LỜI MỞ ĐẦUTrong các loại thuế gián thu, thuế giá trị gia tăng được coi là có phương pháp thu tiến bộ nhất hiện nay, được đánh giá cao do đạt được các mục tiêu lớn cuả chính sách thuế, nh
Trang 1MỤC LỤC
I Những nội dung cơ bản của pháp luật thuế giá trị gia tăng 1
1 Khái niệm và vai trò của thuế giá trị gia tăng 1
2 Một số nội dung các quy định của pháp luật về thuế giá trị gia tăng 4
II Các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực thi pháp luật thuế giá trị gia tăng ở Việt Nam hiện nay 6
1 Sự hoàn thiện của hệ thống pháp luật thuế giá trị gia tăng 6
2 Chế độ hóa đơn, chứng từ 7
3 Trình độ và ý thức pháp luật của cán bộ thuế 8
4 Ý thức pháp luật của đối tượng nộp thuế 9
5 Sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng, đoàn thể, tổ chức 9
6 Phương tiện, kĩ thuật trong hoạt động quản lí thuế 10
III Một số đề xuất nhằm thực thi tốt pháp luật thuế giá trị gia tăng 10
1 Biện pháp tuyên truyền hướng dẫn 10
2 Biện pháp kiểm tra giám sát 11
3 Đào tạo đội ngũ cán bộ thuế, cán bộ hải quan có đạo đức và trình độ nghiệp vụ 12
4 Sửa đổi, bổ sung ban hành một số luật có liên quan 12
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
Trong các loại thuế gián thu, thuế giá trị gia tăng được coi là có phương pháp thu tiến bộ nhất hiện nay, được đánh giá cao do đạt được các mục tiêu lớn cuả chính sách thuế, như tạo được nguồn thu lớn cho ngân sách nhà nước, đơn giản, trung lập Tuy nhiên, trong thời gian đầu áp dụng thuế giá trị gia tăng đã phát sinh một số khó khăn, vướng mắc và Nhà nước ta đã từng bước tháo gỡ những khó khăn đó trong quá trình thực hiện Luật thuế giá trị gia tăng Do đó, việc tìm hiểu về những yếu tố ảnh hưởng đến việc thực thi pháp luật thuế giá trị gia tăng là vô cùng cần thiết, đó cũng là lý do em chọn đề tài “Phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến việc thực thi pháp luật thuế giá trị gia tăng ở Việt Nam hiện nay và đề xuất ý kiến pháp lý nhằm thực thi tốt pháp luật thuế giá trị gia tăng”
PHẦN NỘI DUNG
I Những nội dung cơ bản của pháp luật thuế giá trị gia tăng
1 Khái niệm và vai trò của thuế giá trị gia tăng
a Khái niệm
Tại Điều 2, Luật thuế giá trị gia tăng 2008 (Luật thuế GTGT 2008) quy
định “Thuế GTGT là thuế tính trên giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát
sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng” Theo đó, thuế GTGT
là thuế đánh vào hàng hóa, dịch vụ sử dụng cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng chứ không đánh trực tiếp vào thu nhập cá nhân hay doanh nghiệp Nhưng
do thuế được cộng vào phần với phần hàng hóa, dịch vụ làm giá thanh toán nên người tiêu dùng sẽ phải chịu khoản thuế này Với cùng một mức thu nhập nhưng nếu chưa có thuế GTGT thì người tiêu dùng sẽ được mua được lương hàng hóa, dịch vụ nhiều hơn so với khi áp dụng loại thuế này, do đó, nó đã gián tiếp đánh vào thu nhập của người tiêu dùng Người tiêu dùng sẽ không phải trực tiếp nộp khoản thuế này cho các cơ quan thuế mà người bán sẽ nộp bởi trong quá trình
Trang 3thanh toán tiền bán hàng đã bao gồm cả thuế GTGT Đây chính là bản chất của thuế GTGT chỉ đánh gián tiếp vào thu nhập của dân cư chứ nó không mang tính trực thu như thuế thu nhập doanh nghiệp hay thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao
b Vai trò của pháp luật thuế giá trị gia tăng
Mọi loại thuế do Nhà nước ban hành ra đều có những vai trò nhất định của nó, có thể kể đến một số vai trò của thuế GTGT như:
- Thuế giá trị gia tăng thuộc loại thuế gián thu và được áp dụng rộng rãi đối với mọi tổ chức, cá nhân có tiêu dùng sản phẩm hàng hoá hoặc được cung ứng dịch
vụ, nên tạo được nguồn thu lớn và tương đối ổn định cho ngân sách nhà nước
- Thuế tính trên giá bán hàng hoá hoặc giá dịch vụ nên không phải đi sâu xem xét, phân tích về tính hợp lý, hợp lệ cuả các khoản chi phí, làm cho việc tổ chức quản lý thu tương đối dễ dàng hơn các loại thuế trực thu
- Ðối với hàng xuất khẩu không những không nộp thuế giá trị gia tăng mà còn được khấu trừ hoặc được hoàn lại số thuế giá trị gia tăng đầu vào nên có tác dụng giảm chi phí, hạ giá thành sản phẩm, đẩy mạnh xuất khẩu, tạo điều kiện cho hàng xuất khẩu có thể cạnh tranh thuận lợi trên thị trường quốc tế
- Thuế giá trị gia tăng cùng với thuế nhập khẩu làm tăng giá vốn đối với hàng nhập khẩu, có tác dụng tích cực bảo hộ sản xuất kinh doanh hàng nội địa
- Tạo điều kiện thuận lợi cho việc chống thất thu thuế đạt hiệu quả cao Việc khấu trừ thuế giá trị gia tăng được thực hiện căn cứ trên hoá đơn mua vào đã thúc đẩy người mua phải đòi hỏi người bán xuất hoá đơn, ghi doanh thu đúng với hoạt động mua bán; khắc phục được tình trạng thông đồng giữa người mua và người bán để trốn lậu thuế Trong họat động bán lẻ người tiêu dùng không cần đòi hỏi hoá đơn, vì họ không được khấu trừ thuế GTGT đầu vào do là người tiêu dùng cuối cùng điều này dẫn đến việc không xuất hóa đơn của người bán để trốn thuế Tuy vậy, ở khâu bán lẻ cuối cùng, giá trị tăng thêm thường không lớn, số thuế thu ở khâu này không nhiều
Trang 4- Thuế giá trị gia tăng thường có ít thuế suất, bảo đảm sự đơn giản, rõ ràng Với ít thuế suất, loại thuế này mang tính trung lập, vì về cơ bản không can thiệp sâu vào mục tiêu khuyến khính hay hạn chế sản xuất, kinh doanh dịch vụ, tiêu dùng, theo ngành nghề cụ thể; không gây phức tạp trong việc xem xét từng mặt hàng, ngành nghề có thuế suất chênh lệch nhau nhiều
- Nâng cao được tính tự giác trong việc thực hiện đầy đủ nghĩa vụ cuả người nộp thuế Thông thường, trong chế độ kê khai nộp thuế giá trị gia tăng, cơ quan thuế tạo điều kiện cho cơ sở kinh doanh tự kiểm tra, tính thuế, kê khai và nộp thuế
Từ đó, tạo tâm lý và cơ sở pháp lý cho đơn vị kinh doanh không phải hiệp thương, thoả thuận về mức doanh thu, mức thuế với cơ quan thuế Việc kiểm tra thuế giá trị gia tăng cũng có mặt thuận lợi vì đã buộc người mua, người bán phải nộp và lưu giữ chứng từ, hoá đơn đầy đủ nên việc thu thuế tương đối sát với hoạt động kinh doanh từ đó tập trung được nguồn thu thuế giá trị gia tăng vào ngân sách nhà nước ngay từ khâu sản xuất và thu thuế ở khâu sau còn kiểm tra được việc tính thuế, nộp thuế ở khâu trước nên hạn chế thất thu về thuế
- Tăng cường công tác hạch toán kế toán và thúc đẩy việc mua bán hàng hoá có hoá đơn chứng từ; việc tính tuế đầu ra được khấu trừ số thuế đầu vào là biện pháp kinh tế góp phần thúc đẩy cả người mua và người bán cùng thực hiện tốt hơn chế độ hoá đơn, chứng từ
- Việc khấu trừ thuế đã nộp ở đầu vào còn có tác dụng khuyến khích hiện đại hoá, chuyên môn hoá sản xuất, tăng cường đầu tư mua sắm trang thiết bị mới để hạ giá thành sản phẩm
- Thuế giá trị gia tăng được ban hành gắn liền với việc sửa đổi, bổ sung một số loại thuế khác như thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất nhập khẩu góp phần làm cho hệ thống chính sách thuế cuả Việt Nam ngày càng hoàn thiện, phù hợp với
sự vận động và phát triển cuả nền kinh tế thị trường, tương đồng với hệ thống thuế trong khu vực và trên thế giới, góp phần đẩy mạnh việc mở rộng hợp tác kinh tế và thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam
Trang 52 Một số nội dung các quy định của pháp luật về thuế giá trị gia tăng
a Đối tượng chịu thuế
Đối tượng chịu thuế được quy định tại Điều 3 Luật thuế GTGT 2008 là hàng hóa, dịch vụ sử dụng cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng ở Việt Nam, trừ các đối tượng quy định tại Điều 5, Luật thuế GTGT 2008
Như vậy, trừ 26 đối tượng được quy định trong Luật thuế GTGT và được
cụ thể hóa tại Thông tư số 129/2008/TT-BTC ngày 26 tháng 12 năm 2008 (TT
số 129/2008/TT-BTC) ra thì các loại hàng hóa, dịch vụ còn lại đều nằm trong diện chịu thuế GTGT Với quy định loại trừ này cho ta thấy tính bao chum lên hầu hết các hàng hóa, dịch vụ của thuế GTGT
b Đối tượng nộp thuế
Thuế GTGT được cộng vào giá bán và người tiêu dùng phải chịu nhưng
họ không trực tiếp nộp thuế cho các cơ quan thuế Người nộp thuế là các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, cung ứng dịch vụ thuộc diện chịu thuế GTGT không phân biệt ngành nghề kinh tế, thành phần sản xuất kinh doanh Các tổ chức ở đây là các doanh nghiệp được thành lập theo Luật doanh nghiệp 2005 và hợp tác xã được thành lập theo Luật hợp tác xã 2003
Các đối tượng trên sẽ phải nộp thuế GTGT khi có hành vi kinh doanh các hàng hóa, dịch vụ nằm trong diện chịu thuế GTGT và có phát sinh giá trị tăng thêm của hàng hóa dịch vụ tại Việt Nam
Hành vi kinh doanh là việc thực hiện một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm sinh lợi Mục đích của lợi nhuận sẽ chứng minh cho hành
vi kinh doanh của các chủ thể
Khi có hành vi kinh doanh như trên và có hàng hóa, dịch vụ nằm trong đối tượng chịu thuế thì họ phải nộp thuế khi phát sinh GTGT của hàng hóa, dịch
vụ đó tại bất kỳ khâu sản xuất nào Kể cả khâu nhập khẩu các đối tượng trên vẫn phải nộp thuế GTGT bởi đây là lần đầu tiên hàng hóa dịch vụ đó có mặt trên thị
Trang 6trường Việt Nam nên toàn bộ giá trị của nó cộng với thuế nhập khẩu sẽ là phần giá trị tăng thêm
Như vậy, đối tượng nộp thuế ở đây bao gồm các tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ và các tổ chức, cá nhân nhập khẩu hàng hóa dịch
vụ là đối tượng chịu thuế GTGT
c Căn cứ tính thuế
Thuế GTGT được tính dựa vào giá tính thuế và thuế suất
- Giá tính thuế: tùy vào từng trường hợp mà có các cách tính gia thuế khác nhau Đối với hàng hóa, dịch vụ là giá bán chưa có thuế GTGT, đối với hàng hóa nhập khẩu là gia trị nhập tại cửa khẩu cộng với thuế nhập khẩu, đối với hàng hóa, dịch vụ dùng để trao đổi sử dụng nội bộ, biếu tặng là giá tính thuế của hàng hóa, dịch vụ cùng loại hoặc tương đương tại thời điểm phát sinh các hoạt động này, đối với hoạt động thuê tài sản là số tiền thuê từng kỳ, đối với hàng hóa bán theo phương thức trả góp là giá bán của hàng hóa dịch vụ tính theo giá bán trả một lần, đối với hàng hóa gia công là giá gia công, đối với hàng hóa dịch vụ khác do Chính phủ quy định
- Thuế suất: áp dụng cho thuế GTGT được nghiên cứu sao cho phù hợp nhất với đặc điểm kinh tế của từng quốc gia Thuế suất được quy định cụ thể tại Điều 8 Luật thuế GTGT 2008 và theo đó, thuế suất áp dụng cho thuế GTGT ở nước ta
có 3 mức cơ bản: 0%, 5% và 10%
d Phương pháp tính thuế
Theo quy định của Luật thuế GTGT, các văn bản hướng dẫn thi hành và thực tiễn áp dụng thì có bốn phương pháp xác định số thuế phải nộp đó là:
- Phương pháp cộng thẳng trực tiếp hay còn gọi là phương pháp kế toán
Thuế GTGT = thuế suất x (tiền công + lợi nhuận)
- Phương pháp cộng gián tiếp
Thuế GTGT = thuế suất x tiền công + thuế suất x lợi nhuận
- Phương thức trừ trực tiếp
Thuế GTGT = thuế suất x (giá đầu ra – giá đầu vào)
Trang 7- Phương thức trừ gián tiếp (còn gọi là phương pháp hóa đơn hay phương pháp khấu trừ)
Thuế GTGT = thuế suất x giá đầu ra – thuế suất x giá đầu vào
II Các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực thi pháp luật thuế giá trị gia tăng ở
Việt Nam hiện nay
1 Sự hoàn thiện của hệ thống pháp luật thuế giá trị gia tăng
Thuế giá trị gia tăng có nguồn gốc từ thuế doanh thu và Pháp là nước đầu tiên trên thế giới ban hành Luật thuế giá trị gia tăng - vào năm 1954 Bắt đầu từ nước Pháp, thuế giá trị gia tăng đã được áp dụng rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới Ngày nay, các quốc gia thuộc khối Liên minh Châu Âu, châu Phi, châu Mỹ
La Tinh và một số quốc gia Châu Á trong đó có Việt Nam đã chính thức áp dụng thuế giá trị gia tăng Các quốc gia khác cũng đang trong thời kỳ nghiên cứu loại thuế này Tính đến nay đã có khoảng 130 quốc gia áp dụng thuế giá trị gia tăng
Ở nước ta, tại kỳ họp lần thứ 11 Quốc hội khoá 9, Quốc hội nước ta đã thông qua Luật thuế giá trị gia tăng ngày 10/05/1997 và có hiệu lực thi hành kề
từ ngày 01-01-1999 Tiếp theo đó, để phù hợp hơn với tình hình thực tế, Quốc hội cũng đã thông qua Luật sửa đổi vào ngày 17/06/2003 và mới đây tại kỳ họp thứ 3 Quốc hội khóa XII ngày 03/06/2008 đã thông qua Luật thuế GTGT mới thay thế 2 luật trên và chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2009
Qua lịch sử phát triển của luật thuế GTGT có thể thấy các quy định về thuế GTGT luôn luôn thay đổi qua từng thời kỳ, đang ngày càng được hoàn thiện hơn nữa để phù hợp với thực tiễn và nhu cầu của xã hội Hơn nữa cùng với việc ban hành Luật thuế GTGT 2008 là các Nghị định, Thông tư hướng dẫn thi hành cũng được ban hành để đảm bảo cho các đối tượng thi hành có thể thực thi pháp luật thuế một cách chính xác và đầy đủ nhất
2 Chế độ hóa đơn, chứng từ
Hóa đơn chứng từ là bằng chứng chi nhận, phản ánh tình hình sản xuất của cơ sở sản xuất kinh doanh Quản lý tốt các nguồn hóa đơn sẽ hạn chế được
Trang 8các gian lận về thuế GTGT Theo quy định của Luật thuế GTGT 2008 thì việc mua bán hàng hóa, dịch vụ phải có hóa đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật Đây cũng là một trong những yếu tố đảm bảo cho việc thực thi pháp luật thuế GTGT được thực hiện một cách rành mạch, có cơ sở pháp lý rõ ràng, giảm thiểu tình trạng hóa đơn, chứng từ “khống”, gây thiệt hại cho Nhà nước và cả xã hội
Trước đây các quy định về hóa đơn chứng từ thường được quy định ở các văn bản có giá trị pháp lý thấp và mang tính riêng biệt cho từng ngành từng lĩnh vực Điều này làm cho việc quản lý rất khó khăn Vì vậy, cuối năm 2002 để thống nhất việc quản lý hóa đơn chứng từ, Ủy thường vụ Quốc hội đã ra pháp lệnh về hóa đơn chứng từ Tuy nhiên, trong quá trình áp dụng thuế GTGT hóa đơn chứng từ giữ vai trò quan trọng bởi nó là cơ sở để các cơ quan thuế xác định kiểm tra, xem xét việc nộp thuế, khấu trừ và hoàn thuế nên cần phải có những quy định riêng Hàng năm ngành thuế phát hành rất nhiều hóa đơn GTGT bên cạnh đó có rất nhiều doanh nghiệp được phép phát hành hóa đơn, do đó việc quản lý số hóa đơn trên thị trường là rất khó khăn Nhiều doanh nghiệp được thành lập với mục đích chủ yếu là buôn hóa đơn, làm hóa đơn khống, chiếm đoạt tiền hoàn thuế Ngoài ra, nhằm hạn chế việc xuất hóa đơn ghi khống thì phải có biện pháp tuyên truyền người tiêu dùng khi mua hàng hóa dịch vụ có thói quen nhận hóa đơn Số hóa đơn mà người mua hàng không nhận dễ tạo điều kiện để cho doanh nghiệp ghi khống cho doanh nghiệp khác để doanh nghiệp này được khấu trừ đầu thuế đầu vào
3 Trình độ và ý thức pháp luật của cán bộ thuế
Trình độ và ý thức pháp luật của cán bộ thu thuế đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc thực thi pháp luật thuế, bởi có thể nói họ đóng vai trò trung gian trong việc nộp và thu thuế, giữa những người nộp thuế và cơ quan thuế; nếu họ có trình độ thì việc nộp thuế sẽ được diễn ra một cách nhanh chóng, chính xác, nếu họ có phẩm chất đạo đức tốt thì việc thu và nộp thuế sẽ đảm bảo công minh, trung thực nhất
Trang 9Cụ thể hơn, cán bộ thu thuế phải là những người nắm vững về chế độ hoá đơn, chứng từ, sổ kế toán, thông thạo về chế độ quản lý, tính thuế, khấu trừ thuế, hoàn thuế giá trị gia tăng Hơn nữa, khi áp dụng thuế giá trị gia tăng thì vai trò cuả người thu thuế đồng thời cũng là người trả thuế (thoái thu) và vai trò cuả người nộp thuế cũng là người thu thuế (được cơ quan thuế khấu trừ hoặc hoàn lại) Người thu thuế phải có khả năng tính được mức thuế phải thu, mức thuế khấu trừ cho đúng, đủ, kịp thời Về khả năng thì có thể đào tạo được, nhưng vấn
đề quan trọng nhất là người thu thuế nếu kém phẩm chất sẽ có điều kiện để tiêu cực, đó là việc tính mức khấu trừ, mức thoái thu cao hơn mức chính xác, làm thiệt hại cho ngân sách nhà nước hoặc khấu trừ không đủ, hoàn thuế chậm trễ làm thiệt hại cho các chủ thể đã chịu thuế trong quá trình sản xuất, kinh doanh
4 Ý thức pháp luật của đối tượng nộp thuế
Với sự phát triển của xã hội, pháp luật thuế của nước ta hiện nay đang áp dụng cơ chế tự khai, tự nộp, tự tính thuế đối với đối tượng nộp thuế; từ đó có thể thấy Nhà nước và pháp luật nước ta rất đề cao vai trò và trách nhiệm của người nộp thuế Ðối với người nộp thuế, tất nhiên ngoài khả năng tính toán đầy đủ số thuế mình còn phải nộp sau khi được khấu trừ, còn phải có đầy đủ phẩm chất cuả một nhà kinh doanh lương thiện xem việc nộp thuế đầy đủ, kịp thời là một nghĩa vụ hợp lý và công bằng Vì vậy, ý thức pháp luật của đối tượng nộp thuế
là một yếu tố cơ bản hàng đầu giúp cho việc thực thi pháp luật thuế được thực hiện chủ động, linh hoạt và chính xác, để xã hội ngày càng phát triển và hiện đại hơn
5 Sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng, đoàn thể, tổ chức
Để thực thi một cách tốt nhất pháp luật thuế nói chung và pháp luật thuế GTGT nói riêng thì không chỉ đòi hỏi trách nhiệm của cơ quan thuế mà nó đòi hỏi sự phối hợp giữa nhiều cơ quan chức năng Có thể hiểu như sau: Khi một chủ thể tiến hành nộp thuế thì đơn giản hành vi đó đã làm phát sinh nên quan hệ pháp luật thuế giữa đối tượng nộp thuế và cơ quan thuế, nhưng trước đó, để biết đến nghĩa vụ nộp thuế của mình thì chủ thể nộp thuế phải có sự hiểu biết nhất
Trang 10định về những quy định của pháp luật về quyền và nghĩa vụ nộp thuế của mình thông qua các trang báo mạng, chương trình truyền hình, qua sự giáo dục của nhà trường; còn khi chủ thể nộp thuế đã biết rõ về hành vi trốn thuế của mình nhưng vẫn thực hiện hành vi trốn tránh nghĩa vụ thuế thì họ sẽ phải gánh chịu các hậu quả pháp lý do pháp luật quy định Từ đó, có thể thấy, để thực thi tốt pháp luật thuế GTGT đòi hỏi cần có sự phối hợp chặt chẽ hoạt động giữa cơ quan thuế, các cơ quan truyền thông, cơ quan tài chính, cơ quan hải quan, các đơn vị giáo dục, các tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp và các cơ quan thanh tra, kiểm tra…
6 Phương tiện, kĩ thuật trong hoạt động quản lí thuế
Với sự phát triển của khoa học, công nghệ ngày càng hiện đại thì việc đòi hỏi nâng cao về phương tiện, kĩ thuật trong quản lý thuế là một đòi hỏi vô cùng hợp lý Cần ưu tiên đầu tư và phát triển các hệ thống thông tin phục vụ chuyên ngành như các chương trình quản lý mã số đối tượng thuế, quản lý hóa đơn, tính thuế…;cung cấp các trang thiết bị để xây dựng hệ thống tin học một cách đồng
bộ giúp cho đối tượng nộp thuế và các cơ quan chức năng có đầy đủ thông tin và
dữ liệu cần thiết phục vụ cho việc thực thi pháp luật thuế dễ dàng hơn
III Một số đề xuất nhằm thực thi tốt pháp luật thuế giá trị gia tăng
1 Biện pháp tuyên truyền hướng dẫn
Để pháp luật thuế GTGT được thực hiện tốt trên thực tế thì cần phải đẩy mạnh công tác tuyên truyền trước tiên là tới các đối tượng nộp thuế đặc biệt là các đối tượng mới bắt đầu sản xuất kinh doanh để họ thấy được quyền và nghĩa
vụ của họ trong kê khai và nộp thuế Các phương tiện thông tin và đại chúng có các chuyên mục tìm hiểu giải đáp các thắc mắc về thuế nói chung và về thuế GTGT nói riêng để mọi người dân hiểu về loại thuế mà họ là đối tượng chịu thuế
Bộ tài chính tổ chức các hội thảo khoa học có sự tham gia của các doanh nghiệp các nhà kinh tế và phía người tiêu dùng để phát hiện những sai sót bất