng tài có những đặc thù sau:

- TTTM là phương thức giải quyết tranh chấp có sự tham gia của bên thứ ba ( có thể

là một hội đồng Trọng tài hoặc một Trọng tài viên duy nhất) có quyền đưa ra phán quyết Hội đồng Trọng tài hoặc Trọng tài viên duy nhất do chính các bên tranh chấp thỏa thuận lựa chọn trước hoặc sau khi xảy ra tranh chấp Lúc này Trọng tài đóng vai trò là bên trung gian, đứng giữa để giải quyết tranh chấp trê cơ sở đảm bảo quyền tự định đoạt của các bên

- TTTM là phương thức giải quyết tranh chấp có thủ tục tố tụng khá chặt chẽ Thủ tục

Trang 3

giải quyết tranh chấp bằng TTTM linh hoạt và mềm dẻo hơn do các bên được tự do thỏa thuận về toàn bộ quá trình tố tụng và hội đồng Trọng tài có nghĩa vụ phải thực hiện theo đúng thỏa thuận

- Kết quả của việc giải quyết tranh chấp tại TTTM là phán quyết của trọng tài viên duy nhất hoặc của hội đồng Trọng tài Phán quyết của Trọng tài có giá trị chung thẩm và không và không có tính cưỡng chế thi hành trong khi bản án, quyết định của Tòa án lại có tính chất cưỡng chế thi hành

Thứ hai, với tư cách là một cơ quan giải quyết tranh chấp, thì TTTM có đặc điểm sau:

- Trọng tài là một tổ chức xã hội - nghề nghiệp được thành lập nên để giải quyết tranh chấp phát sinh trong hoạt động thương mại, đặc điểm này thường được gắn với các Trọng tài thường trực Mỗi Trọng tài thường trực đều có Điều lệ hoạt động riêng, có trụ sở,

bộ máy giúp việc, danh sách Trọng tài viên và quy tắc tố tụng riêng của mình

- Thẩm quyền giải quyết tranh chấp của TTTM phát sinh từ chính sự thỏa thuận của các chủ thể tranh chấp chứ không phải do pháp luật ấn định

- TTTM là một cơ quan giải quyết tranh chấp độc lập với Tòa án, phán quyết của TTTM không có tính chất cưỡng chế thi hành như bản án, quyết định của tòa án Tuy nhiên

để đảm bảo giá trị pháp lý của phán quyết của TTTM, pháp luật nước ta quy định, phán quyết của TTTM nếu không được các bên đương sự tự nguyện thi hành thì có thể nhờ sự hỗ trợ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền cưỡng chế thi hành

1.3 Ưu điểm của Trọng tài thương mại

Thứ nhất, TTTM đảm bảo tối đa quyền tự chủ của các bên bởi TTTM không phải là

phương thức giải quyết tranh chấp bắt buộc Việc đưa tranh chấp ra Trọng tài giải quyết xuất phát từ sự thỏa thuận của các bên Các bên có quyền lựa chọn cơ quan Trọng tài, Trọng tài viên, lựa chọn hình thức Trọng tài, quy chế tố tụng Trọng tài để giải quyết tranh chấp cho mình mà không phụ thuộc vào nơi đặt Trụ sở hoặc nơi cư trú của các bên Việc này cho phép các bên tính toán về thời gian, địa điểm giải quyết tranh chấp

Thứ hai: thủ tục giải quyết tranh chấp bằng TTTM đơn giản, chặt chẽ trong khuôn

khổ luật định, thuận tiện, giúp giải quyết nhanh gọn vụ tranh chấp

Thứ ba, nguyên tắc giải quyết tranh chấp bằng TTTM là xét xử bí mật, không công

khai Trong quá trình kinh doanh, bí quyết kinh doanh là yếu tố quan trọng, nhất là trong những lĩnh vực sở hữu trí tuệ, công nghệ cao,…nếu giải quyết tại tòa án sẽ có nguy cơ bị lộ

bí mật do nguyên tắc xét xử của tòa án là xét xử công khai

Trang 4

Thứ tư, với nguyên tắc chung thẩm, thời gian giải quyết vụ tranh chấp sẽ được rút

ngắn, giúp các bên tranh chấp tiết kiệm được thời gian và chi phí, đồng thời làm giảm sự quá tải về số lượng vụ việc cho hệ thống tòa án

Thứ năm, phán quyết của TTTM có tính chính xác cao, nhất là các tranh chấp có nội

dung từ những vấn đề kinh tế, kỹ thuật có tính chuyên sâu

Thứ sáu, đối với việc giải quyết tranh chấp bằng TTTM, mặc dù các bên đương sự

có quyền tự định đoạt cao về quá trình giải quyết tranh chấp nhưng các Trọng tài viên khi được các bên lựa chọn lại có quyền xét xử và ra quyết định một cách hoàn toàn độc lập trên

cơ sở các quy định của pháp luật

1.4 Nhược điểm của Trọng tài thương mại

Thứ nhất, giải quyết bằng phương thức Trọng tài đòi hỏi chi phí tương đối cao, đặc

biệt là hình thức Trọng tài thường trực Trong khi mức án phí giải quyết tranh chấp dân sự tại tòa án thấp nhất là 200.000 đồng thì phí Trọng tài tại trung tâm Trọng tài quốc tế Việt Nam thấp nhất là 2000 USD

Thứ hai, phán quyết của TTTM mang tính chung thẩm vừa là một ưu điểm nổi bật

nhưng cũng lại là một nhược điểm, đòi hỏi quá trình giải quyết tranh chấp phải hoàn toàn chính xác, không được phép phạm sai lầm vì các bên tranh chấp không có quyền kháng cáo, kháng nghị Điều này thực sự là một khó khăn nếu như phát hiện và muốn sửa chữa sai phạm trong quá trình giải quyết tranh chấp

Ngoài ra, phán quyết của Trọng tài không phải lúc nào cũng được thi hành trôi chảy, thuận lợi như việc thi hành bản án, quyết định của tòa án Bởi TTTM không phải là cơ quan quyền lực nhà nước nên phán quyết của TTTM không có tính cưỡng chế thi hành mà phải nhờ đến sự trợ giúp của cơ quan thi hành án

2 Pháp luật Trọng tài thương mại ở Việt Nam

Ta có thể thấy sau nhiều năm thi hành Pháp lệnh Trọng tài thương mại 2003 đã có những hạn chế nhất định Để khắc phục những hạn chế đó thì Luật TTTM 2010 đã ra đời và

có hiệu lực vào ngày 1 tháng 1 năm 2011 Đi kèm với Luật là Nghị định 63/2011/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Trọng tài thương mại Đây có thể coi là những văn bản pháp luật mới nhất tính đến thời điểm này chứa các quy định pháp

lý về trọng tài thương mại ở Việt Nam

- Nội dung cơ bản của pháp luật Việt Nam về TTTM:

Thứ nhất, các quy định chung về phạm vi nguyên tắc giải quyết tranh chấp, hình thức

thẩm quyền của TTTM và sự phân định quyền giữa TTTM và Tòa án, nguyên tắc áp dụng

Trang 5

pháp luật trong giải quyết tranh chấp.

Thứ hai, quy định về thỏa thuận trọng tài: kế thừa các quy định của Pháp lệnh TTTM

2003, Luật TTTM 2010 quy định thỏa thuận trọng tài phải được xác lập bằng văn bản và cụ thể hóa những tình huống ý chí thỏa thuận của các bên được xem là đã được ghi nhận bằng văn bản Khoản 2 Điều 16 Luật này giải thích rõ ý chí trung thực của các bên khi xác lập thỏa thuận trọng tài Đồng thời Luật cũng quy định giới hạn các trường hợp cụ thể mà thỏa thuận trọng tài vô hiệu tại Điều 18 Luật TTTM 2010

Thứ ba, các quy định về tổ chức, thành lập, hoạt động của Trọng tài thường trực với

các nội dung: điều kiện và thủ tục thành lập, nhiệm vụ, quyền hạn và việc chấm dứt hoạt động Những điều này được Luật TTTM ghi nhận tại các Điều 22- 23 Đặc biệt Luật mới cho phép các tổ chức trọng tài nước ngoài được mở chi nhánh, văn phòng đại diện hay hoạt động tại Việt Nam theo các quy định

Thứ tư, quy định về trọng tài viên: điều kiện trở thành trọng tài viên, quyền và nghĩa

vụ Luật TTTM 2010 không yêu cầu trọng tài viên phải có quốc tịch Việt Nam Người nước ngoài cũng có thể được chỉ định trọng tài viên ở Việt Nam nếu các bên tín nhiệm

Thứ năm, quy định về tố tụng trọng tài từ việc khởi kiện và thụ lý, thành lập Hội

đồng trọng tài, thẩm quyền của trọng tài việc xác minh, thu thập chứng cứ, áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời,…đến phiên họp giải quyết tranh chấp, phán quyết trọng tài, thi hành và hủy phán quyết trọng tài Luật mới đã nâng vị thế của Trọng tài lên thông qua việc cho phép Hội đồng trọng tài được thu thập chứng cứ ( Điều 47), triệu tập nhân chứng ( Điều 48), áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời ( Điều 50)…Về thủ tục hoãn phiên họp giải quyết tranh chấp, Luật mới cũng bổ sung quy định về nguyên tắc ra phán quyết trọng tài ( Điều 60) Về thi hành phán quyết trọng tài, pháp luật TTTM khuyến khích các bên tự nguyện thi hành phán quyết của trọng tài ( Điều 65), nếu không tự nguyện thi hành thì các bên được thi hành phán quyết trọng tài có quyền làm đơn yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền thi hành phán quyết trọng tài (Điều 66).Về vấn đề hủy phán quyết trọng tài, Luật mới

đã đưa ra những căn cứ cụ thể để hủy quyết định trọn tài, loại bỏ những căn cứ không rõ của pháp lệnh Luật mới đã giới hạn quyền yêu cầu hủy phán quyết trọng tài ( Điều 69)

Thứ sáu, quy định về tổ chức và hoạt động của Trọng tài nước ngoài tại Việt Nam.

Trước đây Pháp lệnh TTTM 2003 không quy định về vấn đề này Luật mới dành hẳn một chương quy định cụ thể về điều kiện, hình thức hoạt động, việc thành lập chi nhánh, văn phòng đại diện, quyền và nghĩa vụ

- Những việc pháp luật trọng tài Việt Nam đã làm được trong thời gian qua:

Trang 6

Pháp lệnh TTTM 2003 và mới đây là Luật TTTM 2010 là những cột mốc quan trọng đánh dấu những bước ngoặt quan trọng trong lịch sử phát triển của pháp luật trọng tài Việt Nam Và thực tiễn cho thấy những năm vừa qua, việc áp dụng pháp luật về TTTM đã mang đến nhiều thành tưu đáng kể Tiêu biểu như: các tổ chức thương mại đã được thành lập và ngày càng phát triển Hiện nay ở Việt Nam có 7 trung tâm trọng tài kinh tế đang hoạt động (ACIAC, VIAC, HCMCAC, HCAC, CCAC, PIAC VID.ARCE) Đối với Trung tâm trọng tài Việt Nam (VIAC) Nếu như năm 2003, VAIC mới chỉ giải quyết được có 16 vụ, thì tới năm 2004 con số này đã tăng gấp đôi lên 32 vụ, năm 2006 VIAC giải quyết được 36 vụ, năm 2008 con số này tăng lên tới 58 vụ và hết năm 2010 vừa qua, số vụ tranh chấp mà VIAC giải quyết đã lên tới 63 vụ Như vậy, sau 7 năm áp dụng pháp lệnh trọng tài, số vụ tranh chấp được giải quyết bởi VIAC đã tăng gần 4 lần Trong đó VIAC đã giải quyết thành công nhiều vụ tranh chấp nước ngoài Theo số liệu thống kê mới nhất thì cho tới nay VIAC

đã giải quyết tất cả 451 vụ tranh chấp có yếu tố nước ngoài, trong đó Singapore là quốc gia

có nhiều tranh chấp liên quan tới nhất, 62 vụ, chiếm 13,75 % tiếp theo là Hàn Quốc với 57

vụ, chiếm 12,64%

Những hạn chế, vướng mắc từ thực tiễn áp dụng pháp luật về TTTM ở Việt Nam Theo kết quả khảo sát của Bộ Tư pháp về mức độ lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp đối với 237 cá nhân, tổ chức kinh doanh thì 57,8 % ý kiến cho rằng hình thức giải quyết tranh chấp ưu tiên của họ là thương lượng, 46,8 % ý kiến ưu tiên lựa chọn tòa án, 22,8 % ý kiến là sẽ chọn hòa giải; chỉ có 16,9 % ý kiến cho rằng sử dụng TTTM

II Những hạn chế của pháp Luật Trọng tài hiện hành.

1 Hạn chế trong những quy định của pháp luật Trọng tài

Có thể thấy rằng pháp luật Trọng tài đã có những sửa đổi rất lớn, việc ra đời của Luật TTTM năm 2010 thay thế cho Pháp lệnh trọng tài thương mại 2003 đã là một bước tiến dài trong việc quy định của pháp luật về TTTM Tuy nhiên pháp luật trọng tài, đặc biệt là những quy định của Luật TTTM 2010 còn có nhiều hạn chế, gây khó khăn cho việc áp dụng pháp luật trọng tài trên thực tế để giải quyết tranh chấp Đây là một trong những nguyên

nhân cơ bản dẫn đến việc các doanh nghiệp chưa “ mặn mà” lựa chọn phương thức giải

quyết tranh chấp bằng TTTM theo pháp Luật hiện hành Cụ thể nhưng hạn chế trong quy định của pháp luật Trọng tài thể hiện ở những điểm sau:

1.1 Về việc quy định thẩm quyền của Trọng tài

Ta thấy, với quy định trước đây chỉ có tổ chức kinh doanh hoặc cá nhân kinh doanh mới có quyền lựa chọn trọng tài đã gây khó khăn cho các Trọng tài thường trực và các cá

Trang 7

nhân có nguyện vọng lựa chọn trọng tài làm phương thức giải quyết tranh chấp Với quy định của Luật TTTM mới, phạm vi thẩm quyền của trọng tài đã được mở rộng Bất kỳ tổ chức, cá nhân nào đều có thể thỏa thuận lựa chọn trọng tài để giải quyết tranh chấp miễn là lĩnh vực đó phát sinh theo quy định của luật Tuy nhiên, với quy định mở như vậy mà không có hướng dẫn chi tiết các loại tranh chấp được giải quyết bằng TTTM lại là một điểm hạn chế khi áp dụng quy định của Luật vào thực tế Nghị định 163- NĐ/CP ngày 28 tháng 7 năm 2011 đã được ban hành để hướng dẫn một số điều của Luật TTTM 2010 nhưng Nghị định cũng chưa đưa ra được những hướng dẫn cụ thể những tranh chấp nào thuộc phạm vi của trọng tài để hạn chế xung đột về thẩm quyền giữa trọng tài và tòa án

1.2 Về quy định về tiêu chuẩn của Trọng tài viên

Tại điểm c khoản 1 Điều 20 Luật TTTM 2010 quy định : “ Trong trường hợp đặc biệt, chuyên gia có trình độ chuyên môn cao và có nhiều kinh nghiệm thực tiễn, tuy không đáp ứng được yêu cầu nêu tại điểm b khoản này, cũng có thể được chọn làm Trọng tài viên”.Vấn đề ở đây là có nên đưa ra tiêu chuẩn Trọng tài viên khắt khe như hiện nay

không? Mục đích mà các nhà làm luật và tất cả các bên liên quan muốn hướng tới là xây dựng một đội ngũ Trọng tài viên có chuyên môn cao để từ đó đẩy chất lượng hoạt động Trọng tài tốt hơn Các nhà làm Luật hiện thực hóa quy định này bằng những quy định về tiêu chuẩn Trọng tài viên khắt khe Tuy nhiên, việc này đã vô tình vi phạm quyền tự do lựa chọn Trọng tài viên của các bên trong tranh chấp ảnh hưởng đến việc thành lập Hội đồngTrọng tài theo đúng ý chí của các bên

Hơn nữa, dù các nhà làm Luật đã chú ý đến vấn đề này bằng cách thêm khoản 3 vào Điều 20, song vấn đề này sinh là thế nào là trường hợp đặc biệt? Ai sẽ là người xác định trường hợp đặc biệt? Trong khi đó, Trọng tài viên là các cá nhân được các bên tin tưởng giao cho vụ tranh chấp Với vai trò đặc biệt quan trọng nay, các bên phải lựa chọn rất kỹ càng người cầm cân nảy mực đối với vụ việc của mình Uy tín và chất lượng của Trọng tài viên là do các bên tranh chấp thẩm định Việc quy định tiêu chuẩn về chuyên môn đối với Trọng tài viên như vậy là thừa mà lại hạn chế số cá nhân được trở thành Trọng tài viên – đi ngược lại với mong muốn của các bên trong tranh chấp

1.3 Về quy định sự hỗ trợ của Tòa án

Dù Luật hiện hành được đánh giá khá cao về việc xây dựng cơ chế Tòa án hỗ trợ Hội đồng trọng tài trong quá trình làm việc nhưng vẫn còn tồn tại cần được khắc phục Đó là việc pháp luật chưa quy định cụ thể các chế tài để xử lý các cá nhân không thực hiện quyết định của Tòa án về việc thu thập chứng cứ và triệu tập người làm chứng Hai hoạt động này

Trang 8

cho thấy sự hỗ trợ đáng kể của Tòa án với Hội đồng trọng tài vì nếu không có sự giúp sức của các cơ quan công quyền này, Hội đồng trọng tài khó có thể thực hiện trôi chảy công việc của mình Tuy nhiên, sự hỗ trợ của Tòa án lại chỉ dừng lại ở mức có văn bản gửi các cá nhân, tổ chức có liên quan mà chưa quy định chế tài đối với cá nhân, tổ chức này nếu không thực hiện yêu cầu của Tòa án Trong BLTTDS cũng không có quy định về vấn đề này mà

chỉ có quy định về “ thủ tục giải quyết các yêu cầu liên quan đến hoạt động TTTM Việt Nam” Đây còn là một mảng để ngỏ của pháp luật, khiến cho việc giải quyết tranh chấp

trong thực tế có thể gặp khó khăn, bị trì hoãn

1.4 Về quy định tại Điều 6 Luật Trọng tài thương mại 2010

Theo đó, Điều 6 chỉ nêu khái niệm “ thỏa thuận Trọng tài không thể thực hiện được”

nhưng không nêu cụ thể những trường hợp nào để làm rõ khái niệm trên Thiếu sót này đã gây cản trở các bên trong việc áp dụng pháp luật để xác định trường hợp nào thỏa thuận Trọng tài không thể thực hiện được để họ cân nhắc trước khi xây dựng thỏa thuận Trọng tài

Về phía Nghị định 63/2001/NĐ-CP cũng không có bất kỳ hướng dẫn nào liên quan đến vấn

đề này dẫn đến thực tế còn nhiều những cách hiểu khác nhau về quy định này

1.5 Về quy định tại Khoản 8 Điều 71 Luật Trọng tài thương mại 2010.

Khoản 8 Điều 71 quy định: “ Trường hợp Hội đồng xét đơn yêu cầu ra quyết định hủy phán quyết Trọng tài, các bên có thể thỏa thuận lại để đưa vụ tranh chấp đó ra giải quyết tại Trọng tài hoặc một bên có quyền khởi kiện tại Tòa án Trường hợp Hội đồng xét đơn yêu cầu không hủy phán quyết Trọng tài thì phán quyết Trọng tài được thi hành” Điều

này dẫn đến một thực tế là thông thường các bên sẽ chọn Tòa án để tiếp tục giải quyết tranh chấp, bởi sau khi phán quyết Trọng tài bị hủy, các bên rất khó cùng nhau xây dựng lại một thỏa thuận khác Lúc này, các doanh nghiệp phải xem xét, tính toán chi phí, thời gian tiếp tục theo kiện Để tránh tình huống trên xảy ra, các bên quyết định đưa vụ kiện thẳng đế tòa

án ngay từ đầu do phán quyết của tòa án luôn được đảm bảo thi hành hơn bởi sự cưỡng chế của nhà nước, một trong các bên không thể yêu cầu tuyên hủy phán quyết của tòa Như vậy, không khác nào doanh nghiệp phải đi đường vòng để giải quyết một vụ tranh chấp đưa ra TTTM nhưng cuối cùng vẫn phải đến Tòa án giải quyết Sau khi phán quyết Trọng tài bị tuyên hủy, giả sử các bên thỏa thuận đưa vụ việc giải quyết bằng Trọng tài lần thứ hai thì vẫn không khác gì một vụ tranh chấp được giải quyết theo trình tự lặp đi lặp lại làm tốn kém thời gian, chi phí gấp hai lần so với việc đưa vụ việc đến Tòa ngay từ đầu

Trang 9

1.6 Về quy định tại Khoản 3 Điều 50 Luật Trọng tài thương mại 2010

Khoản 3 Điều 50 Luật TTTM 2010 quy định: “ Theo quyết định của Hội đồng trọng tài, bên yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phải gửi một khoản tiền, kim khí quý,

đá quý hoặc giấy tờ có giá do Hội đồng Trọng tài ấn định tương ứng với giá trị thiệt hại có thể phát sinh do áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng gây ra để bảo vệ lợi ích của bên bị yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời…” Song Luật chưa tiên liệu được

trường hợp một doanh nghiệp nhỏ đưa đơn yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời nhằm bảo toàn khối tài sản lớn trong hợp đồng Theo luật, doanh nghiệp này phải huy động một nguồn tài chính khá lớn tương ứng với giá trị thiệt hại có thể phát sinh Trong một thời gian ngắn, việc phải xoay sở khoản tài chính lớn là quá sức đối với doanh nghiệp này Do

đó có thể họ sẽ không đủ điểu kiện đưa yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời như Luật định Phải chăng đây chính là sự mâu thuẫn trong quy định pháp luật bởi luật đặt ra để bảo vệ quyền lợi của đương sự nhưng cũng đồng thời hạn chế không cho họ có điều kiện bảo vệ quyền lợi của mình

1.7 Về quy định tại Điều 67 Luật Trọng tài thương mại 2010

Điều 67 chỉ quy định việc thi hành phán quyết của TTTM được thực hiện theo pháp luật về thi hành án dân sự Tuy nhiên, do đặc thù của hoạt động TTTM là giải quyết các tranh chấp thương mại nên thủ tục thi hành không thể đơn thuần như các vụ việc dân sự thông thường mà cần đảm bảo tính nhanh gọn Vì vậy quy định này dường như đã làm phức tạp hơn quá trình áp dụng phương thức giải quyết trọng tài thương mại, vốn được coi là phương thức nhanh gọn

1.8 Về biện pháp khẩn cấp tạm thời.

Luật TTTM 2010 đã trao quyền được áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời cho Hội đồng Trọng tài, theo đó hội đồng Trọng tài được áp dụng 6 biện pháp khẩn cấp tạm thời

Tuy nhiên, Luật trao quyền nhưng lại “ quên” không quy định việc thi hành các quyết định

áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, quyết định thay đổi, áp dụng, bổ sung, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời của hội đồng Trọng tài Luật cũng đã quy định cho Hội đồng trọng tài được áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời nhưng do không phải là một cơ quan quyền lực, việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Hội đồng trọng tài có thể gặp nhiều khó khăn trên thực tế

1.9 Về quy định lưu trữ hồ sơ Trọng tài

Điều 64 Luật TTTM quy định như sau: “Hồ sơ vụ tranh chấp do Trọng tài viênụ việc giải quyết được các bên hoặc các Trọng tài viêniên lưu trữ;… lưu trữ hồ sơ Trọng tài trong

Trang 10

thời gian là 05 năm”, nhưng với quy định các bên hoặc các Trọng tài viên lưu trữ là hết sức chung chung Bởi “các bên” hay “Trọng tài viên” sẽ lưu trữ? Nếu cả “các bên” và “Trọng tài viên” không thực hiện việc lưu trữ thì sao? Nếu cơ quan Tòa án có thẩm quyền cần xem

xét hồ sơ vụ kiện thì bên nào cung cấp? Nếu như không cung cấp cho Tòa án, thì việc chế tài sẽ như thế nào?

Ngoài ra, Luật TTTM 2010 mới ban hành mang tên Luật TTTM nhưng trong quy

định về thẩm quyền giải quyết tranh chấp của Trọng tài, TTTM hoàn toàn có quyền giải quyết các vụ tranh chấp trong lĩnh vực dân sự, lao động, như vậy, việc đặt tên Luật TTTM

2010 liệu có thể hiện hết thẩm quyền giải quyết tranh chấp của TTTM trong lĩnh vực này không? Đây là câu hỏi cần có sự giải đáp của các nhà làm luật

2 Những hạn chế khi áp dụng pháp luật Trọng tài vào thực tế để giải quyết tranh chấp.

Thứ nhất, ta thấy phần lớn các tranh chấp giải quyết bằng Trọng tài ở Việt Nam tính

đến thời điểm hiện tại chủ yếu là các tranh chấp có yếu tố nước ngoài Các nhà đầu tư nước ngoài phải bỏ ra chi phí không nhỏ để thuê Luật sư, chuyên gia am hiểu về lĩnh vực tranh chấp và pháp luật Việt Nam Hơn nữa, kết quả giải quyết tranh chấp căn cứ pháp luật Việt Nam cũng khó để các bên công nhận dẫn đến hệ quả họ có thể kiện các cơ quan tài phán quốc tế Điều này làm ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế Việt Nam nói chung và quan hệ giao thương của các doanh nhân Việt Nam nói riêng

Thứ hai, Trọng tài là tổ chức phi Chính phủ nên phán quyết Trọng tài đưa ra không

nhân danh Nhà nước Điều này dễ dẫn đến lỗ hổng trong sự vô tư của Trọng tài viên khi ra

phán quyết Các nhà kinh doanh chưa tin tưởng lựa chọn Trọng tài viên bởi “ họ chưa tin tưởng vào tính độc lập, vô tư, khách quan của các Trọng tài viên Trong trường hợp vì lý

do nào đó mà Trọng tài viên xét xử sai, không khách quan thì họ không biết dựa vào cơ chế nào để bảo vệ lợi ích của mình ngoài việc không thi hành phán quyết đó và khởi kiện vụ án lại từ đầu tại Tòa kinh tế”.

Thứ ba, theo pháp luật Việt Nam, nếu như phán quyết Trọng tài trong nước thi hành

ngay mà không buộc phải thông qua thủ tục công nhận tại Tòa án thì phán quyết Trọng tài nước nước ngoài muốn thi hành tại Việt Nam buộc phải thông qua thủ tục công nhận mới được cơ quan thi hành án cưỡng chế thi hành tại Việt Nam Quy định này đã đặt phán quyết của Trọng tài nước ngoài và Trọng tài trong nước ở hai vị thế bất bình đẳng Mặc dù Việt Nam đã gia nhập Công ước New York 1958 nhưng trên thực tế, các cấp tòa án Việt Nam vẫn chưa xem xét thuận lợi việc công nhận pháp quyết Trọng tài nước ngoài Trên thực tế,

có những trường hợp bị đơn phải trả tiền bồi thường thiệt hại cho nguyên đơn nước ngoài

Ngày đăng: 30/01/2016, 01:24

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w