Nhóm chúng em xin đóng góp các ý kiến tư vấn cho một DN đã bị Tòa án thụlí đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản những vấn đề cần lưu ý để bảo vệ quyền lợi của mình trong thủ tục phá sản the
Trang 1I KHÁI QUÁT CHUNG VỀ PHÁ SẢN VÀ THỦ TỤC PHÁ SẢN 1
1, Khái niệm phá sản, thủ tục phá sản 1
2, Tính chất của thủ tục phá sản 2
3, Vai trò của thủ tục phá sản 2
II Tư vấn cho một DN (đã bị Tòa án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản) những vấn đề cần lưu ý để bảo vệ quyền lợi của mình trong thủ tục phá sản 3
1 Tòa án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản 3
2 Việc quyết định mở hay không mở thủ tục phá sản 5
3 Hội nghị chủ nợ 8
4 Phục hồi hoạt động kinh doanh 10
5 Thanh lý các tài sản, các khoản nợ 12
6 Tuyên bố doanh nghiệp bị phá sản 15
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DN: doanh nghiệp
HTX: hợp tác xã
Trang 2BÀI LÀM
Hiện nay, có nhiều doanh nghiệp Việt Nam kinh doanh thất bại, mất khả năng chi trả nên đành ngưng hoạt động Song để tiến hành thủ tục tuyên bố phá sản là không dễ bởi còn nhiều nhiều vướng mắc trong quá trình giải quyết bắt đầu từ mặt nhận thức, sau đó nằm ở khả năng thực thi của luật định, các định chế áp dụng…Trong bài tập nhóm lần này chúng em sẽ làm rõ những vấn đề xung
quanh việc phá sản doanh nghiệp thông qua việc Tư vấn cho một doanh nghiệp
(đã bị Tòa án thụ lý đơn yêu cầu) mở thủ tục phá sản những vấn đề cần lưu
ý để bảo vệ quyền lợi của mình trong thủ tục phá sản
NỘI DUNG
I KHÁI QUÁT CHUNG VỀ PHÁ SẢN VÀ THỦ TỤC PHÁ SẢN
1, Khái niệm phá sản, thủ tục phá sản
Phá sản.
“Phá sản” là thuật ngữ được sử dụng để diễn tả tình trạng khó khăn về tài chính của doanh nghiệp mà biểu hiện cụ thể của tình trạng đó là sự mất khả năng
thanh toán nợ đến hạn Điều 3 Luật phá sản 2004 đã ghi rõ “Doanh nghiệp, hợp tác
xã không có khả năng thanh toán được các khoản nợ đến hạn khi chủ nợ có yêu cầu thì coi là lâm vào tình trạng phá sản” Việc DN, HTX không có khả năng thanh
toán được các khoản nợ đến hạn khi chủ nợ có yêu cầu chính là căn cứ để Tòa án quyết định mở thụ tục phá sản
Thủ tục phá sản.
Điều 5 Luật phá sản quy định về thủ tục phá sản như sau:
“1 Thủ tục phá sản được áp dụng đối với doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản bao gồm:
a) Nộp đơn yêu cầu và mở thủ tục phá sản;
b) Phục hồi hoạt động kinh doanh;
c) Thanh lý tài sản, các khoản nợ;
d) Tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã bị phá sản.
Như vậy, thủ tục phá sản là cách thức, trình tự giải quyết phá sản theo quy định của pháp luật Thủ tục phá sản là thủ tục tư pháp đặc biệt do Tòa án tiến hành khi có yêu cầu của người nộp đơn, nhằm giải quyết tranh chấp lợi ích về tài sản phát sinh giữa chủ nợ và con nợ không có khả năng thanh toán được khoản nợ thanh toán
Trang 32, Tính chất của thủ tục phá sản
Thủ tục phá sản là thủ tục đòi nợ tập thể Trong thủ tục phá sản, các chủ nợ không thể tự xé lẻ để đòi nợ riêng cho mình mà tất cả chủ nợ đều phải tập hợp lại thành một chủ thể duy nhất gọi là Hội nghị chủ nợ, đại diện cho các chủ nợ để tham gia vào việc giải quyết phá sản Hội nghị chủ nợ do Tòa án thành lập và triệu tập, quyết định các vấn đề quan trọng liên quan đến sự sống còn của doanh nghiệp con nợ
Thủ tục phá sản là thủ tục pháp lý có tính chất tổng hợp Thủ tục phá sản là thủ tục tư pháp hết sức phức tạp về thứ tự áp dụng không theo một khuôn định sẵn
mà căn cứ vào tình hình thực tế của doanh nghiệp như về tình hình sản xuất kinh doanh, tình hình tài chính hay ý kiến của Hội nghị chủ nợ cũng như nguyện vọng của doanh nghiệp mắc nợ mà Tòa án sẽ lựa chọn thủ tục thích hợp Tính chất phức tạp của nó thể hiện rõ nét trong việc thực hiên nội dung các công việc nhằm giải quyết vụ việc phá sản Nó không đơn thuần chỉ là việc tiến hành như xem xét, quyết định doanh nghiệp có thực sự lâm vào tình trạng phá sản hay không mà còn giải quyết việc quản lý, thanh lý tài sản của doanh nghiệp, thành lập thiết chế quản lý tài sản và đặc biệt trong việc thực hiện phương án phục hồi hoạt động kinh doanh cho doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản
3, Vai trò của thủ tục phá sản.
Với sự ra đời của luật phá sản, thủ tục phá sản có những vai trò như sau:
- Bảo vệ quyền lợi và lợi ích hợp pháp của chủ nợ, con nợ và người lao động Thông qua cơ chế đặc biệt là thủ tục phá sản, chủ nợ thực hiện quyền đòi nợ của mình khi con nợ không có khả năng thanh toán khoản nợ đến hạn
- Tạo ra cơ chế để doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản có cơ hội phục hồi hoạt động sản xuất kinh doanh
- Tạo ra cơ chế để doanh nghiệp thua lỗ rút khỏi thương trường một cách trật tự
- Thúc đẩy hoạt động đầu tư của các nhà kinh doanh
****
Luật phá sản quy định thủ tục phá sản theo hướng có nhiểu thủ tục khác nhau, được
áp dụng đối với DN, HTX lâm vào tình trạng phá sản ở các mức độ khác nhau mà không cần thủ đầy đủ các bước Đối với DN, HTX có khả năng phục hồi, thủ tục phá sản bao gồm:
- Nộp đơn yêu cầu và thụ lý đơn
- Mở thủ tục phá sản
- Phục hồi hoạt động kinh doanh
- Thanh lý tài sản, các khoản nợ
- Tuyên bố DN, HTX bị phá sản
Trang 4Nhóm chúng em xin đóng góp các ý kiến tư vấn cho một DN đã bị Tòa án thụ
lí đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản những vấn đề cần lưu ý để bảo vệ quyền lợi của mình trong thủ tục phá sản theo các giai đoạn trong thủ tục phá sản: Tòa án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản; về việc quyết định mở hay không mở thủ tục phá sản; hội nghị chủ nợ; phục hồi hoạt động kinh doanh; thanh lý tài sản, các khoản nợ; thông báo doanh nghiệp bị phá sản
II TƯ VẤN CHO MỘT DN (ĐÃ BỊ TÒA ÁN THỤ LÝ ĐƠN YÊU CẦU MỞ THỦ TỤC PHÁ SẢN) NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN LƯU Ý ĐỂ BẢO
VỆ QUYỀN LỢI CỦA MÌNH TRONG THỦ TỤC PHÁ SẢN.
1 Tòa án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản
Tòa án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản kể từ ngày người nộp đơn xuất trình biên lại nộp tiền tạm ứng phí phá sản Trường hợp người nộp đơn không phải nộp tiền tạm ứng phí phá sản (người lao động nộp đơn) thì ngày thụ lý đơn là ngày Tòa án nhận được đơn Tòa án phải cấp cho người nộp đơn giấy báo đã thụ lí đơn
Điều 22 Luật phá sản quy định: Sau khi nhận được đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản nếu thấy cần sửa đổi đơn, bổ sung tài liệu thì Tòa án yêu cầu người nộp đơn thực hiện việc sửa đổi, bổ sung trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu của Tòa án Khi nhận đơn yêu cầu, Tòa án cần kiểm tra xem DN bị yêu cầu mở thủ tục phá sản có thuộc danh mục cụ thể do Chính phủ quy định về DN đặc biệt trực tiếp phục vụ quốc phòng an ninh; doanh nghiệp, hợp tác xã hoạt đông trong lĩnh vực tài chính ngân hàng, bảo hiểm và trong các lĩnh vực khác thường xuyên, trực tiếp cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích thiết yếu hay không Nếu DN bị yêu cầu
mở thủ tục phá sản thuộc danh mục cụ thể do Chính phủ quy định, thì tòa án chỉ thụ
lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi hội đủ các điều kiện nộp đơn theo quy định của Chính phủ tại nghị định 67/2006/NĐ-CP Hướng dẫn áp dụng Luật phá sản đối với doanh nghiệp đặc biệt và tổ chức, hoạt động của Tổ quản lý, thanh lý tài sản Sau khi thụ lí đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, việc tiến hành thủ tục phá sản theo đúng quy định của Chính phủ về thi hành Luật phá sản đối với DN này
Tuy nhiên để bảo vệ quyền lợi cho DN trong thủ tục phá sản khi Tòa án đã thụ lí đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản cần chú ý các điểm sau: Theo Điều 23 Luật phá sản, trong trường hợp người nộp đơn không phải là chủ DN tư nhân hoặc đại diện hợp pháp của DN lâm vào tình trạng phá sản thì Tòa án có trách nhiệm thông báo việc thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản cho DN đó biết trong thời hạn 5 ngày kể từ ngày thụ lý Trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được thông báo của Toà án, doanh nghiệp, hợp tác xã phải xuất trình cho Toà án các giấy tờ, tài liệu quy định tại khoản 4 Điều 15 của Luật này; nếu doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản là người bảo lãnh cho người khác thì trong thời hạn năm ngày,
Trang 5kể từ ngày nhận được thông báo của Toà án, doanh nghiệp, hợp tác xã phải thông báo việc mình bị yêu cầu mở thủ tục phá sản cho những người có liên quan biết
Như vậy sau khi Tòa án thụ lí đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản thì việc thông báo đã thụ lí đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản chính là một quyền lợi của DN để DN có thể chuẩn bị những điều kiện cần thiết cho thủ tục phá sản được diễn ra Tuy nhiên, cần phải lưu ý những vấn đề sau:
- Nếu Doanh nghiệp trên hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực bảo hiểm theo Nghị định của Chính phủ số 144/2008/ NĐ – CP ngày 03/11/2008 Hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều của Luật phá sản đối với doanh nghiệp hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực bảo hiểm, chứng khoán và tài chính khác, thì tại Điều 7 về việc Thông báo việc thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản có quy định:
“1 Trường hợp người nộp đơn là chủ doanh nghiệp hoặc đại diện hợp pháp của doanh nghiệp thì trong thời hạn năm (05) ngày kể từ ngày thụ lý đơn, Toà án thông báo cho các cơ quan sau:
a) Bộ Tài chính trong trường hợp nhận được đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp bảo hiểm và doanh nghiệp tài chính khác do Bộ Tài chính cấp giấy phép, quyết định thành lập và hoạt động.
b) Ủy ban chứng khoán Nhà nước trong trường hợp nhận được đơn yêu cầu
mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp chứng khoán.
2 Trường hợp người nộp đơn không phải là chủ doanh nghiệp hoặc không phải là đại diện hợp pháp của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản thì trong thời hạn năm (05) ngày kể từ ngày thụ lý đơn, Toà án thông báo cho doanh nghiệp biết, đồng thời gửi cho cơ quan, tổ chức sau:
a) Bộ Tài chính trong trường hợp nhận được đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp bảo hiểm và doanh nghiệp tài chính khác do Bộ Tài chính cấp giấy phép, quyết định thành lập và hoạt động.
b) Ủy ban chứng khoán Nhà nước trong trường hợp nhận được đơn yêu cầu
mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp chứng khoán.
c) Chủ sở hữu doanh nghiệp trong trường hợp nhận được đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp tài chính khác không do Bộ Tài chính cấp giấy phép, quyết định thành lập và hoạt động”.
- Nếu doanh nghiệp trên là doanh nghiệp đặc biệt theo Nghị định của Chính phủ số 67/2006/NĐ – CP ngày 11/7/2006 về Hướng dẫn việc áp dụng Luật phá sản đối với doanh nghiệp đặc biệt và tổ chức, hoạt động của tổ quản lý, thanh lý tài sản, thì thông báo về việc có đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản được quy định tại Điều 6 của Nghị định
Trang 6Thủ tục phá sản có thể được kết thúc ngay ở giai đoạn nhận và thụ lí đơn nếu Tòa án ra quyết định tuyên bố phá sản vì thấy DN không còn tài sản hoặc còn nhưng không đủ để nộp tiền tạm ứng phí phá sản hoặc để thanh toán phí phá sản
2 Việc quyết định mở hay không mở thủ tục phá sản
Sau khi thụ lí đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, Tòa án phải xem xét và ra quyết định mở hoặc không mở thủ tục phá sản trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày thụ
lí đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản Nếu thấy không đủ căn cứ thì Tòa án ra quyết định không mở thủ tục phá sản Quyết định này phải được gửi cho người làm đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản Trong thời hạn 7 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định không mở thủ tục phá sản, người làm đơn yêu cầu quyền khiếu nại với chánh án Tòa
án đó
Quyết định mở thủ tục phá sản là quyết định có ý nghĩa pháp lý quan trọng, làm phát sinh một loạt các hệ quả pháp lý bất lợi đối với con nợ, chủ nợ và các chủ thể khác có liên quan Đối với DN, khi đã bị Toà án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản thì việc quyết định có hay không mở thủ tục phá sản sẽ quyết định đến tương lai, số phận DN đó Để bảo vệ quyền lợi của mình trong việc mở thủ tục phá sản DN cần lưu ý các vấn đề sau:
Thứ nhất, tại khoản 2 Điều 28 Luật phá sản quy định trước khi ra quyết định
mở hay không mở thủ tục phá sản, Toà án có thể triệu tập phiên họp với sự tham gia của người nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, chủ doanh nghiệp hoặc đại diện hợp pháp của DN, hợp tác xã bị yêu cầu mở thủ tục phá sản, cá nhân, tổ chức có liên quan để xem xét, kiểm tra, đánh giá các căn cứ nhằm chứng minh DN, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản hay chưa Thời hạn ra quyết định mở hoặc không mở thủ tục phá sản là 30 ngày, kể từ ngày thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản (khoản 1 Điều 28)
Như vậy, để Toà án có thể ra quyết định mở thủ tục phá sản đối với DN thì cần phải có những căn cứ pháp lý để chứng minh DN đó thực sự lâm vào tình trạng phá sản hay không Thời hạn 30 ngày kể từ ngày thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản để Toà án xem xét những căn cứ mở thủ tục phá sản đối với DN cũng là cơ hội
để DN có thể bằng một cách hợp pháp nào đó cải thiện tốt hơn tình hình của mình Không những thế, việc Toà án có thể triệu tập phiên họp như quy định tại khoản 2 Điều 28 là điều kiện để DN có thực hiện các biện pháp hoà giải với các bên yêu cầu
và đưa ra những căn cứ chứng minh DN mình còn có khả năng tồn tại Vì thế để đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho mình thì DN đó có thể tận dụng cơ hội trong các cuộc họp như trên
Điều 29 Luật phá sản quy định: trong thời hạn 7 ngày, kể từ ngày ra quyết
định mở thủ tục phá sản Toà án có trách nhiệm gửi quyết định này cho DN, Viện
Trang 7kiểm sát cùng cấp và thông báo cho các chủ nợ, những người mắc nợ của DN lâm vào tình trạng phá sản Đồng thời, quyết định mở thủ tục phá sản phải được đăng trên báo địa phương - nơi DN lâm vào tình trang phá sản có địa chỉ chính và báo hằng ngày của trung ương trong ba số liên tiếp Như vậy, trước khi quyết định mở thủ tục phá sản Toà án phải đảm bảo cho DN biết đầy đủ thông tin Đây cũng là điều kiện tốt để DN có thể kịp thời chuẩn bị về mọi mặt
Khoản 4 Điều 28 quy định: “Toà án ra quyết định không mở thủ tục phá sản
nếu xét thấy doanh nghiệp, hợp tác xã chưa lâm vào tình trạng phá sản” Với quy
định này, khi Toà án đã thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp thì chưa nói lên được việc doanh nghiệp đó có bị phá sản hay không mà cò phải dựa vào những căn cứ xác thực khác Đây cũng là một quy định có lợi, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp
Thứ hai, theo khoản 1 Điều 30 quy định Hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp, hợp tác xã sau khi có quyết định mở thủ tục phá sản: “Mọi hoạt động của
doanh nghiệp, hợp tác xã sau khi có quyết định mở thủ tục phá sản vẫn được tiến hành bình thường, nhưng phải chịu sự giám sát, kiểm tra của Thẩm phán và Tổ quản lí, thanh lí tài sản” Theo đó, việc tiếp tục duy trì hoạt động kinh doanh bình
thường của DN nhằm mục đích tạo cơ hội tái tổ chức hoạt động kinh doanh để cứu vớt doanh nghiệp trước nguy cơ bị phá sản Bởi vậy việc tiếp tục duy trì hoạt động kinh doanh bình thường của DN sau khi có quyết định mở thủ tục phá sản là một điều cần thiết, là một quyền lợi để bảo vệ chính mình
Thứ ba, Tòa án có thể áp dụng các biện pháp cần thiết nhằm bảo toàn tài sản
của DN lâm vào tình trạng phá sản, bao gồm: Tuyên bố vô hiệu giao dịch của DN; đình chỉ việc thực hiện hợp đồng có hiệu lực; kiểm kê tài sản của DN; đăng kí giao dịch bảo đảm Việc bảo toàn khối tài sản của DN có ảnh hưởng quyết định đến hiệu quả giải quyết phá sản
- Theo Điều 44 Luật phá sản về quyền yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch vô
hiệu
“1 Trong quá trình Toà án tiến hành thủ tục phá sản, chủ nợ không có bảo đảm, Tổ quản lý, thanh lý tài sản có quyền yêu cầu Toà án tuyên bố các giao dịch của doanh nghiệp, hợp tác xã quy định tại khoản 1 Điều 43 của Luật này là vô hiệu.
2 Tổ trưởng Tổ quản lý, thanh lý tài sản có trách nhiệm tổ chức thi hành quyết định của Toà án tuyên bố giao dịch của doanh nghiệp, hợp tác xã là vô hiệu để thu hồi lại tài sản cho doanh nghiệp, hợp tác xã”.
- Theo Điều 45 Đình chỉ thực hiện hợp đồng đang có hiệu lực: “1 Trong
quá trình tiến hành thủ tục phá sản nếu xét thấy việc đình chỉ thực hiện hợp đồng đang có hiệu lực và đang được thực hiện hoặc chưa được thực hiện sẽ có lợi hơn cho doanh nghiệp, hợp tác xã thì hợp đồng đó bị đình chỉ thực hiện.
Trang 82 Chủ nợ, doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản, Tổ trưởng Tổ quản lý, thanh lý tài sản có quyền yêu cầu Toà án ra quyết định đình chỉ thực hiện hợp đồng”.
Theo Nghị quyết số 03/2005/ NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì được coi là có lợi hơn cho DN trong việc đình chỉ thực hiện hợp đồng đã có hiệu lực pháp luật khi: các thiệt hại tài sản tạm tính (với tư cách là hậu quả pháp lí xấu) mà DN phải gánh chịu nếu đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng nhỏ hơn các thiệt hại tạm tính (các khoản lỗ, thiệt hại) mà DN, HTX phải gánh chịu nếu phải tiếp tục thực hiện hợp đồng
- DN có quyền khiếu nại với Tòa án danh sách chủ nợ, danh sách người mắc
nợ do Tổ quản lý, thanh lý tài sản lập trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày danh sách đó được niêm yết tại trụ sở Tòa án
- Trong trường hợp cần thiết, theo đề nghị của tổ quản lí, thanh lí tài sản, thẩm phán phụ trách thủ tục phá sản có quyền quyết định áp dụng một hoặc một số biện pháp khẩn cấp tạm thời nhằm bảo toàn tài sản của DN lâm vào tình trạng phá sản Tuy nhiên theo quy định của Luật phá sản thì quyền ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của thẩm phán cũng chỉ được thực hiện sau khi có quyết định mở thủ tục phá sản Các biện pháp khẩn cấp tạm thời mà thẩm phán có thể
quyết định áp dụng được quy định tại Điều 55.
Khi áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, tùy tính chất của vụ việc và yêu cầu của việc áp dụng mà thẩm phán xem xét, đánh giá một cách thận trọng về quyết định áp dụng một hay một số biện pháp khẩn cấp tạm thời Việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phải nhằm mục đích bảo toàn tài sản của DN nhưng không được làm ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của DN Tuy nhiên biện pháp khẩn cấp tạm thời như: kê biên, niêm phong tài sản; niêm phong kho, quỹ, thu giữ và quản lý
sổ kế toán, tài liệu có liên quan cũng như phong tỏa tài khoản chỉ được thẩm phán quyết định áp dụng đối với DN bị mở thủ tục phá sản
DN áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời có quyền khiếu nại với chánh án Tòa án trong thời hạn 3 ngày kể từ ngày nhận được quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Tòa án Trường hợp có khiếu nại đối với quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì trong thời hạn 3 ngày kể từ ngày được nhận đơn khiếu nại, chánh án Tòa án phải ra một trong các quyết định sau đây:
+ Giữ nguyên quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời;
+ Hủy một phần hoặc toàn bộ quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời (Điều 56)
- Theo Điều 54 Luật phá sản quy định về đăng ký giao dịch bảo đảm của
doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản: “Doanh nghiệp, hợp tác xã
lâm vào tình trạng phá sản cho người khác vay tài sản có bảo đảm phải đăng ký
Trang 9theo quy định của pháp luật nhưng chưa đăng ký thì Tổ trưởng Tổ quản lý, thanh lý tài sản phải thực hiện ngay việc đăng ký giao dịch bảo đảm đó” Đăng kí nhằm thiết
lập quyền ưu tiên thanh toán đối với tài sản bảo đảm từ thời điểm đăng kí giao dịch bảo đảm Mọi quyền lợi của cá nhân, tổ chức trong một giao dịch bảo đảm nếu chưa đăng kí hoặc đăng kí sau giao dịch bảo đảm khác thì quyền ưu tiên thanh toán vẫn thấp hơn, cho dù giao dịch đó có được xác lập trước về thời gian theo cách thức hợp pháp Do đó, việc đăng kí giao dịch bảo đảm của DN lâm vào tình trạng phá sản càng sớm bao nhiêu càng bảo vệ được tối đa quyền, lợi ích của doanh nghiệp đó bấy nhiêu
Thứ tư, đình chỉ thi hành án dân sự, đình chỉ giải quyết vụ án và giải quyết
vụ án bị đình chỉ trong thủ tục phá sản quy định tại Điều 57 Kể từ ngày Tòa án ra
quyết định mở thủ tục phá sản, việc thi hành án dân sự về tài sản mà DN lâm vào tình trạng phá sản là người phải thi hành cũng như việc giải quyết các vụ án có liên quan đến nghĩa vụ tài sản mà DN là một bên đương sự trong vụ án đó phải được đình chỉ Trường hợp việc thi hành án dân sự về tài sản mà DN lâm vào tình trạng phá sản là người phải thi hành án bị đình chỉ thì người được thi hành án có quyền nộp đơn cho Tòa án yêu cầu được thanh toán trong khối tài sản cho doanh nghiệp như một chủ nợ không có bảo đảm hoặc như một chủ nợ có bảo đảm, nếu có bản án, quyến định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật kê biên tài sản của DN để bảo đảm thi hành án
Quy định này của Luật phá sản thể hiện sự quan tâm, ưu tiên hàng đầu của các nhà lập pháp đối với thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh của DN lâm vào tình trạng phá sản Việc đình chỉ thi hành án dân sự về tài sản mà DN lâm vào tình trạng phá sản là người có nghĩa vụ phải thi hành nhằm bảo đảm duy trì một khối lượng tài sản cần thiết cho DN bị mở thủ tục phá sản có khả năng tốt nhất để phục hồi hoạt động kinh doanh Ngoài ra quy định này cũng thể hiện sự bình đẳng giữa các chủ nợ trong vụ việc phá sản với người được thi hành án dân sự khi người phải thi hành án dân sự là DN lâm vào tình trạng phá sản
3 Hội nghị chủ nợ
Phá sản là một thủ tục đòi nợ tập thể nên pháp luật phá sản đã quy định cách thức cho các chủ nợ được tham gia một cách hiệu quả vào quá trình giải quyết phá sản của DN, đó là thông qua Hội nghị chủ nợ Hội nghị chủ nợ với tư cách đại diện duy nhất cho ý chí của các bên chủ nợ có quyền quyết định chấp nhận hay không chấp nhận phương án phục hồi hoạt động kinh doanh của DN Đây được coi là quyền năng quan trọng của Hội nghị chủ nợ, nếu không đồng ý với phương án của con nợ thì bất chấp ý kiến phục hồi của con nợ Hội nghị chủ nợ quyết định không phục hồi hoạt động của con nợ Thậm chí nếu được chấp nhận phương án phục hồi
Trang 10hoạt động của con nợ nhưng Hội nghị chủ nợ xét thấy việc tiến hành phương án đó không mang lại kết quả, họ có quyền yêu cầu thẩm phán ban hành quyết định áp dụng thủ tục thanh lí đối với con nợ
Theo quy định của Luật phá sản thì Hội nghị chủ nợ có quyền quyết định các vấn đề quan trọng sau:
- Điều 71 quy định về việc Thảo luận và thông qua phương án phục hồi hoạt
động kinh doanh của DN do DN hoặc bất kì chủ nợ, người thứ ba nào đệ trình
- Hội nghị chủ nợ do thẩm phán phụ trách vụ án triệu tập và chủ trì quyết định những vấn đề quan trọng liên quan đến quyền lợi của các chủ nợ Hội nghị chủ
nợ có thể diễn ra nhiều lần, tuy nhiên hội nghị chủ nợ lần thứ nhất có ý nghĩa pháp lí quan trọng cũng như mang các yếu tố có lợi cho DN sau khi bị Tòa án mở thủ tục
phá sản với các nội dung chính quy định tại Điều 64 :
+ Thứ nhất, Tổ trưởng Tổ quản lí, thanh lí tài sản thông báo cho Hội nghị chủ
nợ về tình hình kinh doanh, thực trang phá sản và kết quả kiểm kê tài sản, danh sách chủ nợ, danh sách người mắc nợ và các nội dung khác xét thấy cần thiết
+ Thứ hai, Chủ doanh nghiệp hoặc người đại diện hợp pháp của DN trình bày
ý kiến về các nội dung do Tổ trưởng Tổ quản lí, thanh lí tài sản đã thông báo cho Hội nghị, đề xuất các phương án, giải pháp tổ chức lại hoạt động kinh doanh, khả năng và thời hạn thanh toán nợ;
+ Thứ ba, Hội nghị chủ nợ thảo luận về các nội dung đề ra;
+ Thứ tư, Hội nghị chủ nợ thông qua nghị quyết;
+ Thứ năm, nếu Hội nghị chủ nợ xét thấy phải thay người đại diện cho các chủ nợ trong thành phần Tổ quản lý, thanh lí tài sản thì hội nghị bầu người thay thế
+ Cuối cùng, đề nghị thẩm phán ra quyết định cử người quản lí và điều hành hành hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản
Sau khi Hội nghị chủ nợ lần thứ nhất diễn ra nếu thấy cần phải tổ chức Hội nghị chủ nợ tiếp theo thì các Hội nghị chủ nợ tiếp theo có thể được Thẩm phán triệu tập theo đề nghị của Tổ quản lý, thanh lý tài sản hoặc của các chủ nợ đại diện cho ít nhất một phần ba tổng số nợ không có bảo đảm (Khoản 2, Điều 61 Luật phá sản)
Kết quả của Hội nghị chủ nợ lần thứ nhất có liên quan trực tiếp đến lợi ích của DN Sau Hội nghị chủ nợ lần thứ nhất, có thể phương án hoạt động kinh doanh, phục hồi của DN được thông qua hoặc không thông qua Trong trường hợp Hội nghị chủ nợ lần thứ nhất không thành vì họ cho rằng phương án này không khả thi hoặc nếu áp dụng sẽ gây thiệt hại thêm cho các chủ nợ và cho DN, Tòa án sẽ quyết định
mở thủ tục thanh lí tài sản để thanh toán cho các chủ nợ
Còn trường hợp phương án, kế hoạch phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp được thông qua, DN sẽ có cơ hội thoát khỏi tình trạng mất khả năng thanh toán nợ, tạo cơ hội cho chủ nợ và con nợ thỏa thuận tái tổ chức kinh doanh và