Bài 12:1 Phân tích và nêu ý kiến về vấn đề bồi thường thiệt hại cho người sử dụng lao động do đình công bất hợp pháp gây ra.. Thực tiễn ở nươc ta hiện nay đình công ngày càng gia tăng, t
Trang 1Bài 12:
1) Phân tích và nêu ý kiến về vấn đề bồi thường thiệt hại cho người sử dụng lao động do đình công bất hợp pháp gây ra
2) Ngày 10/09/2000, anh V thường trú tại quận 1, thành phố H có ký hợp đồng lao động không xác định thời hạn với công ty C có trụ sở chính đóng tại quận T, thành phố H Theo bản hợp đồng lao động này, công việc mà anh V
là nhân viên đội bảo vệ, tiền lương theo hợp đồng là 2.000.000 đồng/ tháng, tiền lương trước khi nghỉ việc là 2,5 triệu đồng/tháng
Cuối năm 2007, công ty có chủ trương cắt giảm lao động để giảm chi phí sản xuất Ngày 12/12/2007, tổng giám đốc công ty C ra quyết định số 08/ QĐ-VL giải thể đội bảo vệ và cho 20 nhân viên bảo vệ thôi việc theo Điều 17
Bộ luật Lao động , trong đó có anh V Ngày 05/02/2008 công ty C ra quyết định số 12 chấm dứt hợp đồng lao động đối với anh V kể từ ngày 08/02/2008 Khi chấm dứt hợp đồng lao động công ty trả cho anh V trự cấp thôi việc theo
số nă anh đã làm việc cho công ty
Ngày 03 /02/2008, anh V giử đơn đến các cơ quan tổ chức có thẩm quyền về việc bị đơn phương chấm đứt hợp đồng lao động trái pháp luật Anh
V yêu cầu công ty C phải rút lại quyết định chấm dứt hợp đồng lao động, nhân trở lại làm việc với vị trí và điều kiện như cũ, thanh toán tiền lương trong những ngày không được làm việc
a) Các cơ quan tổ chức nào có thẩm quyền giải quyết đơn yêu cầu của anh V? b) Trong vụ việc trên, anh V và công ty tranh chấp về vấn đề gì?
c) Theo anh (chị) công ty có thể căn cứ vào cơ sở pháp lý nào để chấm dứt hợp đồng đối với anh V và để chấm dứt hợp pháp công ty sẽ phải tiến hành những thủ tục gì?
d) Giả sử việc chấm dứt của công ty là hợp pháp thì quyền lợi của anh V sẽ được giải quyết như thế nào?
Trang 2Bài làm
I Đặt vấn đề.
Đình công là quyền của người lao động đã được pháp luật thừa nhận, đây là một biện pháp để cho người lao động bảo vệ lợi ích hợp pháp của mình Thực tiễn ở nươc ta hiện nay đình công ngày càng gia tăng, trong đó những cuộc đình công bất hợp pháp ngày ngày càng gia tăng gây thiệt hại cho người sử dụng lao động, nhằm bảo vệ lợi ích chính đáng cho người sử dụng
lao động pháp luật đã quy định về vấn đề bồi thường thiệt hại cho người sử
dụng lao động do đình công bất hợp pháp gây ra
II Phân tích và nêu ý kiến về vấn đề bồi thường thiệt hại cho người sử dụng lao động do đình công bất hợp pháp gây ra.
1) Khái niệm đình công:
Quyền đình công đã được quốc tế công nhận và được quy định tại điều
8 công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa liên hợp quốc năm
1996 Tổ chức lao động quốc tế (ILO) không có công ước riêng về đình công Vấn đề đình công được xem là quyền tự do liên kết và quyền tổ chức của người lao động (Công ước quốc tế số 87 về quyền tự do liên kết và quyền tổ chức và công ước lao động quốc tế số 98 về tổ chức và thương lượng tập thể)
ILO không đưa ra khái niệm về đình công Mà ILO chỉ ra rằng đình công là một trong những biện pháp để bảo vệ người lao động và đình công nhằm đạt được các mục các đích về kinh tế - xã hội
Trên thế giới hiện nay có hai trường phái Ở một số nước phát triển, quyền đình công được coi là quyền đương nhiên của người lao động về quyền
tự do liên kết và quyền thương lượng tập thể Một số nước tư bản chủ nghĩa lâu đời, vấn đề đình công ở CHLBĐ là rất quen thuộc, rất thông thường,, thẩm chí không cần thiết có luật liên bang (ở một số nước như Anh, Úc thẩm chí chỉ là luật “bất thành văn”) tại Cộng hòa Pháp quyền đình công của người lao động được ghi nhận trong Hiến pháp và Bộ Luật lao động nhưng quốc gia
Trang 3này không cũng không đưa ra một khái niệm đầy đủ và thống nhất về đình công trong các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành
Các nước ở khu vực Đông Nam Á (ASEAN) hầu hết đều có luật về đình công Malaixia và Singgapor quy định về luật đình công trong luật công đoàn Thái Lan quy định về đình Công trong Luật quan hệ lao động…
Nhìn chung không phải quốc gia nào khi thừa nhận quyền đình công cũng đưa ra khái niệm đình công và quyền đình công cho dù quy định cụ thể trong luật hay không điều xuất phát từ quyền thương lượng tập thể; có nghĩa
là đình công chỉ xuất phát từ lao động tập thể
Ở nước ta hiện nay có nhiều quan niệm khác nhau về đình công Theo
từ điển bách khoa Việt Nam “Đình công là một dạng bãi công ở quy mô nhỏ trong một hay nhiều xí nghiệp, cơ quan, thường không kèm theo những yêu sách về chính trị”
Theo giáo trình Luật Lao Động Việt Nam trường Đại học Luật Hà Nội
“Đình công là sự ngừng việc tự nguyện, tạm thời, có tổ chức của tập thể lao động nhằm gây áp lực buộc bên sử dụng lao động hoặc chủ thể khác phải thỏa mãn các yêu sách về quyền và lợi ích mà họ quan tâm”
Điều 172 – BLLĐ hiện hành “Đình công là sự ngừng việc tạm thời, tự nguyện và có tổ chức của tập thể lao động để giải quyết tranh chấp lao động”.
Như vậy: Có thể thấy rằng khó có thể thống nhất các quan điểm về khái niệm đình công, Song khái niệm đình công được quy định tại Điều 172 -LLĐ đây có thể được coi là một khái niệm có giá trị pháp lí trong quá trình áp dụng pháp luật
2) Bồi thường thiệt hại cho người sử dụng lao động do đình công bất hợp pháp gây ra.
2.1 Cuộc đình công bất hợp pháp: (Vi phạm điều kiện cuộc đình công)
Trang 4Đình công là quyền của người lao động nhưng phải được tiến hành trong khuôn khổ của pháp, pháp luật có quy định về cách thức tiến hành cuộc đình công
Đình công bất hợp pháp được quy định tại điều 173 – BLLĐ “Cuộc đình công thuộc một trong những trường hợp sau đây là bất hợp pháp:Không phát sinh từ tranh chấp lao động tập thể; Không do những người lao động cùng làm việc trong một doanh nghiệp tiến hành; Khi vụ tranh chấp lao động tập thể chưa được hoặc đang được cơ quan, tổ chức giải quyết theo quy định của
Bộ luật này; Không lấy ý kiến người lao động về đình công theo quy định tại Điều 174a hoặc vi phạm các thủ tục quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 174b của Bộ luật này; Việc tổ chức và lãnh đạo đình công không tuân theo quy định tại Điều 172a của Bộ luật này; Tiến hành tại doanh nghiệp không được đình công thuộc danh mục do Chính phủ quy định; Khi đã có quyết định hoãn hoặc ngừng đình công.”
Điều 174đ – BLLĐ quy định “những hành vi sau đây bị cấm trước, trong
và sau khi đình công: Cản trở việc thực hiện quyền đình công hoặc kích động, lôi kéo, ép buộc người lao động đình công; cản trở người lao động không tham gia đình công đi làm việc; Dùng bạo lực; làm tổn hại máy móc, thiết bị, tài sản của doanh nghiệp; Xâm phạm trật tự, an toàn công cộng;Chấm dứt hợp đồng lao động hoặc xử lý kỷ luật lao động đối với người người lao động, người lãnh đạo đình công hoặc điều động người lao động, người lãnh đạo đình công sang làm công việc khác, đi làm việc ở nơi khác vì
lý do chuẩn bị đình công hoặc tham gia đình công; Trù dập, trả thù đối với người lao động tham gia đình công, người lãnh đạo đình công; Tự ý chấm dứt hoạt động của doanh nghiệp để chống lại đình công; Lợi dụng đình công
để thực hiện hành vi vi phạm pháp luật”.
Nếu cuộc đình công vi phạm các điều kiện theo quy định của pháp luật
và đình công bất hợp pháp thì tổ chức, tập thể người đình công mà gây thiệt
Trang 5hại cho người sử dụng lao động thì phải bồi thường thiệt hại cho người sử dụng lao động theo quy định của pháp luật
Khoản 2 Điều 179 BLLĐ “ người lợi dụng đình công có thể gây mất trật tự công cộng, làm tổn thất máy móc,…tùy theo mức độ vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật” Tùy từng trường hợp người
đình công trái pháp luật tùy theo tính chất mức độ vi phạm mà xử lý, có thể là truy cứu trách nhiệm hình sự, xử phạt hành chính…chứ không chỉ là bồi thường thiệt hại
Nếu cuộc đình công không tuân thủ các kiều kiện của pháp luật dẫn đến cuộc đình công bất hợp pháp (khoản 1 Điều 179 - BLLĐ) gây thiệt hại cho NSDLĐ thì công đoàn cơ sở hoặc đại diện tập thể lao động và người tham gia đình công phải bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật
2.2 Về bồi thường thiệt hại cho người sử dụng lao động do đình công bất hợp pháp gây ra.
Việc bồi thường thiệt hại cho NSDLĐ do đình công bất hợp pháp gây
ra quy định tại khoản 1 Điều 179 BLLĐ và nghị định của Chính Phủ số 11/2008/NĐ-CP ngày 30 tháng 01 năm 2008 và thông tư liên tịch của Bộ lao động-thương binh và xã hội – Bộ tài chính số 07/2008/TTLT-BLĐTBXH – BTC ngày 30 tháng năm 2008 hướng dẫn thực hiện nghị định số
11/2008/NĐ-CP về việc bồi thường thiệt hại trong trường hợp cuộc đình công bất hợp pháp gây thiệt hại cho NSDLĐ Điều 1 nghị định số 11/2008/NĐ-CP quy định về việc bồi thường thiệt hại trong các trường hợp cuộc đình công bất hợp pháp gây thiệt hại cho NSDLĐ quy định tại khoản 1 Điều 179 BLLĐ hiện hành
“Việc bồi thường thiệt hại về tài sản cho người sử dụng lao động theo quy định tại khoản 2 Điều 179 BLLĐ được áp dụng theo quy định của bộ luật dân
sự về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng” Trong thực tiễn, đã xẩy ra nhiều
cuộc đình công, người lao động đã có hành vi quá khích như đập phá máy móc, hành hung chủ sử dụng lao động
Trang 6Điều 1 nghị định 11/2008/NĐ-CP quy định về việc bồi thường thiệt hại trong các trường hợp cuộc đình công bất hợp pháp là cơ sở pháp lý cho các cơ quan nhà nước có thẩm quyền khi áp dụng trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với những người thực hiện các hành vi bị cấm thực hiện trước, trong và sau khi đình công, đảm bảo pháp chế xã hội chủ nghĩa và tính hiệu lực hiệu quả của các quy định của pháp luật Nghị định chính phủ số 11/2008/NĐ-CP
đã quy định đầy đủ về việc BTTH cho người SDLĐ do đình công bất hợp từ phạm vi điều chỉnh; đối tượng áp dụng; nguyên tắc bồi thường thiệt hại (Điều
3 nghị định số 11/2008); trách nhiệm bồi thường thiệt hại; yêu cầu bồi thường thiệt hại; xác định thiệt hại để bồi thường; mức yêu cầu bồi thường thiệt hại; thương lượng mức bồi thường thiệt hại tại doanh nghiệp; khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại; thực hiện bồi thường thiệt hại Đã được thông tư liên tịch
số 07/2008/TTLT-BLĐTBXH – BTC hướng dẫn thực hiện một cách cụ thể Thông tư số 07/2008/TTLT-BLĐTBXH – BTC quy định, trách nhiệm bồi thường cho NSDLĐ về những thiệt hại do đình công bất hợp pháp (bị TAND tuyên bố là bất hợp pháp) gây ra thuộc về tổ chức, cá nhân lãnh đạo cuộc đình công Cụ thể là BCHCĐ cơ sở nếu tổ chức công đoàn cơ sở lãnh đạo; hoặc thuộc về những người được cử làm đại diện tập thể lao động và những NLĐ tham gia đình công nếu do đại diện tập thể lao động lãnh đạo Trong trường hợp này, đại diện tập thể lao động và những NLĐ tham gia đình công phải chịu trách nhiệm cá nhân theo phần trong việc thực hiện nghĩa vụ BTTH cho NSDLĐ
Thời hạn để NSDLĐ có quyền yêu cầu được BTTH do đình công bất hợp pháp gây ra là 01 năm, kể từ ngày quyết định của TAND về tính bất hợp pháp của cuộc đình công có hiệu lực Thông tư 07 quy định, yêu cầu BTTH phải được thể hiện bằng văn bản bao gồm các nội dung về giá trị thiệt hại, mức yêu cầu bồi thường, phương thức và thời hạn bồi thường Văn bản yêu cầu BTTH và các tài liệu liên quan được gửi đến BCHCĐ cơ sở hoặc đại diện tập thể lao động, Sở LĐTB&XH, Liên đoàn Lao động cấp tỉnh nơi xảy ra
Trang 7cuộc đình công Mức BTTH do hai bên thoả thuận trên cơ sở giá trị thiệt hại
đã được xác định nhưng tối đa không vượt quá ba 3 tháng tiền lương, tiền công (làm cơ sở đóng, hưởng bảo hiểm xã hội) liền kề trước ngày đình công diễn ra theo hợp đồng lao động của những NLĐ tham gia cuộc đình công Thông tư cũng cho phép NSDLĐ được khởi kiện (theo thủ tục tố tụng dân sự) ra TAND cấp huyện nơi xảy ra cuộc đình công đòi BTTH nếu phía đại diện NLĐ từ chối thương lượng về vấn đề BTTH; Việc thương lượng không đạt kết quả trên cơ sở biên bản thương lượng; Bên có nghĩa vụ BTTH không thực hiện bồi thường theo đúng Cam kết BTTH hoặc Biên bản thương lượng
Nguyên tắc xác định giá BTTH theo quy định của Thông tư 07 là giá thị trường tại thời điểm xảy ra đình công bất hợp pháp; riêng đối với tài sản cố định bị hỏng do ngừng vận hành, phải thay thế, sửa chữa thì giá BTTH được xác định căn cứ vào nguyên giá tài sản cố định, mức trích khấu hao tài sản cố định theo quy định hiện hành và giá trị thu hồi do thanh lý (nếu có) Nếu hai bên không nhất trí về giá trị thiệt hại thì có quyền yêu cầu tổ chức trung gian xác định giá trị thiệt hại
Kể từ ngày nhận được văn bản yêu cầu BTTH, trong 10 ngày, BCH CĐ
cơ sở hoặc đại diện tập thể lao động phải có ý kiến trả lời bằng văn bản cho NSDLĐ Nếu đồng ý thì có văn bản cam kết BTTH làm cơ sở pháp lý xác định nghĩa vụ BTTH của đại diện tổ chức công đoàn cơ sở hoặc đại diện tập thể lao động Nếu không đồng ý thì có văn bản yêu cầu thương lượng gửi cho NSDLĐ, Sở LĐTB&XH, Liên đoàn lao động cấp tỉnh Nếu nhận được văn bản yêu cầu thương lượng, NSDLĐ có trách nhiệm tổ chức phiên họp thương lượng trong vòng 3 ngày làm việc hoặc phải có văn bản nêu rõ lý không tổ chức được phiên họp và ấn định cụ thể thời gian sẽ tiến hành tổ chức phiên họp thương lượng tiếp theo Hết thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu BTTH của NSDLĐ mà BCHCĐ cơ sở hoặc đại diện tập thể lao động
Trang 8không có văn bản trả lời thì được coi là phía đại diện NLĐ từ chối thương lượng
Nếu BCHCĐ cơ sở phải BTTH thì việc thực hiện BTTH được lấy từ nguồn kinh phí của tổ chức công đoàn cơ sở Trường hợp đại diện tập thể lao động và những NLĐ tham gia đình công phải thực hiện BTTH thì mức bồi thường thuộc trách nhiệm cá nhân theo phần được xác định bằng tổng mức BTTH chia cho tổng số người tham gia đình công (kể cả người lãnh đạo đình công) Việc bồi thường của mỗi cá nhân theo Thông tư 07 được khấu trừ dần vào tiền lương, tiền công hàng tháng của người đó nhưng không quá 30% mức lương, tiền công ghi theo hợp đồng lao động làm cơ sở đóng, hưởng bảo hiểm xã hội Trường hợp NLĐ chấm dứt hợp đồng lao động trước khi hoàn thành nghĩa vụ bồi thường, phần bồi thường còn lại được tính là khoản nợ của NLĐ đối với NSDLĐ Việc thanh toán khoản nợ này do hai bên thoả thuận hoặc theo quy định của pháp luật Việc thực hiện bồi thường bằng hiện vật hoặc bằng việc thực hiện một công việc do hai bên thoả thuận Như vậy: Quy định về bồi thường thiệt hại cho NSDLĐ do đình công bất hợp pháp gây được quy định tại Nghị định Chính Phủ số 11/2008/NĐ-CP ngày 30 tháng 01 năm
2008 và thông tư liên tịch của bộ lao động-thương binh và xã hội – Bộ tài chính số 07/2008/TTLT-BLĐTBXH – BTC; Tùy vào từng trường hợp vi phạm khi thực hiện đình công bất hợp pháp, người vi phạm còn có thể bị xử hành chính; hình sự, Theo quy định của pháp luật hiện hành
3) Các biện pháp hạn chế đình công.
- Tăng cường tuyên truyền pháp Phổ biến các quy định của pháp luật đặc biệt
là pháp luạt lao động và pháp luật về đình công và giải quyết đình công nói riêng đến đông đảo người lao động và người sử dụng lao động thông qua nhiều hình thức khác nhau: Như phương tiện thông tin đại chúng đài tiếng nói, đài truyền hình, tờ rơi,… Hình thành mạng lưới tư vấn pháp luật và giải đáp thắc mắc cho người lao động và người sử dụng lao động trong quá trình thực thi pháp luật lao động Từ đó người dử dụng lao động và người lao động
Trang 9hiểu biết pháp luật lao động nắm được các quyền và nghĩa vụ của mình để không vi phạm pháp luật lao động, hạn chế được các tranh chấp lao động và đình công
- Nâng cao hiệu quả hoạt động của công đoàn cơ sở Công đoàn là tổ chức đại diện và bảo vệ quyền lợi của người lao động Nếu tổ chức công đoàn hoạt động hiệu quả, tích cực đối thoại với người lao động để cùng phát hiện và giải quyết kịp thời những bất đồng, khúc mắc thì người lao động sẽ không mất nhiều thời gian khi đưa ra đơn khởi kiện ra tòa tránh được những tranh chấp, xung đột và những cuộc đình công nổ ra gây thiệt hại cho cả hai bên
- Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra việc thực hiện pháp luật lao động và
xử lý các hành vi vi phạm pháp luật lao động
Các doanh nghiệp còn phổ biến các hành vi vi phạm pháp luật lao động như: Không ký hợp đồng lao động, không đóng bảo hiểm xã hội, không trả lương làm thêm giờ cho người lao động… Đây là nguyên nhân chính gây nên nhiều cuộc đấu tranh (đình công tự phát) trong thời gian qua Vì vậy, cần phải tăng cường thêm số lượng thanh tra lao động, tăng cường hiệu quả hoạt động của thanh tra, kiểm tra góp phần ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật lao động gây nên những “bức xúc” trong tập thể lao động Xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm đối với người sử dụng lao động
Nếu thực hiện được tốt thì sẽ hạn chế được các cuộc đình công lao động và hạn chế gây thiệt hại cho nền kinh tế
III Giải quyết bài tập tình huống:
a) Các cơ quan tổ chức nào có thẩm quyền giải quyết đơn yêu cầu của anh V?
Giải quyết tranh chấp lao động là; việc các tổ chức, cơ quan nhà nước
có thẩm quyền tiến hành những thủ tục theo luật định nhằm giải quyết những tranh chấp phát sinh giữa cá nhân, tập thể NLĐ với NSDLĐ về việc thực hiện quyền nghĩa vụ và lợi ích của hai bên trong quan hệ lao động, khôi phục các
Trang 10quyền và lợi ích hợp pháp đã bị xâm hại; xoá bỏ tình trạng bất bình, mâu thuẫn giữa NLĐ và NSDLĐ, duy trì và củng cố quan hệ lao động, đảm bảo sự
ổn định trong sản xuất
Thẩm quyết giải quyết đơn yêu cầu của anh V là: Hội đồng hòa giải lao động cơ sở hoặc hòa giải viên lao động
Theo Điều 165 LLĐ “Cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động cá nhân bao gồm:
1 Hội đồng hòa giải lao động cơ sở hoặc hòa giải viên lao động;
2 Tòa án nhân dân” Như vậy, hội đồng hòa giải lao động cơ sở hoặc
hòa giải viên lao động có thẩm quyền giải quyết đơn yêu cầu của anh V, tiến hành hòa giải tranh chấp lao động cá nhân theo quy định tại Điều 165a – LLĐ
Trong trường hợp này căn cứ vào khoản 2 điều 166 LLĐ “Tòa án nhân dân giải quyết nhứng tranh chấp lao động cá nhân sau đây mà không bắt buộc phải qua hòa giải tại cơ sở:
a) Tranh chấp về xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải hoặc về trường hợp bi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động;…” Như vậy, việc
lựa chọn Hội đồng hòa giải lao động cơ sở hoặc hòa giải viên lao động hay tòa án nhân dân là do anh V quyết định vì trường hợp của anh V thuộc (điểm
a khoản 2 Điều 166 BLLĐ) Vì vậy, anh V có thể yêu cầu tòa án nhân dân để giải quyết đơn yêu cầu của mình mà không cần qua hòa giải cơ sở
Nhưng, giải quyết tranh chấp lao động phải được tiến hành theo những nguyên tắc tại Điều 158 – BLLĐ Như vậy, cơ quan tổ chức có thẩm quyền giải quyết đơn yêu cầu của anh V là: Hội đồng hòa giải lao động cơ sở hoặc hòa giải viên lao động
b) Trong vụ việc trên, anh V và công ty tranh chấp về vấn đề gì?
Anh V và công ty tranh chấp về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động