Phạm vi giải quyết tranh chấp của Trọng tài không chỉ giới hạn là các tranh chấp liên quan đến lĩnh vực thương mại như theo quy định của Pháp lệnh TTTM mà còn hướng đến các tranh chấp kh
Trang 1MỤC LỤC
A, ĐẶT VẤN ĐỀ 2
B, GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 2
I, Một số vấn đề lý luận chung về thủ tục giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại 2
1, Khái niệm trọng tài thương mại 2
2, Thẩm quyền giải quyết tranh chấp của trọng tài thương mại 2
3, Các nguyên tắc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại 3
4, Trình tự giải quyết tranh chấp trọng tài thương mại 4
II, Những điểm mới trong quy định về thủ tục giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại 4
1, Về khởi kiện, thụ lý, bản tự bảo vệ và quyền kiện lại của bị đơn 4
2, Thành lập Hội đồng trọng tài 5
3, Chuẩn bị xét xử của Hội đồng trọng tài 7
4, Phiên họp giải quyết tranh chấp của Hội đồng trọng tài 9
5, Phán quyết trọng tài 10
III, Đánh giá về những điểm mới trong thủ tục giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại 12
C, KẾT THÚC VẤN ĐỀ 13
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 14
Trang 2A, ĐẶT VẤN ĐỀ
Luật Trọng tài Thương mại (TTTM) được Quốc hội thông qua ngày 17/6/2010 có hiệu lực ngày 1/1/2011 đã khắc phục được những hạn chế của Pháp lệnh Trọng tài thương mại năm 2003, đáp ứng nhu cầu thực tiễn của Việt Nam trong giai đoạn hội nhập quốc tế về kinh tế và pháp lý Những quy định về thủ tục giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại trong Luật trọng tài thương mại năm
2010 có nhiều điểm mới so với pháp lệnh trọng tài thương mại 2003 Vậy những
điểm mới đó là gì? Sau đây chúng em xin đi sâu tìm hiểu đề tài: “Phân tích những điểm mới trong quy định về thủ tục giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại theo Luật Trọng tài thương mại 2010”
B, GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I, Một số vấn đề lý luận chung về thủ tục giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại
1, Khái niệm trọng tài thương mại
TTTM là một trong những hình thức giải quyết tranh chấp thương mại cơ bản trên thế giới cũng như ở Việt Nam
TTTM là phương thức giải quyết tranh chấp do các bên thỏa thuận, phát sinh trong hoạt động thương mại tiến hành theo trình tự, thủ tục do các bên thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật
TTTM tồn tại dưới hai hình thức: trọng tài vụ việc và trọng tài thường trực Trọng tài vụ việc là phương thức trọng tài do các bên tranh chấp thỏa thuận thành lập để giải quyết vụ tranh chấp giữa các bên và trọng tài sẽ tự chấm dứt tồn tại khi giải quyết xong vụ tranh chấp
Trọng tài thường trực tổ chức được thành lập để giải quyết tranh chấp thương mại theo quy định của pháp luật Thường được tổ chức dưới dạng các trung tâm trọng tài Trung tâm trọng tài là tổ chức phi chính phủ, có tư cách pháp nhân, có con dấu, có tài khoản riêng và có trụ sở giao dịch ổn định
2, Thẩm quyền giải quyết tranh chấp của trọng tài thương mại
Một tranh chấp sẽ thuộc thẩm quyền của trọng tài thương mại khi có các điều kiện sau:
Trang 3- Tranh chấp được gửi đến trọng tài thương mại phải là tranh chấp thương
mại
- Các tranh chấp phát sinh trong dó có ít nhất một bên có hoạt động thương
mại
- Các tranh chấp phát sinh khác giữa các bên mà pháp luật quy định được giải quyết bằng Trọng tài
Như vậy so với Pháp lệnh TTTM, phạm vi thẩm quyền của của Trọng tài đã được mở rộng đáng kể tới nhiều loại tranh chấp liên quan đến quyền và lợi ích của các bên Phạm vi giải quyết tranh chấp của Trọng tài không chỉ giới hạn là các tranh chấp liên quan đến lĩnh vực thương mại như theo quy định của Pháp lệnh TTTM mà còn hướng đến các tranh chấp không tranh chấp không phát sinh từ hoạt động thương mại nhưng được pháp luật có liên quan quy định sẽ được giải quyết bằng trọng tài, trên cơ sở đó bảo đảm sự tương thích giữa các văn bản pháp luật hiện hành như Bộ luật Dân sự, Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Thương mại, Luật Đầu tư và các luật chuyên ngành khác với Luật TTTM
3, Các nguyên tắc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại
Nguyên tắc giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài là những tư tưởng chỉ đạo, định hướng việc giải quyết tranh chấp thương mại, được quy định trong pháp luật về trọng tài thương mại Việc tuân thủ triệt để các nguyên tắc sẽ tạo điều kiện cho trọng tài giải quyết tranh chấp một cách thuận lợi và nhanh chóng, đồng thời còn bảo đảm cho các chủ thể tham gia giải quyết tranh chấp có điều kiện thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình, trên cơ sở đó mà lợi ích hợp pháp của
họ được tôn trọng, bao gồm các nguyên tắc sau:
- Nguyên tắc thỏa thuận trọng tài
- Nguyên tắc trọng tài viên độc lập, vô tư, khách quan, phải căn cứ vào pháp luật
- Nguyên tắc các bên tranh chấp đều bình đẳng về quyền và nghĩa vụ
Trang 4- Nguyên tắc giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài được tiến hành không công khai, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác
- Nguyên tắc phán quyết trọng tài là chung thẩm.
Như vậy, Luật Trọng tài thương mại 2010 đã đưa nguyên tắc thỏa thuận của các bên tranh chấp lên đầu tiên Điều này thể hiện được đúng đắn bản chất của phương thức giải quyết tranh chấp của trọng tài thương mại là tôn trọng tối đa quyền thỏa thuận của các bên tranh chấp Hơn nữa, Luật còn bổ sung thêm nguyên tắc các nguyên tắc: nguyên tắc bình đẳng của các bên tham gia tố tụng và yêu cầu Hội đồng trọng tài phải tạo điều kiện để họ thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình; nguyên tắc giải quyết tranh chấp trọng tài được tiến hành không công khai, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận và nguyên tắc phán quyết của trọng tài là chung thẩm
4, Trình tự giải quyết tranh chấp trọng tài thương mại
Tranh chấp giữa các bên có thể được giải quyết tại hội đồng trọng tài do trung tâm trọng tài tổ chức hoặc tại hội đồng trọng tài do các bên thành lập Trình tự giải quyết tranh chấp tại trọng tài thương mại theo Luật Trọng tài thương mại năm 2010 được tóm tắt bao gồm các bước:
Bước 1: Khởi kiện
Bước 2: Bị đơn gửi Bản tự bảo vệ và chỉ định trọng tài viên
Bước 3 Thành lập hội đồng trọng tài
Bước 4: Giải quyết vụ tranh chấp
Bước 5: Mở phiên tòa giải quyết tranh chấp
Bước 6: Công bố quyết định trọng tài
II, Những điểm mới trong quy định về thủ tục giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại
1, Về khởi kiện, thụ lý, bản tự bảo vệ và quyền kiện lại của bị đơn
Nhìn một cách sơ bộ, có thể thấy rằng các quy định của Luật TTTM năm 2010
về khởi kiện, thụ lý, bản tự bảo vệ cũng như quyền kiện lại của bị đơn đều đã được
kế thừa từ các quy định của Pháp lệnh TTTM năm 2003 và được tách ra thành một
Trang 5chương riêng với tên gọi là “Khởi kiện” trong Luật TTTM 2010 Trong những quy
định mới tại chương này, cần đặc biệt chú ý tới quy định về thời hiệu khởi kiện:
Theo quy định tại khoản 2 Điều 21 Pháp lệnh TTTM 2003: “Đối với vụ tranh chấp mà pháp luật không quy định thời hiệu khởi kiện thì thời hiệu khởi kiện giải quyết vụ tranh chấp bằng trọng tài là hai năm, kể từ ngày xảy ra tranh chấp, trừ trường hợp bất khả kháng Thời gian không tính vào thời hiệu khởi kiện được tính từ ngày xảy ra sự kiện cho đến khi không còn sự kiện bất khả kháng” Với quy định
này, thời điểm bắt đầu tính thời hiệu khởi kiện là thời điểm xảy ra tranh chấp Tuy nhiên, trên thực tế, thời điểm này rất khó xác định; có sự không thống nhất với quy định về thời hiệu khởi kiện trong Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 và Luật Thương mại năm 2005
Khắc phục bất cập đó, Điều 33 Luật TTTM năm 2010 đã quy định: “Trừ trường hợp luật chuyên ngành có quy định khác, thời hiệu khởi kiện theo thủ tục trọng tài là 02 năm, kể từ thời điểm quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm” Quy
định mới này đã loại bỏ được những bất cập trong thủ tục tố tụng trọng tài, tạo ra sự đồng bộ thống nhất với các quy định của pháp luật, tạo điều kiện cho các chủ thể bị xâm phạm về quyền và lợi ích có thể nộp đơn sớm hơn để đảm bảo quyền làm nguyên đơn của mình khi thực hiện khởi kiện tại Trọng tài
2, Thành lập Hội đồng trọng tài
a, Tiêu chuẩn trọng tài viên
Kế thừa Pháp lệnh TTTM, Luật TTTM vẫn có các quy định về tiêu chuẩn tối thiểu đối với Trọng tài viên nhằm hình thành ở nước ta một đội ngũ trọng tài viên nòng cốt có năng lực, có tính chuyên nghiệp, có chuyên môn và uy tín xã hội Theo
đó cá nhân có năng lực hành vi dân sự, có trình độ đại học trở lên và đã qua thực tế công tác từ năm năm trở lên có thể là Trọng tài viên (Điểm a, b Khoản 1 Điều 20 Luật TTTM)
Đặc biệt, để tạo điều kiện cho các bên tranh chấp có thể lựa chọn Trọng tài viên phù hợp nhất để giải quyết vụ tranh chấp đòi hỏi chuyên môn sâu, Luật TTTM
Trang 62010 có quy định mở trong trường hợp đặc biệt đó là “Trường hợp đặc biệt, chuyên gia có trình độ chuyên môn cao và có nhiều kinh nghiệm thực tiễn, tuy không đáp ứng được yêu cầu của điểm a, điểm b khoản này, cũng có thể được chọn làm Trọng tài viên” (Điểm c Khoản 1 Điều 20) và “trung tâm trọng tài có thể quy định thêm các tiêu chuẩn cao hơn tiêu chí quy định tại khoản 1 điều này đối với trọng tài viên của tổ chức mình” ( Khoản 3 Điều 20) Đây là quy định không có trong Pháp lệnh
TTTM, thể hiện sự linh hoạt, mềm dẻo, tiếp thu sự tiến bộ của pháp lệnh trọng tài các nước, phù hợp với thực tiễn
Khắc phục những hạn chế của Pháp lệnh TTTM, Luật TTTM không yêu cầu Trọng tài viên phải có quốc tịch Việt Nam Điều đó có nghĩa là người nước ngoài cũng có thể được chỉ định làm Trọng tài viên ở Việt Nam nếu các bên tranh chấp hoặc tổ chức trọng tài tín nhiệm họ Quy định này đáp ứng nhu cầu thực tế trong giai đoạn Việt Nam tăng cường hội nhập kinh tế quốc tế
b, Thay đổi trọng tài viên
Thứ nhất, Luật TTTM còn quy định thêm căn cứ thứ tư:“Trọng tài viên phải
từ chối giải quyết tranh chấp, các bên có quyền yêu cầu thay đổi Trọng tài viên giải quyết tranh chấp trong các trường hợp : Đã là hòa giải viên, người đại diện, luật sư của bất cứ bên nào trước khi đưa vụ án tranh chấp đó ra giải quyết tại trọng tài, trừ trường hợp được các bên chấp thuận bằng văn bản” (Điểm d Khoản 1 Điều 42) Bởi
lẽ, chính mối quan hệ trước đó của Trọng tài viên đối với một bên tranh chấp trong cùng vụ việc cũng có thể ảnh hưởng đền tính chi công, khách quan của Trọng tài viên khi đưa ra phán quyết
Thứ hai, Khoản 4 Điều 42 Luật TTTM năm 2010, so với quy định tại Khoản 4 Điều 27 Pháp lệnh TTTM 2003, ta thấy đã có những thay đổi trong quy định của pháp luật khi đã nêu rõ hơn các trường hợp giải quyết nếu các thành viên còn lại của Hội đồng trọng tài không quyết định được hoặc nếu các Trọng tài viên hay trọng tài viên duy nhất từ chối giải quyết tranh chấp Thời hạn 15 ngày được đưa ra kể từ khi Tòa án nhận đơn yêu cầu cũng mới được quy định rõ nhằm mục đích đẩy nhanh thủ tục
Trang 7Thứ ba, Luật TTTM 2010 đã nhấn mạnh rõ Quyết định của Chủ tịch Trung tâm
trọng tài hoặc của Toà án trong trường hợp quy định tại Khoản 3 và Khoản 4 Điều này là quyết định cuối cùng (Khoản 5 Điều 42) Quy định này mang tính khẳng định hiệu lực của những quyết định tại Khoản 3 và 4 Điều 42 Nó tạo điều kiện để các Tòa án và Hội đồng trọng tài cũng như các bên tranh chấp tránh được lúng túng trong các trường hợp cụ thể, góp phần tạo điều kiện thuận lợi để trọng tài hoạt động
có hiệu quả
3, Chuẩn bị xét xử của Hội đồng trọng tài
Nhằm giúp cho cơ chế tố tụng trọng tài vận hành có hiệu quả hơn, Luật TTTM 2010 đã cho phép Hội đồng Trọng tài được thu thập chứng cứ, triệu tập nhân chứng, áp dụng một số biện pháp khẩn cấp tạm thời (quy định tại Điều 47, 48, 49 và 50) Quy định này là sự tiếp thu những quy định mẫu của UNCITRAL được thông qua 2006 Điều này cũng thể hiện sự tiếp thu và từng bước điều chỉnh của cơ quan lập pháp Việt Nam để các quy định trọng tài thương mại Việt Nam hội nhập với các thông lệ quốc tế
a, Về cung cấp, thu thập chứng cứ cho vụ tranh chấp
Luật TTTM đã có những quy định mới về cung cấp, thu thập chứng cứ cho vụ tranh chấp Theo Luật TTTM thì việc cung cấp chứng cứ cho HĐTT trở thành
“quyền và nghĩa vụ của các bên tranh chấp” chứ không phải chỉ là “nghĩa vụ” như
quy định của Pháp lệnh TTTM Đồng thời, việc cung cấp chứng cứ của bên tranh chấp không chỉ là để chứng minh cho chính yêu cầu của họ mà còn cho toàn bộ sự việc có liên quan đến nội dung tranh chấp
Bên cạnh đó, sự hạn chế quyền hạn của Hội đồng trọng tài trong quá trình giải quyết tranh chấp của Pháp lệnh TTTM 2003 đã được khắc phục khi Luật TTTM
2010 quy định về sự hỗ trợ của Tòa án đối với trọng tài trong việc thu thập chứng
cứ, tạo điều kiện cho Hội đồng trọng tài giải quyết tranh chấp chính xác và nhanh
chóng hơn: “Trong trường hợp đã áp dụng các biện pháp nhưng không thu thập được chứng cứ thì Hội đồng trọng tài có thể gửi văn bản đề nghị Tòa án nhân dân
Trang 8có thẩm quyền yêu cầu cơ quan, tổ chứng, cá nhân cung cấp các chứng cứ.” (Điều
46)
Ngoài ra, Luật mới còn quy định cho Hội đồng trọng tài các quyền khác như triệu tập người làm chứng (Điều 47) Trong quá trình giải quyết tranh chấp, có những trường hợp có liên quan đến người thứ ba hoặc bên thứ ba Trong khi Tòa án
có thẩm quyền đương nhiên trong việc triệu tập các đối tượng này thì trọng tài trong Pháp lệnh TTTM 2003 lại không có thẩm quyền Khắc phục điều đó, Luật TTTM
2010 đã quy định rất rõ, Hội đồng trọng tài có quyền yêu cầu người làm chứng có mặt tại phiên họp giải quyết tranh chấp (Khoản 1 Điều 47) hoặc đề nghị Tòa án có thẩm quyền ra quyết định triệu tập người làm chứng đến phiên họp của Hội đồng trọng tài (Khoản 2 Điều 47) Bảo đảm cho Hội đồng trọng tài giải quyết vụ tranh chấp có hiệu quả, đồng thời cũng phù hợp với thông lệ quốc tế và luật mẫu về trọng tài thương mại quốc tế
b, Áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời
Trong pháp luật Việt Nam, Bộ luật Tố tụng Dân sự 2005 có một Chương riêng với 28 Điều quy định về biện pháp khẩn cấp tạm thời (Chương VIII, các Điều từ 99 đến 126) Về bản chất, các quy định mới về biện pháp khẩn cấp tạm thời của Luật TTTM 2010 cụ thể và chi tiết hơn so với Pháp lệnh TTTM 2003, hoàn toàn phù hợp với các quy định chung của Bộ luật Tố tụng dân sự 2005 Nói cách khác, trong tố tụng trọng tài phải áp dụng trước tiên các quy định của Luật TTTM 2010, nếu các quy định đó thiếu, chưa rõ hoặc chưa cụ thể thì cần áp dụng các nguyên tắc chung về biện pháp khẩn cấp tạm thời trong tố tụng dân sự
Về quy định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, Điều 33 Pháp lệnh TTTM
2003 quy định, yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời chỉ được thực hiện trong quá trình Hội đồng trọng tài giải quyết vụ tranh chấp Tuy nhiên, với quy định này, các biện pháp khẩn cấp tạm thời không phát huy được vai trò của nó bởi mất đi khả năng được áp dụng nhanh chóng, khẩn trương, kịp thời Các biện pháp này phải được áp dụng ngay khi một bên thấy rằng quyền lợi hợp pháp của mình có nguy cơ
Trang 9bị xâm phạm, không nhất thiết phải chờ đợi đến khi khởi kiện hoặc Hội đồng trọng tài được thành lập Vì vậy, Điều 48 về quyền yêu cầu áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời của Luật TTTM 2010 đã khắc phục bằng cách không quy định về thời hạn yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời
Mặt khác, quy định chỉ có Tòa án cấp tỉnh nơi Hội đồng trọng tài thụ lý vụ tranh chấp mới có thẩm quyền ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong Pháp lệnh TTTM 2003 là không phù hợp, nên đã bị bác bỏ trong Luật TTTM
2010 Thay vào đó, theo Luật TTTM 2010 thì Hội đồng trọng tài hoặc Tòa án có quyền áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời khi có một hoặc các bên đương sự yêu cầu Tuy nhiên, cần lưu ý rằng Hội đồng trọng tài chỉ có quyền ra quyết định áp dụng một số biện pháp khẩn cấp tạm thời được liệt kê tại Điều 49 của Luật TTTM
và Hội đồng trọng tài chỉ có thể ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời sau khi Hội đồng trọng tài đã thành lập Các trường hợp khác do Tòa án thực hiện
Từ đó, ta thấy, quy định Hội đồng trọng tài không chỉ có quyền yêu cầu Tòa án mà
có thể tự mình áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời đã nâng cao hơn vị pháp lý của Hội đồng trọng tài Điều này hoàn toàn phù hợp với điều 17 Luật mẫu của Uỷ ban Liên Hợp Quốc về Luật thương mại quốc tế (UNCITRAL) về trọng tài quốc tế năm 1985 cũng như các văn bản pháp luật thương mại quốc tế của nhiều nước khác trên thế giới
4, Phiên họp giải quyết tranh chấp của Hội đồng trọng tài
Về thời gian, địa điểm mở phiên họp, Luật TTTM có quy định ưu tiên tối đa cho các bên tranh chấp thỏa thuận Nếu các bên không có thỏa thuận thì tuân theo quy tắc tố tụng của Trung tâm trọng tài Nếu hai phương án trên không thực hiện được thì thời gian và địa điểm mở phiên họp sẽ do HĐTT quyết định theo nguyên
tắc đa số Điều này hợp lí hơn so với quy định của Pháp lệnh TTTM “do chủ tịch HĐTT quyết định” Vì nó đảm bảo được tính làm việc tập thể và nguyên tắc quyết
định tập thể của HĐTT
a, Hoãn phiên họp giải quyết tranh chấp
Trang 10Theo quy định của Luật TTTM thì lí do hoãn phiên họp chỉ có một, đó là xuất phát từ yêu cầu của các bên Hơn nữa, để đảm bảo cho yêu cầu hoãn là nghiêm túc
và đảm bảo quyền lợi của các bên và HĐTT thì yêu cầu này phải được lập thành văn bản, có lý do và có chứng cứ kèm theo Phải gửi yêu cầu này đến HĐTT chậm nhất
7 ngày trước khi mở phiên họp Nếu yêu cầu này đến muộn thì mọi chi phí mà HĐTT bỏ ra để chuẩn bị cho phiên họp sẽ do bên yêu cầu gánh chịu
Quy định này đã khác phục được điểm bất cập về thời gian hoãn, số lần hoãn của
Pháp lệnh TTTM: “ Trường hợp có lý do chính đáng, các bên có thể yêu cầu HĐTT hoãn phiên họp giải quyết vụ tranh chấp
b, Đình chỉ giải quyết vụ tranh chấp
Ngoài các căn cứ như Pháp lệnh TTTM đã quy định thì Luật TTTM còn đề cập thêm ba trường hợp mới tại các điểm a, b, d Điều 59 làm căn cứ đình chỉ vụ tranh chấp tại Trọng tài thương mại
5, Phán quyết trọng tài
a, Phương thức ra phán quyết và nội dung của phán quyết
Điều 60 Luật TTTM 2010 quy định: “Nguyên tắc ra phán quyết: 1, Hội đồng
trọng tài ra phán quyết trọng tài bằng cách biểu quyết theo nguyên tắc đa số 2, Trường hợp biểu quyết không đạt được đa số thì phán quyết trọng tài được lập theo
ý kiến của Chủ tịch Hội đồng trọng tài.”
Điểm mới của quy định này là Luật TTTM đã quy định cụ thể phương thức ra phán quyết Trọng tài bằng cách biểu quyết và hơn nữa, Luật TTTM cũng dự trù được trường hợp, nếu Hội đồng trọng tài có từ 3 người trở lên mà mỗi người một ý kiến hoặc không thể đạt được nguyên tắc đa số thì phán quyết sẽ theo ý kiến của Chủ tịch HĐTT
Đối với nội dung của phán quyết, Luật TTTM quy định thêm các nội dung cụ
thể hơn cho phán quyết trọng tài và đồng thời xóa bỏ quy định cũ cho phép: “các bên có quyền yêu cầu HĐTT không đưa các vấn đề tranh chấp, cơ sở của các quyết định về vụ tranh chấp vào quyết định trọng tài”
b, Thi hành phán quyết của Trọng tài