Theo mục II thông tư 2225/HCTP về chấn chỉnh việc thực hiện quyền bào chữa của bị can do Bộ Tài chính ban hành hướng dẫn: “1 Nói chung người bị can có quyền tham gia tất cả quá trình
Trang 1MỞ ĐẦU
Trong tố tụng hình sự (TTHS), các chủ thể tham gia vào quá trình tố tụng gồm có cơ quan tiến hành tố tụng (CQTHTT), người tiến hành tố tụng (NTHTH), người tham gia tố tụng (NTGTT) trong đó bị can, bị cáo là những người tham gia tố tụng Họ là những người đang bị buộc tội bời cơ quan , người có thẩm quyền tiến hành tố tụng Quyền lợi và nghĩa vụ của BC, BC bị ảnh hưởng sâu sắc bởi quyết định của tòa án (TA) khi giải quyết vụ án hình sự Do đó có nhiều nguyên nhân khác nhau mà quyền của BC, BC có khả năng bị xâm hại rất cao Trên thực tế có rất nhiều vụ án oan sai do NTHTT, CQTHTT đã ra những quyết định gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của BC, BC Trong bài tập lần này em xin đề cập tới vấn đề “ Địa vị pháp lí của bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự” Trong quá trình làm bài còn có nhiều thiếu sót mong nhận được sự góp ý từ phía các thầy cô Em xin chân thành cám ơn
NỘI DUNGI/ Khái quát chung về bị can, bị cáo, địa vị pháp lí của bị can, bị cáo.
Địa vị pháp lí (ĐVPL) là vị trí của chủ thể pháp luật trong mối quan hệ với các chủ thể pháp luật khác trên cơ sở các quy định của pháp luật Địa vị pháp lí của chủ thể pháp luật thể hiên ở tổng thể các quyền và nghĩa vụ pháp lí của chủ thể, qua đó xác lập cũng như giới hạn khả năng của chủ thể trong các hoạt động của mình Việc nắm vững địa vị pháp lí của chủ thể trong quan hệ pháp luật có ý nghĩa quan trọng đối với mọi chủ thể trong TTHS, thì việc nắm giữ địa vị pháp lí của các chủ thể càng củng cố vai trò quan trong hơn hết vì khi phải giải quyết một vụ án hình sự phải trải qua nhiều giai đoạn ở nhiều giai đoạn khác nhau thì ĐVPL của các chủ thể tham gia tố tụng không giống nhau Khi đó nắm vững ĐVPL của các chủ thể này sẽ đảm bảo cho việc thực hiện đúng các thủ tục tố tụng và đảm bảo cho việc xác định đúng sự
Trang 2thật vụ án Trong luật TTHS chưa có một khái niệm chính thức nào quy định về địa vị pháp lí của bị can, bị cáo Đối với pháp luật khi một người có địa vị pháp lí là bị can thì họ sẽ có các quyền và nghĩa vụ nhất định theo quy định của pháp luật quy định tại khoản 2 điều 49, bị cáo khoản 1 điều 50 BLTTHS.
1/ Khái niệm bị can, địa vị pháp lí của bị cán.
Khái niệm bị can được quy định tại khoản 1 điều 49 BLTTHS 2003 Theo đó bị can là người đã bị khởi tố về hình sự.Như vậy theo quy định của pháp luật bị can sẽ tham gia vào các giai đoạn điều tra, truy tố và một phần giai đoạn xét xử sơ thẩm, tư cách tố tụng của bị chấm dứt khi cơ quan điều tra đình chỉ điều tra, VKS đình chỉ vụ án, TA đình chỉ vụ án trong giai đoạn chuẩn bị Xét xử đối với bị can hoặc tòa án khởi tố về hình sự và ra quyết định đưa vụ án ra xét xử
2/ Khái niệm bị cáo, địa vị pháp lí của bị cáo.
Quy định tại khoản 1 điều 50 BLTTHS Bị cáo là người đã bị Toà án quyết định đưa ra xét xử Bị cáo tham gia tố tụng kể từ khi có quyết định đưa vụa án ra xét xử đến khi bản án hay quyết định của tòa án có hiệu lực pháp luật Và khái niệm bị cáo không đồng nghĩa với khái niệm chủ thể của tội phạm, bị cáo không phải là những người có tội Họ chỉ trở thành người có tội nếu sau khi xét xử họ bị tòa án ra bản án kết tội và bản án đã có hiệu lực
3/ Quy định về quyền và nghĩa vụ của bị can, bị cáo trong luật TTHSVN trước
khi BLTTHS 2003 có hiệu lực.
BLTTHS năm 1998 là bộ luật TTHS đầu tiên quy định về địa vị pháp lí của bị can , bị cáo Pháp luật TTHS Việt Nam giai đoạn trước BLTTHS 1998 chưa có một quy định nào về bị can, bị cáo
Trong thời kì thực dân Pháp xâm lược có 3 BLTTHS khác nhau được áp dụng tại Bắc Kì, Trung Kì, Nam kì Trong đó theo quy định tại điều 20, điều 31 BLTTHS tại Bắc Kì phân loại NTGTT thành bị can, Bị cáo, người làm chứng, người bị hại Điều
17 BLTTHS Bắc kì, quy định này của pháp luật nhằm thể hiện sự công khai minh
Trang 3bạch của pháp luật khi cho phép bị can có quyền được biết mình bị buộc tội gì, được nghe lại biên bản hỏi cung bị can BL Bắc kì không quy định rõ khi nào người bị buộc tội mang tư cách bị can, khi nào có tư cách bị cáo Mà ngay trong giai đoạn xét xử tư cách của người bị buộc tội là bị can.
Sau năm 1945, ngày 18/6/1949 sắc lệnh số 69/SL do Chủ tịch nước ban hành quy
định về việc bào chữa của bị can, quy định tại Điều 1: “Từ nay đến khi nào có thể lệ
khác, trước các toà án thường và toà án đặc biệt xử việc tiểu hình và đại hình, trừ toà
án binh tại mặt trận, bị can có thể nhờ một công dân không phải là luật sư, bào chữa cho Công dân do bị can đã tự chọn để bênh vực mình phải được ông Chánh án thừa
nhận.” ; Điều 2 : “Nếu bị can không có ai bênh vực, ông Chánh án có thể, tự mình
hay theo lời yêu cầu của bị can, cử một người ra bào chữa cho bị can.” Quy định này nhằm mở rộng quyền bào chữa của bị can
Từ năm 1954 đến trước khi có BLTTHS 1988 ra đời có quy định cụ thể hơn về địa vị pháp lí của Bị can, Bị cáo Theo mục II thông tư 2225/HCTP về chấn chỉnh việc
thực hiện quyền bào chữa của bị can do Bộ Tài chính ban hành hướng dẫn: “1) Nói
chung người bị can có quyền tham gia tất cả quá trình điều tra xét xử Cụ thể là:
- Bị can có quyền trình bày lời lẽ bào chữa, khai nại, đưa ra chứng cớ mới, xin mời người làm chứng mới, mời người giám định v.v…
- Bị can được đề xuất bất cứ một thỉnh cầu nào hoặc phản đối bất cứ một thỉnh cầu nào của người khác trong quá trình vụ án;
- Bị can lại có quyền trình bày viết những lời thanh minh và những điều chỉnh thỉnh cầu của mình.
- Bị can phải được biết về nội dung buộc tội trước ngày phiên tòa xét xử một thời gian cần thiết để bị can có đủ thì giờ chuẩn bị việc bào chữa trước phiên tòa.
- Trong phiên tòa, bị can được viện dẫn tất cả chứng cớ và lý lẽ để chứng minh rằng mình không có tội hoặc trình bày những tình huống giảm nhẹ tội mà không bị ai cản trở.
Trang 4Sau khi cuộc thẩm vấn kết thúc, bị can được nói lời cuối cùng Bị can có quyền chống án
trong thời hạn luật định nếu họ không phục bản án xử sơ thẩm.”
Tại điều 4 sắc lệnh số 01/SL – 76 tại điều 4 cũng quy định rõ địa vị pháp lí của
BC, BC Như vậy thời kì này quy định rõ về quyền và nghĩa vụ của của BC, BC Bộ luật TTHS năm 1998 quy định rõ bị can, bị cáo có các quyền và nghĩa vụ cơ bản Các quyền : được biết mình bị khởi tố về điều gì, quyền được nhận các quyết định khởi tố, quyền bào chữa, quyền đưa ra chứng cứ… Quy định về quyền và nghĩa vụ của bị can , bị cáo để đảm bảo có một địa vị pháp lí tôt nhất để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi tham gia tố tụng
II/ Các quy định của BLTTHS hiện hành về địa vị pháp lí của Bị can, bị cáo.
1 /Các quy định của pháp luật hiện hành về địa vị pháp lí của Bị can.
Các quyền và nghĩa vụ của Bị can trong TTHS được quy định tại điều 49 BLTTHS 2003
1.1 Các quyền tố tụng
Được quy định tại khoản 1 điều 49 BLTTHS 2003 bao gồm các quyền
1.1.1 Quyền được biết mình bị khởi tố về điều gì.
Đây là quyền đầu tiên của bị can được pháp luật quy định Bởi vì mục đích của việc tiến hành các trình tự tố tụng là nhằm xác định một người có tội hay không? Và nếu phạm tội thì phải chịu hình phạt như thế nào Do vậy người nghi ngờ phạm tội cần phải biết rằng mình bị khởi tố về việc gì để họ tự bào chữa cho mình Nếu không biết mình bị khởi tố về việc gì thì họ khó có thể đưa ra các chứng cứ gỡ tội cho mình cùng những lời bào chữa
Quyền này thể hiện sự công bẳng, bình đẳng tiến bộ của pháp luật VN và pháp luật XHCN Trên thực tế để bị can, biết mình bị khởi tố về điều gì thì các CQTHTT và NTHTT phải giao các quyết định tố tụng và giải thích các quyền và nghĩa vụ cho bị can Bị can được biết mình bị khởi tố về tội gì thông qua quyết định khởi tố bị can
Trang 5Quyết định khởi tố bị can phải đầy đủ và có nội dung theo quy định tại khoản 2 điều
126 BLTTHS và phải được truyền đạt đến bị can theo đúng quy định của pháp luật Theo quy định của pháp luật thì CQĐT phải giao ngay QĐ khởi tố bị can và giải thích các quyền và nghĩa vụ cho bị can
Theo quy định tại điều 34 BLTTHS 1998 quy định: “ bị can có quyền biết mình bị khởi tố về điều gì” Và quy định tại BLTTHS 2003 “Bị can có quyền được biết mình bị khởi tố về điều gì” từ “có quyền biết” và “có quyền được biết” mình bị khởi tố về điều gì là khác nhau Từ được them vào đã tọa thế chủ động cho bị can trong QTTT khi thực hiện quyền của mình Như một sự đương nhiên bị can có quyền biết mình bị khởi tố về điều gì mà không còn phụ thuộc quá nhiều vào CQTHTT, NTHTT
1.1.2 Quyền được giải thích về quyền và nghĩa vụ.
Khi biết mình bị khởi tố về tội gì thì bị can sẽ rất mong muốn biết được mình có quyền và nghĩa vụ gì để thực hiện nhằm gỡ tội cho mình Vì để đảm bảo cho bạ can được biết mình có quyền và nghĩa vụ gì thì BLTTHS 2003 đã quy định cụ thể là BC có quyền được giải thích về quyền và nghĩa vụ Việc thực hiện quyền này của BC đồng nghĩa với việc CQTHTT, NTHTT phải thực hiện tốt nghĩa vụ của mình Đó là nghĩa vụ giải thích cho BC hiểu rõ họ có quyền và nghĩa vụ gì Việc đảm bảo quyền này của BC cũng như có ý nghĩa rất lớn trong việc đảm bảo quyền con người của BC cũng như góp phần nhanh chóng kịp thời giải quyết vụ án xác minh sự thật vụ án
1.1.3 Quyền được trình bày lời khai.
Đây cũng là một trong những quy định mới của BLTTHS 2003 về các quyền và nghĩa vụ của BC trong TTHS Theo quy định này BC có quyền trình bày lời khai , những vấn đề liên quan đến vụ án mà họ bị khởi tố Đây là quyền chứ không phải nghĩa vụ của BC Do vậy nhiều khi bị can đã sử dụng quyền này của mình để khai báo những tình tiết có lợi cho mình nhằm chứng minh mình vô tội hoặc phạm tội ở mức độ nhẹ hơn tội đã bị khởi tố hay đưa ra những tình tiết lí do để giảm nhẹ TNHS
Trang 6cho mình Cũng có những TH bị can đã từ chối không khai về những hành vi của mình.
Trong TH nào CQĐT cũng phải tôn trọng quyền được trình bày của bị can Bởi vì qua lời khai của chính bị can, người bị cho là đã thực hiện hành vi trái pháp luật ta có thể xác định sự thật một cách khách quan không phiến diện Đặc biệt những TH tố tụng không cho phép dùng các biện pháp trái pháp luật để buộc tội bị can khai báo Điều đó làm ảnh hưởng đến kết quả điều tra của vụ án
1.1.4 Quyền được đưa ra các tài liệu đồ vật yêu cầu.
Theo quy định này thì bị cáo có quyền cung cấp những tài liệu đồ vật có liên quan đến vụ án cũng như những yêu cầu như yêu cầu giám định , giám sát bổ sung hay giám định lại ,yêu cầu điều tra lại
BLTTHS 2003 đã có sự thay đổi trong quy định của pháp luật từ việc bị can có quyền đưa ra chứng cứ thì nay đã trở thành những tài liệu đồ vật Sự thay đổi này trong quy định của pháp luật là hoàn toàn hợp lí góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật nước ta Bởi khi bạ can cung cấp cho CQĐT những tài liệu đồ vật thì không phải mọi tài liệu đồ vật đều là chứng cứ Khi CQĐT nhận được các tài liệu đồ vật đó thì phải tiến hành điều tra, đánh giá kết quả để xác định tài liệu đồ vật đó có phải là chứng cứ hay không? Và chỉ khi tài liệu đồ vật đó đáp ứng những yêu cầu của pháp luật thì nó mới trở thành chứng cứ
1.1.5 Quyền được đề nghị thay đổi NTHTT, người giám định( NGĐ), người phiên dịch( NPD).
NTTTT, NGĐ, NPD là những người đóng vai trò rất quan trọng trong việc xác định sự thật của vụ án Sự thật vụ án chỉ được xác định một cách chính xác nhất nếu các chủ thể thực hiện tốt vai trò của mình trong các giai đoạn tố tụng Bởi vậy việc thay đổi NTHTT, NGĐ, NPD để đảm bảo vụ án được xét xử một cách công khai minh bạch
Trang 7Theo đó bị cáo có quyền thay đổi NTHTT, NGĐ, NPD nếu có căn cứ rõ ràng để họ cho rằng không thể vô tư trong khi đi làm nhiệm vụ và việc họ tiến hành tố tụng hoặc tham gia TT có thể làm cho vụ án được giải quyết theo hướng có lợi cho bị can Khi các CQTHTT nhận được yêu cầu thay dổi NTHTT, NGĐ, NPD của bị can thì cần phải xem xét giải quyết yêu cầu đó, nếu thấy yêu cầu đó là có căn cứ của PLTTHS.
1.1.6 Quyền được tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa.
Đây là một trong những quyền quan trọng của bị cáo trong TTHS Bị can có quyền tự bào chữa Theo đó thì bị can có quyền dùng lời lẽ và chứng cứ để giũ tội và bảo về quyền và lợi ích hợp pháp khác của mình trong QTTT Việc thực hiện quyền này của bị cáo không chỉ nhằm gỡ tội cho bị cáo mà còn bảo về quyền và lợi ích hợp pháp khác của bị can Thông qua quyền này thì nhà nước đã cho phép bị can tự vệ, chống lại sự buộc tội của CQTHTT, NTHTT Quyền này thể hiện sự bình đẳng giữa bị can với NTHTT, mặc dù giữa một bên là người bị buộc tội với một bên là người mang quyền lực NN
Ngoài quyền tự bào chữa bị can còn có quyền nhờ người khác bào chữa cho mình Quyền này thể hiện sự bình đẳng cho quyền bào chữa của bị can Pháp luật quy định cho bị can được nhờ người khác bào chữa cho mình nếu không tự mình bào chữa được Người được bị can nhờ phải là người có đủ tiêu chuẩn theo quy định của pháp luật theo quy định tại khoản 1 điều 305 và khoản 2 điều 305 BLTTHS
Bị can hoặc người đại diện của họ có quyền thay đổi yêu cầu hoặc từ chối người bào chữa được đoàn luật sư cử đến bào chữa cho bị can Các CQTHTT phải tôn trọng và đảm bảo quyền bào chữa của bị can
1.1.7 Quyền được nhận các quyết định và các văn bản tố tụng.
Theo quy định tại điểm 9 khoản 2 điều 49 BLTTHS 2003 Thì khi tham gia vào quá trình tố tụng, bị can có quyền nhận được các quyết định và các văn bản tố tụng Các quyết định và các văn bản tố tụng như quyết định khởi tố bị can, quyết định áp dung thay đổi bổ sung hoặc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn , bản kết luận điều tra, quyết
Trang 8định đình chỉ , tạm đình chỉ vụ án, bản cáo trạng, quyết định khởi tố và các quyết định khởi tố khác theo quy đinh của BLTTHS.
Các quyết định và các văn bản tố tụng trên có liên quan trực tiếp đến quyền lợi và nghĩa vụ của bị can Việc PLQĐ bị can có quyền được nhận các quyết định và các văn bản tố tụng nhằm đảm bảo bị can có thể thực hiện tốt quyền bào chữa và các quyền tố tụng khác của mình
1.1.8 Quyền khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của CQTHTT, người có thẩm quyền THTT.
Không phải trong mọi TH mọi quyết định và hành vi tố tụng của CQTHTT, NTHTT đều đúng theo quy định của pháp luật Do vậy để đảm bảo thực hiện tốt các quy định của pháp luật cũng như đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của bị can thì pháp luật đã cho phép bị can có quyền khiếu nại các quyết định và hành vi tố tụng của CQTHTT và NTHTT
Bị can có thể khiếu nại các quyết định các hành vi tố tụng của CQTHTT, NTHTT nên các chủ thể có thẩm quyền giải quyết theo quy định của pháp luật được quy định tại điều 328 BLTTHS 2003, điều 329 BLTTHS, điều 330 BLTTHS 2003
1.2 Các nghĩa vụ tố tụng.
Bị can có các quyền tố tụng thì cũng phải thực hiện những nghĩa vụ nhất định
Khoản 3 điều 49 BLTTHS 2003 quy định:“ Bị cáo phải có mặt theo giấy triệu tập
của Toà án;trong trường hợp vắng mặt không có lý do chính đáng thì có thể bị áp giải; nếu bỏ trốn thì bị truy nã.” Như vậy trong TH bị can được tại ngoại thì khi cần
có sự có mặt của Bị can để tiến hành các hoạt động điều tra hoặc các hoạt động tố tụng khác thì cơ quan THTT có quyền triệu tập bị can Bị can có nghĩa vụ phải có mặt theo các giấy tờ triệu tập Việc triệu tập bị can phải tuân thủ theo đúng quy định tại điều 129 BLTTHS 2003 Giấy triệu tập phải được gửi cho cơ quan xã phường thị trấn, nơi bị can cư trú hoặc cho CQ tổ chức nơi bị can làm việc Cơ quan tổ chức nhận được giấy triệu tập phải chuyển ngay giấy triệu tập cho bị can Khi bị can nhận
Trang 9được giấy triệu tập phải kí nhận và có nghĩa vụ ghi rõ ngày giờ Người chuyển giấy triệu tập cho bị can còn có nghĩa vụ phải gửi phần giấy có chữ kí nhận của bị can cho
cơ quan triệu tập bị can TH bị can nhận được giấy nhưng không kí nhận thì người chuyển giấy triệu tập cho bị can phải lập biên bản và gửi cho cơ quan triệu tập bị can Nếu bị can vắng mặt có thể giao giấy triệu tập cho 1 người đã thành niên trong gia đình kí nhận và chuyển cho bị can
TH bị can vắng mặt không có lí do chính đáng thì có thể bị áp giải Việc áp giải bị cáo cũng phái tuân theo những quy định của pháp luật được quy định tại khoản 1 điều 30 BLTTHS Trong TH bị can bị tạm giam thì việc triệu tập bị can của CQTHTT sẽ được thông qua ban giám thị trại giam Trong quá trình xét xử tòa án cũng có quyền triệu tập bị can để giải quyết vấn đề dấn sự hoặc cam đoan trước khi QDAD biện pháp ngăn chặn như cấm đi khởi nơi cư trú, đặt tiền hoắc tài sản có giá trị để bị can sẽ có mặt khi được triệu tập
2/ Các quy định của pháp luật hiện hành về địa vị pháp lí của bị cáo.
Các quyền và nghĩa vụ cụ thể của bị cáo được quy định cụ thể tại điều 50 BLTTHS 2003
2.1 Các quyền tố tụng.
2.1.1 Quyền được nhận các quyết định , văn bản tố tụng
Quyền đầu tiên của bị cáo là quyền được nhận các quyết định đưa vụ án ra xét xử Quyết định áp dụng thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, quyết định đình chỉ vụ án, bản án quyết định của tòa, các quyết định tố tụng khác theo quy định của BLTTHS Trong đó quyền được nhận quyết định đưa vụ án ra xét xử là quyền quan trọng của bị cáo Vì quyết định đưa vụ án ra xét xử có vai trò quan trọng trong việc giải quyết vụ án Quyết định đó sẽ khiến người bị buộc tội chuyển từ tư cách bị can sang bị cáo Và bị caó dựa vào quyết định đưa vụ án ra xét xử sẽ có thể biết được mình bị đưa ra xét xử với tội danh gì, thời gian địa điểm mở phiên tòa, thẩm phán , hội thẩm, thư kí tòa án tham gia phiên tòa, kiểm sát viên tham gia phiên tòa, người
Trang 10bào chữa, người phiên dịch, người được triệu tập để xét hỏi tại phiên tòa, vật chứng cần xem xét tại phiên tòa Quyền đưa vụ án ra xét xử phải có đầy đủ các nội dung theo quy định tại điều 178 BLTTHS và theo khoản 1 điều 182 BLTTHS.
Trong quá trình xét xử, khi có lí do hợp pháp và xét thấy cần thiết hoặc không cần thiết phải áp dụng các biện pháp ngăn chặn thì CQTHTT, NTHTT có thể ra quyết định áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn Để đảm bảo quyền lợi và nghĩa vụ của bị cáo thì bị cáo cũng có quyền nhận được quyết định áp dụng thay đổi hoặc hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn
Ngoài hai quy định trên bị cáo còn có quyền nhận được quyết định đình chỉ tạm đình chỉ vụ án, bản án , quyết định của tòa án theo quy định của pháp luật Các quy định này là căn cứ pháp lí để bị cáo thực hiện các quyền và nghĩa vụ có liên quan đến các quyết định đó
2.1.2 Quyền được tham gia phiên tòa.
Đây là quyền vô cùng quan trọng của bị cáo trong TTHS Vì phiên tòa là nơi diễn ra hoạt động thẩm vấn xét xử công khai Bản án quyết định của tòa án phải dựa trên những chứng cứ đã được thẩm định điều tra tại phiên tòa Vì vậy quyền tham gia phiên tòa sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho bị cáo thực hiện các quyền bào chữa và đảm bảo các quyền lợi ích hợp pháp khác của mình Thể hiện sự bình đẳng khách quan trong TTHS Điều 178 BLTTHS 2003 quy định về sự có mặt của bị cáo tại phiên tòa Pháp luật quy định sự có mặt của bị cáo tại phiên tòa xét xử đảm bảo cho bị cáo thực hiện tốt quyền bảo vệ lợi ích , quyền lợi cho mình Thể hiện tính công khai minh bạch bình đẳng trước tòa án của bị cáo
Theo hướng dẫn của HĐTPTANDTC NQ 05/2005 NQHĐTP ngày 8/12/2005 hướng dẫn một số quy định trong phần xét xử phúc thẩm của BLTTHS thì trong TH bị cáo có kháng cáo, bị kháng cáo kháng nghị thì Tòa án xét xử vắng mặt cho họ theo quy định tại khoản 2 điều 178 BLTTHS Theo khoản 2 điều 178 thì TA xét xử vắng mặt bị cáo trong TH bị cáo bị cáo là người bị kháng cáo kháng nghị là phù hợp
Trang 11Nhưng trong TH bị cáo là người có kháng cáo là không hợp lí Việc bị cáo vắng mặt mà không có lí do chính đáng sẽ gây khó khăn trở ngại cho việc xét xử của tòa án thì cần phải quyết định là bị cáo đã từ bỏ việc kháng cáo của mình và phiên tòa phúc thẩm sẽ được hủy bỏ.
2.1.3 Quyền được giới thiệu về quyền và nghĩa vụ.
Trong quá trình tham gia tố tụng , người bị buộc tội sẽ có địa vị pháp lí khác nhau tương ứng với mỗi tư cách tố tụng trong từng giai đoạn tố tụng Và khi người bị buộc tội tham gia tố tụng với tư cách bị cáo thì họ sẽ có quyền và nghĩa vụ tương ứng với tư cách bị cáo Do vậy họ cần được CQTHTT, NTHTT giải tích cho họ biết quyền và nghĩa vụ của mình
Bị cáo tham gia tố tụng kể từ khi có quyết định của tòa án đưa vụ án ra xét xử Theo quy định tại điều 201 BLTTHS 2003 về thủ tục đảm bảo phiên tòa thì chủ tọa phiên tòa là người giải thích cho bị cáo cũng như những người được triệu tập có mặt tại phiên tòa về quyền và nghĩa vụ của của họ
Quyền này giúp cho bị cáo thực hiện tốt hơn các quyền tố tụng của mình và đặc biệt là quyền tự bào chữa và quyền đưa ra các tài liệu đồ vật, yêu cầu và quyền kháng cáo
2.1.4 Quyền được yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định người phiên dịch, theo quy định của pháp luật.
Quyền này được quy định tại điều 42 BLTTHS Quyền này thể hiện sự đảm bảo khách quan trong quá trình xét xử Đây là nguên tắc cơ bản trong TTHS, nhằm đảm bảo sự vô tư của những người tiến hành tố tụng
Ngoài ra bị cáo cũng có quyền yêu cầu thay đổi người giám định, người phiên dịch Họ là những chủ thể có vai trò quan trọng trong việc xác minh sự thật của vụ án Cũng như những người THTT khác khi người giám định, người phiên dịch thuộc
TH phải từ chối tham gia tố tụng mà không từ chối thì bị cáo có quyền yêu cầu thay đổi người giám định Bị cáo có quyền yêu cầu thay đổi NTHTT, người giám định ,
Trang 12người phiên dịch trước khi phiên tòa xét xử Khi có yêu cầu từ bị cáo thì chánh án TAND, hội đồng xét xử phải xem xét và quyết định trong trường hợp cần thiết phải hoãn phiên tòa Thời hạn hoãn phiên tòa không quá 30 ngày kể từ ngày ra quyết định.
2.1.5 Quyền đưa ra tài liệu đồ vật.
Tại phiên tòa xét xử bị cáo có quyền đưa ra các tài liệu đồ vật Quyền đưa ra tài liệu đồ vật, yêu cầu của bị cáo phải được đảm bảo trong suốt quá trình xét xử kể từ khi bắt đầu phiên tòa đến phần xét hỏi tại phiên tòa cũng như phần tranh luận tại phiên tòa Đảm bảo tốt quyền đưa ra tài liệu , đồ vật, yêu cầu (yêu cầu thêm người làm chứng, yêu cầu đưa thêm vật chứng,tài liệu xem xét chứng minh, yêu cầu hoãn phiên tòa ) Đảm bảo tốt quyền đưa tài liệu đồ vật , yêu cầu của bị cáo trong quá trình xét xử sẽ góp phần đảm bảo việc xác định sự thật của vụ án, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo Để bị cáo có thể thực hiện tốt các quyền này thì việc đảm bảo quyền tham gia phiên tòa của bị cáo có ý nghĩa quyết định , 2 quyền này có mối quan hệ mật thiết với nhau
2.1.6 Quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa của bị cáo.
Quyền bào chữa là một quyền trong các quyền con người được Luật Quốc Tế ghị nhận tại điều 14 Công Ước Quốc Tế về các quyền dân sự và chính trị Quyền bào chữa được thể hiện ngay từ khi một người bị khởi tố về hình sự Khi họ trở thành đối tượng bị buộc tội thì quyền bào chữa được thể hiện trong suốt quá trình điều tra, truy tố, xét xử dưới các hình thức khác nhau được quy định tại điều 127 BLTTHS 2003, điều 190 BLTTHS 2003 Trong trường hợp bắt buộc phải có người bào chữa theo quy
định tại khoản 2 điều 57 BLTTHS “2 Trong những trường hợp sau đây, nếu bị can,
bị cáo hoặc người đại diện hợp pháp của họ không mời người bào chữa thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Toà án phải yêu cầu Đoàn luật sư phân công Văn phòng luật sư cử người bào chữa cho họ hoặc đề nghị Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam,
tổ chức thành viên của Mặt trận cử người bào chữa cho thành viên của tổ chức mình:
Trang 13a) Bị can, bị cáo về tội theo khung hình phạt có mức cao nhất là tử hình được quy định tại Bộ luật hình sự;
b) Bị can, bị cáo là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất.
Trong các trường hợp quy định tại điểm a và điểm b khoản 2 Điều này, bị can, bị cáo và người đại diện hợp pháp của họ vẫn có quyền yêu cầu thay đổi hoặc từ chối người bào chữa.” mà người bào chữa vắng mặt thì hội đồng xét xử phải hoãn phiên
tòa Quy định này của pháp luật nhằm đảm bảo cho bị cáo thực hiện tốt nhất các quyền tự bào chữa tại tòa
2.1.7 Quyền tự trình bày ý kiến tranh luận tại tòa.
Quyền này cho phép bị cáo đưa ra những ý kiến những lập luận của mình và đối đáp với những ý kiến không thống nhất với các chủ thể khác Theo quy định tại điều
218 BLTTHS 2003 “Bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác
có quyền trình bày ý kiến về luận tội của Kiểm sát viên và đưa ra đề nghị của mình; Kiểm sát viên phải đưa ra những lập luận của mình đối với từng ý kiến.
Người tham gia tranh luận có quyền đáp lại ý kiến của người khác Chủ toạ phiên toà không được hạn chế thời gian tranh luận, tạo điều kiện cho những người tham gia tranh luận trình bày hết ý kiến, nhưng có quyền cắt những ý kiến không có liên quan đến vụ án
Chủ tọa phiên tòa có quyền đề nghị Kiểm sát viên phải đáp lại những ý kiến có liên quan đến vụ án của người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác mà những
ý kiến đó chưa được Kiểm sát viên tranh luận.”
Quyền này của bị cáo thể hiện sự bình đẳng, khách quan trong quá trình xét xử, qua việc bị cáo phát biểu ý kiến đưa ra những yêu cầu cũng như đối đáp với VKS Việc bị cáo thực hiện quyền trình bày ý kiến, tranh luận tại phiên tòa chính là bị cáo thực hiện quyền tự bào chữa của mình tại tòa
2.1.8 Quyền nói những lời sau cùng trước khi kháng nghị án.