1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phân tích quy định của pháp luật đối với hoạt động góp vốn thành lập doanh nghiệp tại Việt Nam

15 491 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 138 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tổ chức, cá nhân sau đây không được quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam: a Cơ quan nhà nước, đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam sử dụng tài sản nhà nước để thàn

Trang 1

A Đặt vấn đề:

Vốn là một yếu tố cực kỳ quan trọng trong việc thành lập bất kỳ một loại hình doanh nghiệp nào Nó góp phần quyết định sự tồn tại và phát triển của bất kỳ doanh nghiệp nào Không chỉ vậy, nó còn là cơ sở để quyết định khả năng gánh chịu những nghĩa vụ pháp lý của doanh nghiệp, quyết định phần quyền mà các chủ đầu tư và chủ sở hữu doanh nghiệp được hưởng cũng như phần nghĩa vụ mà họ phải gánh chịu khi tham gia đầu tư hoặc thành lập ra doanh nghiệp đó Với ý nghĩa như vậy nên em xin chọn làm

đề tài cho bài tập lớn của mình là: “Phân tích quy định của pháp luật đối với hoạt động góp vốn thành lập doanh nghiệp tại Việt Nam”

Do kiến thức bản thân còn nhiều hạn chế, hơn nữa nguồn tài liệu tham khảo còn hạn chế, nên bài viết của em chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót Kính mong thầy cô thông cảm và góp ý để bài viết của em được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

B Giải quyết vấn đề:

I Cơ sở lí luận về hoạt động góp vốn thành lập doanh nghiệp tại Việt Nam:

1 Khái niệm doanh nghiệp:

Theo khoản 1 Điều 4 Luật doanh nghiệp 2005 quy đinh: “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng kí kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh”.

2 Khái niệm vốn góp:

Vốn góp là toàn bộ lượng tiền, tài sản và quyền tài sản trị giá được thành tiền cũng như những tài sản khác không trị giá được thành tiền mà các chủ thể kinh doanh thỏa thuận đóng góp để phục vụ sản xuất, kinh doanh sẽ vận động và chuyển hóa hình thái, biểu hiện trong quá trình sản xuất kinh doanh

3 Khái niệm hành vi góp vốn:

Theo Khoản 4, Điều 4, Luật Doanh nghiệp 2005 có quy định: “Góp vốn là việc đưa tài sản vào công ty để trở thành chủ sở hữu hoặc các chủ sỡ hữu chung của công ty Tài sản góp vốn có thể là tiền Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng, giá trị quyền

sử dụng đất, giá trị quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết kỹ thuật, các tài sản khác ghi trong Điều lệ công ty do thành viên góp để tạo thành vốn của công ty.”

Trang 2

Có thể hiểu hành vi góp vốn vào công ty là việc một cá nhân hay tổ chức chuyển dịch tài sản của mình (biểu hiện bằng vật có thực, tiền, tài sản giá trị bằng tiền và và các quyền tài sản) theo một trình tự, thủ tục nhất định vào công ty và theo đó được hưởng các quyền và các nghĩa vụ phát sinh từ việc góp vốn

4 Vai trò của vốn góp đối với doanh nghiệp:

Vốn góp để thành lập doanh nghiệp là nguồn vốn chủ yếu của mỗi doanh nghiệp trong giai đoạn hình thành Vai trò vốn góp của mỗi doanh nghiệp thể hiện ở các khía cạnh sau đây:

Thứ nhất, trong mọi trường hợp, vốn góp là điều kiện để thành lập công ty Mặc

dù Luật doanh nghiệp 2005 không coi vốn pháp định là điều kiện bắt buộc khi thành lập bất cứ một doanh nghiệp nào, song đối với một số ngành có vị trí đặc biệt quan trọng đối với an ninh, kinh tế, xã hội, yêu cầu về vốn pháp định vẫn phải tuân thủ khi thành lập công ty Và để thành lập công ty, các thành viên sáng lập phải góp ít nhất bằng số vốn pháp luật quy định Các trường hợp khác, pháp luật không giới hạn quy mô, song chủ đầu tư vẫn phải kê khai thông tin về vốn góp mới có thể thành lập được doanh nghiệp

Thứ hai, vốn góp là cơ sở vật chất, là tài chính quan trọng nhất giúp doanh nghiệp

sau khi ra đời có thể hoạt động được Khi công ty mới thành lập, việc huy động vốn thông qua các hình thức khác như vay tín dụng thường rất khó khăn, cần phải có uy tín lớn hoặc sự bảo lãnh của một chủ thể khác Vậy nên, góp vốn là nguồn kinh phí duy nhất chi trả cho các hoạt động và dịch vụ mà công ty sử dụng

Thứ ba, vốn góp thể hiện tiềm lực phát triển của công ty và là cơ sở đảm bảo các

khoản vay vốn ngân hàng và các khoản thanh toán với các chủ thể khác

Như vậy, vai trò của vốn góp đối với công ty ở giai đoạn mới thành lập là vô cùng quan trọng, có thể quyết định tới sự sống còn của công ty Do đó mà pháp luật đã có những quy định chặt chẽ điều chỉnh quan hệ góp vốn thành lập doanh nghiệp

5 Đối tượng có quyền góp vốn vào doanh nghiệp theo pháp luật hiện hành:

Theo quy định tại Điều 13 Luật Doanh nghiệp 2005, những đối tượng có quyền góp vốn là :

“Quyền thành lập, góp vốn, mua cổ phần và quản lý doanh nghiệp

Trang 3

1 Tổ chức, cá nhân Việt Nam, tổ chức, cá nhân nước ngoài có quyền thành lập

và quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam theo quy định của Luật này, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.

2 Tổ chức, cá nhân sau đây không được quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam:

a) Cơ quan nhà nước, đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam sử dụng tài sản nhà nước để thành lập doanh nghiệp kinh doanh thu lợi riêng cho cơ quan, đơn vị mình;

b) Cán bộ, công chức theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức;

c) Sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng trong các cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân Việt Nam; sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp trong các cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân Việt Nam;

d) Cán bộ lãnh đạo, quản lý nghiệp vụ trong các doanh nghiệp 100% vốn sở hữu nhà nước, trừ những người được cử làm đại diện theo uỷ quyền để quản lý phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp khác;

đ) Người chưa thành niên; người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc bị mất năng lực hành vi dân sự;

e) Người đang chấp hành hình phạt tù hoặc đang bị Toà án cấm hành nghề kinh doanh;

g) Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật về phá sản.

3 Tổ chức, cá nhân có quyền mua cổ phần của công ty cổ phần, góp vốn vào công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh theo quy định của Luật này, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều này.

4 Tổ chức, cá nhân sau đây không được mua cổ phần của công ty cổ phần, góp vốn vào công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh theo quy định của Luật này:

a) Cơ quan nhà nước, đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam sử dụng tài sản nhà nước góp vốn vào doanh nghiệp để thu lợi riêng cho cơ quan, đơn vị mình;

b) Các đối tượng không được góp vốn vào doanh nghiệp theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức.”

Theo Khoản 3 Điều 13 LDN 2005 thì tổ chức, cá nhân có quyền mua cổ phần của công ty cổ phần, góp vốn vào công ty TNHH, công ty hợp danh, trừ các trường hợp sau:

Trang 4

- Cơ quan nhà nước, đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân sử dụng tài sản của nhà nước góp vốn vào doanh nghiệp để thu lợi riêng cho cơ quan mình

- “Người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan, vợ hoặc chồng của những người đó không được góp vốn vào doanh nghiệp hoạt động trong phạm vi ngành, nghề mà người đó trực tiếp thực hiện việc quản lý nhà nước” (Khoản 2 Điều 37 Luật

phòng chống tham nhũng 2005) Quy định này nhằm ngăn chặn hiện tượng cạnh tranh không lành mạnh

Như vậy, nếu cá nhân hay tổ chức có đủ điều kiện về vốn góp và không rơi vào các trường hợp mà pháp luật cấm thì có thể tham gia góp vốn thành lập doanh nghiệp

6 Các hoạt động góp vốn thành lập doanh nghiệp:

Hoạt động góp vốn vào doanh nghiệp bao gồm những thủ tục sau đây:

- Định giá (nếu tài sản góp vốn bằng hiện vật)

- Lập bản cam kết góp vốn :ghi rõ lộ trình vốn góp, tổng số vốn góp, và tiến hành định giá tài sản vốn góp theo quy định tại Điều 30 Luật Doanh nghiệp

- Chuyển quyền sở hữu tài sản vốn góp theo quy định tại Điều 29 Luật Doanh nghiệp

- Sau khi đã góp vốn đủ vốn cam kết, nhà đầu tư được cấp giấy chứng nhận phần vốn góp

II Quy định của pháp luật đối đối với hoạt động góp vốn thành lập doanh nghiệp tại Việt Nam :

1 Những quy định của pháp luật về hoạt động định giá vốn góp:

Góp vốn để thành lập doạnh nghiệp là một trong những điều đầu tiền cần làm khi muốn thành lập lập một doạnh nghiệp Vấn đề ở đây là nhiều người tham gia góp vốn bằng tài sản khác những tài sản thông dụng để góp vốn Do đó, cần phải có những quy định cụ thể thể về vấn đề định giá các tài khác một cách cụ thể Điều 30 Luật Doanh nghiệp 2005 quy định về định giá tài sản góp vốn như sau:

“1 Tài sản góp vốn không phải là tiền Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng phải được các thành viên, cổ đông sáng lập hoặc tổ chức định giá chuyên nghiệp định giá.

2 Tài sản khi góp vốn thành lập doanh nghiệp phải được các thành viên hoặc cổ đông sáng lập định giá theo nguyên tắc nhất trí; nếu tài sản góp vốn được định giá cao

Trang 5

hơn so với giá trị thực tế tại thời đểm góp vốn thì các thành viên, cổ đông sáng lập liên đới chịu trách nhiệm đối với các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ti bằng số chênh lệch giữa giá trị được định và giá trị thực tế của tài sản góp vốn tại thời điểm kết thúc định giá.

3 Tài sản góp vốn trong quá trình hoạt động do doanh nghiệp và người góp vốn thỏa thuận định giá hoặc do một tổ chức định giá chuyên nghiệp định giá Trường hợp

tổ chức định giá chuyên nghiệp định giá thì giá trị tài sản góp vốn phải được người góp vốn và doanh nghiệp chấp thuận; nếu tài sản góp vốn được định giá cao hơn giá trị thực tế tại thời điểm góp vốn thì người góp vốn hoặc tổ chức định giá và người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp cùng liên đới chịu trách nhiệm đối với khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ti bằng số chênh lệch giữa giá trị được định và giá trị thực tế của tài sản góp vốn tại thời điểm kết thúc định giá.”

Theo quy định trên ta thấy việc định giá tài sản góp vốn có những nội dung chính sau:

1.1 Đối tượng định giá tài sản góp vốn

Theo Khoản 1 Điều này, những đối tượng là tài sản cần được định giá đó là: “1 Tài sản góp vốn không phải là tiền Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng phải được các thành viên, cổ đông sáng lập hoặc tổ chức định giá chuyên nghiệp định giá.”

Như vậy, ngoài các tài sản góp vốn là tiền Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng thì các loại tài sản khác đều phải được định giá để xác định phần vốn góp của mỗi thành viên

Theo quan điểm của em, quy định này của Luật Doanh nghiệp về đối tượng tài sản cần được định giá là rất cần thiết, bởi quy định như vậy một sẽ tránh được trường hợp tùy tiện của người góp vốn, một mặt, bảo vệ được sự công bằng, hợp lý trong Doanh nghiệp

1.2 Về nguyên tắc định giá và phương pháp định giá

* Về nguyên tắc định giá:

Khoản 2, Điều 30 quy định: “Tài sản khi góp vốn thành lập doanh nghiệp phải được các thành viên hoặc cổ đông sáng lập định giá theo nguyên tắc nhất trí ”

Như vậy, theo pháp luật hiện hành, tài sản khi được góp vốn khi định giá phải được các thành viên hoặc cổ đông sáng lập thành văn bản và thông qua theo nguyên tắc

Trang 6

nhất trí So với Luật Doanh Nghiệp 1999, ta thấy có sự khác nhau cơ bản, đó là Điều 30 Luật doanh nghiệp 2005 quy định về các nguyên tắc định giá tài sản góp vốn dựa trên nguyên tắc nhất trí của các người góp vốn, không có sự can thiệp của cơ quan quản lý nhà nước như Luật doanh nghiệp 1999 với mục tiêu giảm chi phí cho nhà đầu tư khi thành lập doanh nghiệp nói chung

* Về phương pháp định giá:

Luật quy định việc định giá là hoàn do các nhà đầu tư và doanh nghiệp tiến hành

và tự chịu trách nhiệm về tính trung thực, chính xác về việc định giá đó Việc định giá này không bắt buộc phải có xác nhận của cơ quan nhà nước hoặc công chứng

Đối với vốn góp là tài sản thông thường như vật, giấy tờ có giá, giá trị quyền sử dụng đất thì việc định giá tiến hành dựa trên sự thỏa thuận của các thành viên và giá của tài sản theo giá thị trường tại thời điểm định giá Mẫu biên bản định giá được đính kèm tại mục lục A (xem Phụ Lục)

Đối với tài sản góp vốn là giá trị quyền sở hữu trí tuệ như quyền sở hữu công nghiệp( Thương hiệu, nhãn hiệu hàng hóa…) việc định giá được tiến hành theo hướng dẫn của Bộ tài chính

1.3 Thẩm quyền định giá

* Quy định của Luật doanh nghiệp 2005 về những người có thẩm quyền định giá tài sản góp vốn:

Luật Doanh nghiệp quy định người thực hiện việc định giá tài sản góp vốn là các thành viên, cổ đông sáng lập hoặc tổ chức định giá chuyên nghiệp định giá:

- Tài sản góp vốn khi thành lập doanh nghiệp phải được thành viên, cổ đông sáng lập định giá theo nguyên tắc nhất trí

- Tài sản góp vốn trong quá trình hoạt động do doanh nghiệp và người góp vốn thỏa thuận định giá hoặc do một tổ chức chuyên nghiệp định giá Trường hợp tổ chức chuyên nghiệp định giá thì giá trị tài sản góp vốn phải được người góp vốn và doanh nghiệp chấp thuận

Như vậy, ta có thể thấy, có hai thời điểm đó là khi thành lập doanh nghiệp và thời điểm trong quá trình hoạt động doanh nghiệp Khi thành lập doanh nghiệp chỉ có các thành viên, cổ đông sáng lập định giá, nhưng trong quá trình hoạt động, để đảm bảo việc định giá đúng giá trị tài sản góp vốn, các bên cũng có thể thỏa thuận thuê một tổ chức

Trang 7

định giá chuyên nghiệp để xác định giá Tuy nhiên, giá do tổ chức chuyên nghiệp định giá chỉ mang tính chất tham khảo; mà việc quyết định giá là do các bên góp vốn quyết định và thỏa thuận

* Nhận xét về quy định trên của Luật Doanh nghiệp:

Quy định trên về cơ bản là phù hợp nhưng tồn tại hai vấn đề đó là:

Thứ nhất, theo khoản 2 điều 30 luật Doanh nghiệp, thì các sáng lập viên không thể thuê tổ chức định giá chuyên nghiệp thực hiện việc định giá, nếu ta tính đến trường hợp khi góp vốn thành lập doanh nghiệp mà gặp trục trặc gì đó trong việc định giá tài sản Phải chăng đây là sự bó buộc, là sự hạn chế, hay chẳng qua chỉ là luật Doanh nghiệp

“quên” không tính đến trường hợp này?

Thứ hai, trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp, việc quy định doanh nghiệp

và người góp vốn thỏa thuận định giá tuy là quy định phù hợp nhưng đại diện cho doanh nghiệp để thực hiện quyền hạn này là ai thì luật doanh nghiệp 2005 không có quy định

cụ thể Mà bản chất của quan hệ góp vốn là sự “hùn vốn” giữa các thành viên với nhau

và nó dẫn tới sự chi phối, chia sẻ lợi ích giữa những người cùng cùng góp vốn Do vậy, thay mặt doanh nghiệp thực hiện việc định giá phần vốn góp của thành viên mới sẽ không thể là giám đốc, chủ tịch hội đồng thành viên hay phòng ban nghiệp vụ nào đó của công ti mà phải do một cơ quan đại diện cho các thành viên công ti thực hiện

* Phương hướng giải quyết những bất cập về việc quy định người có thẩm quyền định giá:

Qua những phân tích trên, em nghĩ quy định của Luật Doanh nghiệp 2005 về người có thẩm quyền định giá tài sản vốn góp như vậy là chưa được phù hợp Theo quan điểm của em, quy định này cần thay đổi như sau:

Thứ nhất, không chia thành các thời điểm định giá, không phụ thuộc vào thời

điểm đó mà quyết định những người có thẩm quyền định giá

Thứ hai, có thể cho phép việc định giá tài sản góp vốn khi thành lập doanh nghiệp

có thể do tổ chức định giá chuyên nghiệp tiến hành định giá

Ngoài ra, cần bổ sung quy định thẩm quyền định giá tài sản vốn góp của thành viên mới khi công ti đang hoạt động cho hội đồng thành viên( nếu góp vốn vào công ti trách nhiệm hữu hạn, công ti hợp danh) và đại hội đồng cổ đông (nếu góp vốn vào công

ti cổ phần)

Trang 8

1.4 Xử lý trường hợp định giá phạm vào điều cấm của pháp luật.

Điều 11, Luật Doanh nghiệp quy định các hành vi bị cấm, trong đó nghiêm cấm trường hợp cố ý định giá tài sản góp vốn không đúng giá trị thực tế (Khoản 4) Theo như thực tế, rất ít có trường hợp định giá tài sản thấp hơn so với thực tế, vì thế, ta sẽ chủ yếu quan tâm đến việc xử lý trong trường hợp định giá cao hơn so với giá trị thực Điều

30 luật doanh nghiệp 2005 quy định cách thức xử lí theo hai trường hợp: người định giá

là thành viên sáng lập và người định giá là tổ chức định giá chuyên nghiệp Cụ thể như sau:

Một là, đối với tài sản góp vốn được các thành viên, cổ đông sáng lập định giá Nếu tài sản định giá cao hơn so với giá trị thực tế tại thời điểm góp vốn thì các thành viên, cổ đông sáng lập liên đới chịu trách nhiệm đối với các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ti bằng số chênh lệch giữa giá trị được định giá và giá trị thực tế của tài sản định giá tại thời điểm kết thúc định giá

Hai là, đối với trường hợp tổ chức định giá chuyên nghiệp định giá Nếu tài sản góp vốn được định giá cao hơn giá trị thực tế tại thời điểm góp vốn thì người góp vốn hoặc tổ chức định giá và người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp cùng liên đới chịu trách nhiệm đối với các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ti bằng số chênh lệch giữa giá trị được định giá và giá trị thực tế của tài sản góp vốn tại thời điểm kết thúc định giá

* Nhận xét về quy định trên của Luật Doanh nghiệp:

Quy định này trên còn tồn tại những hạn chế nhất định đó là:

Thứ nhất, luật doanh nghiệp năm 2005 không quy định rõ về phía doanh nghiệp, việc định giá do hội đồng thành viên (hoặc đại hội đồng cổ đông đối với công ti cổ phần), chủ tịch hội đồng thành viên ( chủ tịch đại hội đồng cổ đông hoặc chủ tịch hội đồng quản trị đối với công ti cổ phần) hay giám đốc thực hiện mà lại xác định người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp cùng liên đới chịu trách nhiệm Theo quan điểm của em, quy định như vậy là chưa được hợp lý và cụ thể, cần phải quy định rõ về phía doanh nghiệp ai là người thực hiện Mặc dù ta biết người đại diện theo pháp luật của công ty là do điều lệ công ty quy định, là đại diện của công ty một mặt sẽ có những thuận lợi nhất định, nhưng việc quy định đại diện theo pháp luật của công ty liên đới chịu trách nhiệm thì liệu có xảy ra tranh chấp hay đùn đẩy nhau trong việc này? Việc

Trang 9

quy định liên đới chịu trách nhiệm là hợp lý hay không khi doanh nghiệp chỉ có 1 người làm đại diện?

Thứ hai, việc quy định mức chịu trách nhiệm “bằng số chênh lệch giữa giá trị được định giá và giá trị thực tế của tài sản góp vốn tại thời điểm kết thúc định giá” là

hợp lí song vấn đề đặt ra là thời điểm nào phải thực thi phần trách nhiệm này? Khi điều

30 luật doanh nghiệp quy định nghĩa vụ “ liên đới chịu trách nhiệm đối với các khoản

nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ti” thì dường như quy định xác định trách nhiệm

của người định giá sai tài sản góp vốn trở nên vô nghĩa, bởi vì khi công ti đang hoạt động, công ti sẽ dùng tài sản thuộc sở hữu của công ti để trả nợ Việc sử dụng các nguồn tài sản khác (nếu có) để trả nợ phát sinh từ hoạt động kinh doanh của công ti chỉ đặt ra khi công ti mất khả năng thanh toán hoặc chấm dứt hoạt động Khi đó trách nhiệm của người định giá sai có còn nhớ đến để yêu cầu thực hiện? Quy định hiện hành của luật doanh nghiệp có ưu điểm là đảm bảo lợi ích hợp pháp của chủ nợ không bị xâm phạm bởi vì hành vi vi phạm pháp luật của người định giá tài sản góp vốn song hiệu quả thực thi còn chưa cao

* Phương hướng giải quyết những hạn chế trên:

Khi nhà nước tôn trọng quyền tự do kinh doanh của nhà đầu tư bằng việc cho phép họ được chủ động định giá tài sản góp vốn, được tự khai báo và tự chịu trách nhiệm về tính trung thực của mức vốn góp của thành viên và mức vốn điều lệ của công

ti thì ngược lại nhà nước được quyền đòi hỏi trách nhiệm của nhà đầu tư trước nhà nước

về các thông tin được khai báo trong hồ sơ đăng kí kinh doanh Xuất phát từ điều này, vấn đề không chỉ là xử phạt vi phạm hành chính mà còn yêu cầu khắc phục hậu quả ngay ở thời điểm phát hiện vi phạm Do đó, luật doanh nghiệp cần quy định nghĩa vụ

“liên đới chịu trách nhiệm đối với các khoản nợ và tài sản khác của công ti bằng số chênh lệch giữa giá trị được định giá và giá trị thực tế của tài sản góp vốn tại thời điểm kết thúc định giá” phải được thực hiện ngay ở thời điểm phát hiện vi phạm Nếu sửa đổi

theo hướng này sẽ vừa thực hiện được mục đích bảo vệ quyền lợi của chủ nợ vừa đảm bảo thực hiện hiệu quả nguyên tắc “hậu kiểm”, nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật về đăng kí kinh doanh

1.5 Ý nghĩa của việc định giá tài sản vốn góp:

Trang 10

Việc định giá tài sản vốn góp có những ý nghĩa nhất định như bằng việc góp vốn, người góp vốn được nhận phần vốn góp có giá trị tương ứng với giá trị tài sản góp vốn Việc góp vốn nhiều hay ít sẽ quyết định đến quyền năng của chủ sở hữu Đặc biệt là trong công ty cổ phần Tuy nhiên, riêng đối với chủ nợ của pháp nhân công ty, tài sản khi được đem góp vốn sẽ thuộc về sản nghiệp của công ty, nằm trong khối tài sản có của công ty và được dùng để đảm bảo cho các khoản nợ của công ty Nếu tài sản được định giá cao hơn so với giá trị thực tế, các chủ nợ sẽ bị thiệt hại do giá trị của tài sản đảm bảo không tương xứng với giá trị của nghĩa vụ mà công ty phải thực hiện

2 Những vấn đề về hoạt động chuyển quyền sở hữu tài sản góp vốn vào công ty:

2.1 Những quy định của Luật Doanh nghiệp 2005 về việc chuyển quyền sở hữu tài sản góp vốn vào công ty:

Điều 29 luật doanh nghiệp 2005 quy định về chuyển quyền sở hữu tài sản góp vốn vào công ty như sau:

“1 Thành viên công ti trách nhiệm hữu hạn, công ti hợp danh và cổ đông công ti

cổ phần phải chuyển quyền sở hữu tài sản góp vốn cho công ti theo quy định sau đây:

a ) Đối với tài sản có đăng ký hoặc giá trị quyền sử dụng đất thì người góp vốn phải làm thủ tục chuyển quyền sở hữu tài sản đó hoặc quyền sử dụng đất công ti tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Việc chuyển quyền sở hữu đối với tài sản góp vốn không phải chịu lệ phí trước bạ;

b) Đối với tài sản không phải đăng kí quyền sở hữu, việc góp vốn phải được thực hiện bằng việc giao nhận tài sản góp vốn có xác nhận bằng biên bản.

Biên bản giao nhận phải ghi rõ tên và địa chỉ trụ sở chính của công ti; họ,tên, địa chỉ thường chú, số chứng minh nhân dân, hộ chiếu hoặc chứng thực cá nhân hợp pháp khác, số quyết định thành lập hoặc đăng kí của người góp vốn; loại tài sản và số đơn vị tài sản góp vốn, tổng giá trị tài sản góp vốn và tỉ lệ của tổng giá trị tài sản đó trong vốn điều lệ của công ti, ngày giao nhận; chữ kí của người góp vốn hoặc đại diện theo ủy quyền của người góp vốn và người đại diện theo pháp luật của công ti.

c) Cổ phần hoặc phần vốn góp bằng tài sản không phải là tiền Việt Nam, ngoại tệ

tự do chuyển đổi, vàng chỉ được coi là thanh toán xong khi chuyển quyền sở hữu hợp pháp đối với tài sản góp vốn đã chuyển sang công ti.

Ngày đăng: 30/01/2016, 01:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w