Từ khái niệm này thì ta có thể hiểu khái niệm việc làm đối với NKT là : “ Các hoạt động tạo ra thu nhập cho người khuyết tật và không bị pháp luật cấm”4.. Thực tế hiện nay những người sử
Trang 1Mục lục Trang
A LỜI MỞ ĐẦU………. 1
B NỘI DUNG……… 1
I Khái quát chung về NKT, pháp luật NKT……… 1
1 Định nghĩa người khuyết tật……… 1
2 Đặc điểm NKT……… 1
3 Khái quát chung về luật người khuyết tật……… 2
II Quy định của pháp luật về việc làm đối với NKT……… 2
1 Khái niệm, nguyên tắc và ý nghĩa của việc làm đối với NKT… 2 1.1 Khái niệm việc làm đối với NKT……… 3
1.2 Nguyên tắc cơ bản của việc làm đối với NKT……… 3
1.3 Ý nghĩa của việc làm đối với NKT……… 4
2 Chế độ việc làm của NKT……… 5
2.1 Quyền và nghĩa vụ của NKT trong lĩnh vực việc làm……. 5
2.2 Chế độ hỗ trợ đối với NKT trong lĩnh vực việc làm……… 6
2.3 Trách nhiệm của một số chủ thể trong lĩnh vực việc làm đối với NKT. 7 III Thực tiễn giải quyết việc làm đối với NKT ở Việt Nam hiện nay………
8 1 Kết quả đạt được……… 8
2 Một số hạn chế……… 10
IV. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác giải quyết việc làm đối với người khuyết tật………
13 C KẾT LUẬN………. 15
0
Trang 2A LỜI MỞ ĐẦU
Người khuyết tật ( NKT) là đối tượng chịu nhiều thiệt thòi trong xã hội, chính vì thế, việc bảo vệ, chăm sóc, giáo dục và tạo việc làm cho người khuyết tật, giúp họ vượt qua những khó khăn, hòa nhập vào đời sống cộng đồng, xã hội là những hoạt động có ý nghĩa kinh tế, chính trị, xã hội và nhân văn sâu sắc Đã từ lâu, Đảng và Nhà nước ta dành rất nhiều sự quan tâm cho đối tượng này, bằng những chính sách ưu tiên, ưu đãi, bằng tình thương và tấm lòng nhân ái của toàn xã hội, ngày càng có nhiều NKT được giúp đỡ để vượt qua những khó khăn, bất hạnh trong cuộc sống Tuy nhiên, do số lượng NKT ở nước ta còn nhiều ( hơn 5.3 triệu người) , họ vẫn còn gặp nhiều khó khăn trên con đường làm chủ cuộc sống và hoà nhập cộng đồng, đặc biệt là vấn đề việc làm Để hiểu thêm về
vấn đề này thì em xin đi sâu vào tìm hiểu vấn đề: “ Quy định của pháp luật và thực tiễn
giải quyết việc làm đối với NKT ở Việt Nam hiện nay”.
B NỘI DUNG
I Khái quát chung về NKT, pháp luật NKT.
1 Định nghĩa người khuyết tật.
Hiện nay, có rất nhiều quan điểm về NKT Theo quy định tại khoản 1 Điều 2 Luật
Người Khuyết tật thì NKT được hiểu là : “ Người bị khiếm khuyết một hay nhiều bộ phận
cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn”1 Cách hiểu này dựa vào mô hình xã hội tuy nhiên khái niệm
này còn chung chung và chưa đề cập được đến quyền của NKT Tiếp cận một cách toàn diện và đầy đủ dưới góc độ quyền con người với những rào cản do yếu tố xã hội, môi trường, con người khi tham gia vào mọi hoạt đông kinh tế- văn hóa- xã hội thì người
khuyết tật được hiểu là : “ Người bị khiếm khuyết một hay nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng dẫn đến những hạn chế đáng kể và lâu dài trong việc tham gia của người khuyết tật vào hoạt động xã hội trên cơ sở bình đẳng với những chủ thể khác”2.
2 Đặc điểm người khuyết tật.
Người khuyết tật trước hết là những con người nên họ mang những đặc điểm chung
về mặt kinh tế - xã hội, đặc điểm tâm sinh lí như mọi người khác trong xã hội Tuy nhiên, với những đặc điểm riêng về từng dạng khuyết tật nên nhóm người khuyết tật nói chung lại có những nét đặc thù so với nhóm người không khuyết tật và mỗi nhóm người khuyết tật dạng này lại có nét đặc thù tương đối so với nhóm người khuyết tật khác
● Đặc điểm của người khuyết tật dưới góc độ kinh tế - xã hội:
1 Khoản 1 Điều 2 Luật Người Khuyết tật
2 Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật người khuyết tật Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, tr 21
1
Trang 3Từ góc độ kinh tế, khuyết tật là nguyên nhân làm giảm cơ hội việc làm, phát triển kinh tế; khả năng sống độc lập khó hơn đối tượng khác (phụ thuộc vào gia đình, người thân, ), không chỉ bản thân người khuyết tật gặp khóc khăn về kinh tế mà còn gặp khó khăn cho gia đình, cộng đồng.
Từ góc độ xã hội, người khuyết tật gặp khó khăn trong sinh hoạt, học tập, gặp rào cản trong hòa nhập (gia đình, cộng đồng, học tập,…), có xu hướng thu hẹp, tách biệt cộng đồng Những khó khăn càng trở lên trầm trọng hơn do thái độ tiêu cực của cộng đồng đối với người khuyết tật.
● Đặc điểm người khuyết tật dưới góc độ dạng tật và mức khuyết tật:
Các dạng tật và mức độ khuyết tật cũng như việc xác định mức độ khuyết tật được quy định chi tiết trong Luật người khuyết tật Việt Nam và Nghị định 28/2012/NĐ-CP ngày 10 tháng 04 năm 2012 của Chính phủ về việc quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật người khuyết tật năm 2010
3 Khái quát chung về luật người khuyết tật.
3.1 Khái niệm Luật người khuyết tật
Luật người khuyết tật là tổng thể các quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình đảm bảo các quyền
và trách nhiệm của người khuyết tật.
3.2 Các nguyên tắc cơ bản của luật người khuyết tật Việt Nam
Dưới góc độ lí luận nhà nước và pháp luật, các nguyên tắc của pháp luật được hiểu
là quan điểm, tư tưởng chỉ đạo trong quá trình ban hành, thực thi, áp dụng, sửa đổi, bổ sung pháp luật Luật người khuyết tật 2010 của Việt Nam không có điều luật cụ thể quy định về các nguyên tắc Tuy nhiên, trên cơ sở nội dung pháp luật đã được ban hành và thực tiễn thực hiện ở Việt Nam có thể xác định một số nguyên tắc cơ bản của pháp luật người khuyết tật như sau: Nguyên tắc tôn trọng và đảm bảo quyền của người khuyết tật; nguyên tắc bình đẳng và không phân biệt đối xử; nguyên tắc tham vấn người khuyết tật, đối tác xã hội và tổ chức xã hội; nguyên tắc đảm bảo quyền được tiếp nhận, hỗ trợ và điều chỉnh hợp lí đối với người khuyết tật; nguyên tắc bảo đảm hội nhập và thực thi các cam kết quốc tế.
II Quy định của pháp luật về việc làm đối với NKT.
1 Khái niệm, nguyên tắc và ý nghĩa của việc làm đối với NKT.
1.1 Khái niệm việc làm đối với NKT.
Việc làm theo cách hiểu đơn thuần là một hoặc tập hợp một số công việc mà người lao động tiến hành để có thu nhập nhằm thỏa mãn những nhu cầu của đời sống xã hội
2
Trang 4Ở Việt Nam, thì khái niệm việc làm được chính thức ghi nhận trong bộ luật Lao
động năm 1994, cụ thể việc làm được hiểu là : “ Mọi hoạt động lao động nhằm tạo ra thu nhập và không bị pháp luật cấm”3 Theo định nghĩa này thì việc làm có thể được hiểu là
những hoạt động lao động có tính chất thường xuyên liên tục và mang tính nghề nghiệp,
do những người lao động thực hiện trong thời gian tương đối ổn định và phạm vi nhất định nhằm tạo ra thu nhập và hoạt động đó phải là hoạt động hợp pháp Từ khái niệm này
thì ta có thể hiểu khái niệm việc làm đối với NKT là : “ Các hoạt động tạo ra thu nhập cho người khuyết tật và không bị pháp luật cấm”4 Tuy nhiên, việc làm cho NKT là đề cập
dưới góc độ cơ hội việc làm cho họ Việc làm ở đây bao gồm cả việc tiếp nhận đào tạo nghề, được tiếp nhận việc làm và các loại nghề nghiệp và cả điều kiện sử dụng lao động cũng như đảm bảo việc làm Như vậy, theo quy định pháp luật thì NKT được tạo cơ hội việc làm bình đẳng như những người lao động khác.
1.2 Nguyên tắc cơ bản của việc làm đối với NKT.
Để NKT có cơ hội và điều kiện làm việc bình đẳng như những người lao động khác
● Nguyên tắc không phân biệt đối xử đối với NKT trong lĩnh vực việc làm:
Nguyên tắc này xuất phát từ vấn đề quyền con người NKT bị khiếm khuyết một hay nhiều bộ phận nên có được việc làm đối với họ rất khó khăn Thực tế hiện nay những người sử dụng lao động không muốn nhận những NKT mặc dù trong luật có quy định bởi
vì năng suất lao động của NKT thấp hơn so với người không khuyết tật, hơn nữa trong một số trường hợp sử dụng lao động khuyết tật thì người sử dụng lao động còn phải đầu tư
cơ sở vật chất để tạo môi trường làm việc thuận lợi cho NKT Chính điều này tạo nên sự phân biệt đối xử việc làm giữa NKT và người không khuyết tật Phân biệt đối xử bao gồm phân biệt đối xử trực tiếp ( là sự đối xử không công bằng giữa người lao động khuyết tật
và người lao động không khuyết tật được quy định trong luật pháp hoặc các thông lệ thực tiễn gây nên sự khác biệt rõ ràng giữa những người lao động này) và phân biệt đối xử gián tiếp ( Là những quy định pháp luật hoặc các thông lệ thực tiễn gián tiếp làm triệt bỏ hoặc làm phương hại sự bình đẳng cơ may hoặc đối xử giữa nhưng NKT và người không khuyết tật trên thực tế).
Nguyên tắc này được hiểu là việc NKT và người không khuyết tật được đối xử bình đẳng như nhau về việc làm, cơ hội tìm việc làm cũng như quá trình sử dụng lao động và bảo đảm việc làm
● Nguyên tắc hỗ trợ, điều chỉnh hợp lý đối với NKT trong lĩnh vực việc làm.
3 Điều 13, Bộ Luật Lao động năm 1994 ( Sửa đổi năm 2007).
4 Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật người khuyết tật Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, tr 204
3
Trang 5NKT là một trong những đối tượng lao động đặc thù Do những đặc điểm về thể chất
nên họ gặp nhiều khó khăn trong tìm kiếm việc làm cũng như duy trì việc làm, hơn thế họ cần được làm việc trong một môi trường đặc thù, riêng biệt phù hợp với sức khỏe Để NKT bình đẳng như người khác về cơ hội việc làm cũng như duy trì nó thì cần phải có sự
hỗ trợ, điều chỉnh hợp lý cho NKT để họ có thể tìm kiếm được việc làm và có được việc làm bền vững, được thực hiện quyền việc làm của mình Đặc biệt là đối với nữ lao động khuyết tật, những người thường phải đối mặt với những bất lợi, khó khăn hơn lao động nam khuyết tật bởi họ còn bị phân biệt đối xử về giới Những hỗ trợ đặc biệt nhằm tạo cơ hội bình đẳng và đối xử bình đẳng giữa lao động khuyết tật với lao động không khuyết tật không bị coi là phân biệt đối xử mà chỉ là việc làm nhằm tạo điều kiện để NKT được bình đẳng ngang bằng với những người lao động khác, giúp họ tái hòa nhập với cộng đồng Để việc hỗ trợ, điều chỉnh này được đảm bảo thực thi trên thực tế thì Nhà nước với tư cách là chủ thể quyền lực phải chịu trách nhiệm chình trong việc hỗ trợ, điều chỉnh này Bản thân NKT cũng phải có những cố gắng nhất định và người sử dụng lao động cũng phải có trách nhiệm hỗ trợ một phần.
1.3 Ý nghĩa của việc làm đối với NKT.
Đối với chúng ta, việc làm có ý nghĩa rất quan trọng bởi nó tạo ra thu nhập để thỏa mãn những nhu cầu lợi ích, duy trì cuộc sống Đối với NKT, việc làm lại càng ý nghĩa
■ Việc làm giúp người khuyết tật có thu nhập và cuộc sống ổn định
Từ xa xưa, theo quan niệm truyền thống và đạo đức thì người ta thường nhìn nhận NKT là một đối tượng yếu thế cần được trợ giúp, họ thường sống dựa vào gia đình, xã hội, cộng đồng Chính vì thế xã hội và những người thân cần phải giúp đỡ, hỗ trợ họ Tuy
nhiên, chính thái độ này làm cho NKT cảm thấy mình là người “ ăn bám, gánh nặng” Do
vậy, nếu NKT có việc làm thì đời sống vật chất và tinh thần của họ sẽ được nâng cao: Họ
có thu nhập để nuôi sống bản thân không cần phải sống dựa vào người khác, thậm chí họ còn hỗ trợ gia đình, đóng góp cho xã hội Các nhìn về người lao động cũng sẽ thay đổi,
họ trở thành một chủ thể của xã hội, cũng có quyền được làm việc, được đóng góp, cống hiến sức lao động của mình cho xã hội như bao người bình thường khác.
■ Việc làm giúp NKT hòa nhập vào cộng đồng và tự tin hơn vào cuộc sống:
Những NKT do những khiếm khuyết về thể chất và tinh thần và thái độ của xã hội dành cho họ nên đa số NKT luôn trong tình trạng tự ti, mặc cảm với số phận kém may mắn, phó mặc số phận cho ông trời và chỉ biết dựa vào gia đình hoặc của cộng đồng, họ ngại hòa nhập với cuộc sống, họ không tự tin trong cuộc sống, thu hẹp mình lại, ngại giao tiếp Chính vì thế nếu có việc làm, được đóng góp sức mình vào sự phát triển chung của xã hội thì NKT sẽ cảm thấy tự tin trong cuộc sống, có ý chí vươn lên trong
4
Trang 6cuộc sống và lao động như những người bình thường khác và có thể hòa nhập được với cộng đồng bởi trong môi trường làm việc thì họ được tiếp xúc với nhiều người, được đóng góp sức của mình, cảm thấy mình có ích Bên cạnh đó thì việc làm cũng xây dựng lòng tin và tạo ra các kênh tương tác xã hội, từ đó mang lại lòng tự hào và nhân phẩm
cho người khuyết tật Có thể nói : “ Việc làm là công cự quan trọng nhất để có thể tái hòa đồng những người thường có xu hướng bị bỏ bên rìa xã hội”.
■ Việc làm cho NKT góp phần phát huy nguồn lực cho xã hội:
NKT là một bộ phận cấu thành của xã hội không thể tách rời và họ cũng có trách
nhiệm trong việc tham gia vào các hoạt động của cộng đồng, đóng góp sức mình vào sự phát triển chung của cả xã hội và cũng được hưởng những thành quả khoa học- công nghệ Nhưng do những khiếm khuyết về thể chất và tinh thần mà họ gặp rất nhiều khó khăn và cản trở khi tham gia vào các hoạt động cộng đồng Việc có việc làm sẽ giúp họ đóng góp được sức mình Tuy nhiên, nếu được tạo điều kiện thuận lợi và tự mình vươn lên thì người khuyết tật có thể sống, hoạt động và phát huy được năng lực và nguồn lực, đóng góp vào sự phát triển nền kinh tế đất nước.
2 Chế độ làm việc của NKT.
2.1 Quyền và nghĩa vụ của NKT trong lĩnh vực việc làm.
NKT khi tham gia vào các quan hệ lao động thì trở thành chủ thể của quan hệ lao động, chính vì vậy, NKT cũng có những quyền và nghĩa vụ giống như những người lao động không bị khuyết tật ở trong các lĩnh vực như tuyển dụng lao động, giao kết hợp đồng, sử dụng lao động, bảo đảm việc làm Tuy nhiên do những khiếm khuyết về thể chất hoặc tinh thần mà pháp luật có một số quy định riêng đối với NKT nhằm tạo những cơ hội, điều kiện phù hợp Cụ thể là khi tham gia vào quan hệ lao động thì NKT
được giảm giờ làm, “Thời giờ làm việc của người tàn tật không được quá bảy giờ một ngày hoặc 42 giờ một tuần”5 Đặc biệt, để bảo vệ sức khỏe cho NKT thì pháp luật còn quy định : “Người sử dụng lao động không được sử dụng lao động là người tàn tật làm những công việc nặng nhọc, nguy hiểm hoặc tiếp xúc với các chất độc hại theo danh mục do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và Bộ Y tế ban hành”6, “Cấm sử dụng người tàn tật đã bị suy giảm khả năng lao động từ 51% trở lên làm thêm giờ, làm việc ban đêm”7 Như vậy, nhìn ở một góc độ nào đó thì những quy định pháp luật trên là
nhằm bảo vệ NKT, đảm bảo sức khỏe của họ Tuy nhiên, những quy định pháp luật trên lại chình là rào cản đối với họ bởi thực tế người sử dụng lao động sẽ không muốn sử dụng lao động là NKT bởi năng suất lao động của NKT thấp hơn người không khuyết
5 Khoản 4, Điều 125 Bộ luật lao động Việt Nam 1994 ( sửa đổi năm 2007)
6 Khoản 3, Điều 127 Bộ luật lao động Việt Nam 1994 ( sửa đổi năm 2007)
7 Khoản 2, Điều 127 Bộ luật lao động Việt Nam 1994 ( sửa đổi năm 2007)
5
Trang 7tật, và để sử dụng lao động là NKT thì cần phải đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật để người khuyết tật có môi trường làm việc thuận lợi, tránh rủi ro Bởi vậy, trong thời gian tới chúng ta cần thay đổi những quy định trên cho phù hợp và đảm bảo hiện quả thực thi
2.2 Chế độ hỗ trợ đối với người khuyết tật trong lĩnh vực việc làm.
Do NKT thường có những khiếm khuyết về thể chất hoặc tinh thần mà năng suất lao
động của họ thường thấp hơn so với những người không khuyết tật Chính điều này mà những người sử dụng lao động thường không muốn nhận NKT vào cơ sở sản xuất của mình Để tạo cơ hội cho những NKT có việc làm thì nhà nước ta có những chính sách hỗ
trợ, ưu đãi đối với các doanh nghiệp này Cụ thể tại Điều 34 Luật người khuyết tật có quy
định : “ Cơ sở sản xuất, kinh doanh sử dụng từ 30% tổng số lao động trở lên là người khuyết tật được hỗ trợ cải tạo điều kiện, môi trường làm việc phù hợp cho người khuyết tật; được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp; được vay vốn với lãi suất ưu đãi theo dự án phát triển sản xuất kinh doanh; được ưu tiên cho thuê đất, mặt bằng, mặt nước và miễn, giảm tiền thuê đất, mặt bằng, mặt nước phục vụ sản xuất, kinh doanh theo tỷ lệ lao động
là người khuyết tật, mức độ khuyết tật của người lao động và quy mô doanh nghiệp”8 Bên cạnh đó thì pháp luật còn quy định các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương lập
quỹ việc làm cho người khuyết tật để giúp NKT phục hồi chức năng lao động và tạo việc làm Quỹ này được sử dụng với mục đích là : cấp hỗ trợ cho các cơ sở sản xuất kinh doanh dành riêng cho người khuyết tật để xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật ban đầu, duy trì việc dạy nghề và phát triển sản xuất, để từ đó các doanh nghiệp sẽ nhận nhiều người khuyết tật vào làm việc Bên cạnh đó thì còn chính sách cho vay với lãi suất thấp đối với các đối tượng : Cơ sở dạy nghề, cơ sở sản xuất kinh doanh dành riêng cho người tàn tật;
Cá nhân và nhóm lao động là người tàn tật; Cơ sở dạy nghề có nhận người tàn tật vào học nghề; Doanh nghiệp nhận số lao động là người tàn tật vào làm việc cao hơn tỷ lệ quy định trong luật; Các hoạt động phục hồi chức năng lao động cho người tàn tật.
Cơ sở dạy nghề và những cơ sở sản xuất kinh doanh dành riêng cho NKT “có trên 51% số lao động là người khuyết tật, có quy chế hoặc điều lệ phù hợp với đối tượng là động là người tàn tật”9 được giúp cơ sở vật chất ban đầu về nhà xưởng, trường, lớp, trang thiết bị, được miễn thuế, được vay vốn với lãi suất thấp.
2.3 Trách nhiệm của một số chủ thể trong lĩnh vực việc làm đối với NKT.
■ Trách nhiệm của Nhà nước: NKT cũng là một công dân, là lực lượng lao động
của xã hội nên với vai trò là chủ thể quyền lực, nhà nước có trách nhiệm : “ Giải quyết việc làm, đảm bảo cho mọi người có khả năng lao động đều có cơ hội có việc làm” Bên
8 Điều 34 Luật Người khuyết tật năm 2010
9 Điều 3, Nghi định số 81/1995/NĐ-CP ngày 23/11/1995 của Chính phủ về quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều Bộ Luật Lao động về lao động là người tàn tật.
6
Trang 8cạnh đó thì nhà nước còn có trách nhiệm tạo điều kiện để NKT phục hồi chức năng lao động, được tư vấn việc làm miễn phí, có việc làm và việc làm phù hợp với sức khỏe Điều này được ghi nhận tại điều 33 Luật Người khuyết tật và tại điều 125 Bộ luật lao
động có quy định : “ Nhà nước bảo hộ quyền làm việc của người tàn tật và khuyến khích việc thu nhận, tạo việc làm cho người tàn tật Hàng năm, thì nhà nước dành một khoản ngân sách để giúp người tàn tật phục hồi sức khỏe, phục hồi chức năng lao động, học nghề và có chính sách cho vay với lãi suất thấp để người tàn tật tự tạo việc làm và tự ổn định đời sống”10
■ Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân: Giải quyết việc làm
cho NKT không chỉ là trách nhiệm của nhà nước mà còn là trách nhiệm của toàn xã hội.
Cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân vì vậy cũng phải có trách nhiệm giải quyết việc làm cho NKT Cụ thể:
+ Các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân không được từ chối tuyển dụng NKT có đủ tiêu chuẩn tuyển dụng và làm việc hoặc đặt ra tiêu chuẩn tuyển dụng trái quy định của pháp luật nhằm hạn chế cơ hội việc làm của NKT Các doanh nghiệp phải
có trách nhiệm nhận tỉ lệ lao động là NKT đối với một số ngành nghề công việc theo quy định của pháp luật hoặc đóng góp một khoản tiền theo quy định của chính phủ vào quỹ việc làm để góp phần giải quyết việc làm cho NKT
+ Các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân có trách nhiệm bố trí sắp xếp công việc, bảo đảm điều kiện và môi trường làm việc phù hợp cho NKT, đồng thời phải thực hiện đầy đủ các quy định của pháp luật về lao động với NKT Tổ chức việc làm có trách nhiệm giới thiệu việc làm và tư vấn học nghề, việc làm cho NKT.
IV Thực tiễn giải quyết việc làm đối với NKT ở Việt Nam hiện nay.
1 Kết quả đạt được.
Cả nước hiện nay có khoảng 5,1 triệu NKT, chiếm khoảng 6% dân số, trong đó có 1,1 triệu khuyết tật nặng, chiếm 21,5% tổng số NKT Bao gồm 29% khuyết tật vận động, 17% tâm thần, 14% tật thị giác, 9% tật thính giác, 7% tật ngôn ngữ, 7% trí tuệ và 17% các dạng tật khác Tỷ lệ nam là NKT cao hơn nữ Nguyên nhân gây nên khuyết tật có tới 36% bẩm sinh, 32% do bệnh tật, 26% do hậu quả chiến tranh và 6% do tai nạn lao động11 Dự báo trong nhiều năm tới số lượng NKT ở Việt Nam chưa giảm do tác động của ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng của chất độc hoá học do Mỹ sử dụng trong chiến tranh Việt Nam, tai nạn giao thông và tai nạn lao động, hậu quả thiên tai…Số lượng NKT rất nhiều tuy nhiên vấn đề giải quyết việc làm cho đối tượng này hiện nay tuy gặp nhiều khó khăn Để
10 Điều 125, Bộ Luật Lao động năm 1994 ( sửa đổi năm 2007).
11 http://suckhoedoisong.vn/2012041705274634p61c67/nhieu-rao-can-thieu-chinh-sach.htm
7
Trang 9thực hiện tốt vấn đề giải quyết việc làm cho NKT thì Đảng và nhà nước đã ban hành những quy định pháp luật tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho việc thực hiện trên thực tế, nhìn chung thì đã tương đối đủ, đặc biệt là đã có những quy định về việc làm đối với NKTnhư đã ban hành các chính sách khuyến khích các doanh nghiệp sử dụng lao động là NKT; đối với hoạt động tạo việc làm cho NKT phải đảm bảo bình đẳng trong tuyển dụng,
sử dụng, bố trí công việc, cải tạo cơ sở vật chất bảo đảm môi trường tiếp cận để NKT làm công việc như những người bình thường khác ….Việc ban hành các văn bản điều chỉnh vấn đề việc làm cho người khuyết tật đã góp phần không nhỏ vào những thành quả trong công tác giải quyết việc làm cho NKT Cụ thể:
Hiện nay, trên cả nước đã có nhiều cơ sở sản xuất kinh doanh có NKT Qua thống
kê, cả nước hiện có hơn 400 cơ sở sản xuất kinh doanh của NKT, thu hút trên 15.000 lao động khuyết tật tham gia, trong đó Hội Người mù có 146 cơ sở với khoảng 4.000 lao động Các cơ sở này thường nhận lao động khuyết tật ở mọi hình thức sau đó phân loại, hướng nghiệp dạy nghề, giải quyết việc làm cho họ Ví dụ như HTX thủ công mỹ nghệ
An Dương ở thị trấn Rế (huyện An Dương), ngày càng có thêm nhiều lao động khuyết tật gắn bó HTX mở hướng phát triển thêm ngành nghề trồng hoa, cây cảnh NKT được động viên, khuyến khích, đào tạo nghề, không ít NKT có khả năng phát huy tinh thần lao động, sáng tạo của mình Vì vậy, những công việc như trồng cây cảnh, trồng nấm tưởng như khó với họ, nhưng nhiều người sau khi được đào tạo nghề đã làm tốt nghề, thu nhập đáng kể Nhiều địa phương đã có quỹ việc làm dành cho NKT Theo thống kê thì Có 8 tỉnh
đã thành lập và bố trí kinh phí Quỹ việc làm cho NKT Rất nhiều mô hình, cách làm hay, hiệu quả như Chương trình tín dụng chính sách NKT đang hưởng lợi của Ngân hàng chính sách Đà Nẵng, Mô hình chăm sóc bán trú trẻ KT tại cộng đồng ở Phù Cát- Bình Định , các
mô hình gây quỹ, xây dựng tổ chức, tạo điều kiện cho NKT hòa nhập với công việc Bên cạnh đó thì các chính sách hỗ trợ việc làm cho người khuyết tật cũng được tổ chức tốt ở nhiều địa phương Đặc biệt là công tác đào tạo nghề để tạo tiền đề, nâng cao trình độ tay nghề cho NKT khi họ làm việc Theo số liệu của Bộ Lao động thương binh và
xã hội Việt Nam : “ từ năm 2007 đến nay, đã có 2.500 NKT được tư vấn trợ giúp pháp lý, thành lập được 121 hiệp hội với trên 60.000 hội viên, 13 lớp dạy nghề may, thêu, mây tre đan được mở ở 13 tỉnh, thành dành cho chị em khuyết tật 13 nhóm tự lực với 30 thành viên mỗi nhóm được hỗ trợ thành lập ở 13 địa phương Bên cạnh đó thì trong cả nước có
260 cơ sở dạy nghề, trong đó 55 cơ sở chuyên biệt và 205 cơ sở có tham gia dạy nghề cho người khuyết tật Chương trình mục tiêu Quốc gia về giáo dục và đào tạo cũng đã dành hàng trăm tỷ đồng kinh phí cho việc đầu tư xây dựng cơ sở, hỗ trợ dạy nghề cho người
8
Trang 10khuyết tật mỗi năm Trên 49.000 NKT được trợ giúp về học nghề, trong đó nữ chiếm 50,5% và theo báo cáo của 33 tỉnh, thành, đã có khoảng 15.581 người được tạo việc làm Khoảng 65% số hộ có NKT được hưởng các chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất, như: miễn giảm thuế, hỗ trợ tín dụng ưu đãi, hỗ trợ đất sản xuất”12
Không những thế, để tạo cơ hội cho NKT có điều kiện học hỏi và cống hiến nhiều hơn cho xã hội, thời gian qua, Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) và Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam đã phối hợp thực hiện một chương trình đào tạo kết hợp với tư vấn tại nhà máy cho các doanh nghiệp có quy mô từ vừa đến lớn tại 4 tỉnh, thành phố là Hà
Nội, Vĩnh Phúc, Hưng Yên và Hải Dương với mục tiêu “Cơ hội cho mọi người”, tạo điều
kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp và NKT có được sự hợp tác và gắn kết Qua đó, doanh nghiệp có được những thông tin cần thiết để tuyển dụng người lao động là NKT.
Về phía NKT cũng chủ động hơn trong việc trau dồi kiến thức, kỹ năng chuyên môn để đủ
tự tin tham gia tuyển dụng vào làm việc tại các doanh nghiệp có nhu cầu Tại đây thì nhiều doanh nghiệp đã tuyển chọn được lao động là NKT cho doanh nghiệp mình như Công ty Cổ phần Hoa Lan là doanh nghiệp chuyên sản xuất kinh doanh hóa mỹ phẩm, chất diệt trùng, xà phòng thơm, bao bì carton đã tuyển dụng được 3 người khuyết tật vào làm việc tại xưởng đóng gói Theo Chủ tịch Công đoàn công ty Hoàng Đình Duy thì những người lao động khuyết tật được tuyển vào làm việc rất có trách nhiệm và đạt hiệu quả lao động cao như những người lao động bình thường Đây là bước khởi đầu khả quan,
mở ra một hướng mới cho các doanh nghiệp về kênh thông tin trong tuyển dụng lao động, mặt khác, giúp người khuyết tật có được công việc ổn định để nuôi sống bản thân và gia đình, xóa bỏ mặc cảm, tự ti, tạo thêm niềm tin vào cuộc sống Chia sẻ cảm xúc của mình khi được tuyển vào làm việc vào Công ty Ford Việt Nam đóng tại Hải Dương, chị Nguyễn
Thị Phượng một người bị khuyết tật cho biết: “ Tôi rất may mắn sau khi tốt nghiệp đại học đã được tuyển dụng vào làm việc tại Công ty và gắn bó từ đó cho đến nay đã gần 10 năm Đối với những người khuyết tật như chị, đó là sự may mắn và hạnh phúc, môi trường làm việc rất thuận lợi, được đồng nghiệp chia sẻ, giúp đỡ, được lãnh đạo quan tâm, tạo điều kiện để chị hoàn thành tốt công việc và có thu nhập ổn định Mong sao, những người khuyết tật khác cũng có được cơ hội được làm việc, được cống hiến, cộng đồng có sự đồng cảm hơn đối với những người khuyết tật kém may mắn”13.
2. Một số hạn chế
12 http://www.nguoikhuyettat.org
13 Http:// vicongdong.vn/news/select.aspx?topic=41347340
9