Khái niệm Tranh chấp trong lĩnh vực chứng khoán là những xung đột về quyền và lợi ích phát sinh giữa các chủ thể khi tham gia hoạt động trong lĩnh vực chứng khoán và được thể hiện ra bên
Trang 1MỤC LỤC
I KHÁI QUÁT VỀ TRANH CHẤP TRONG LĨNH VỰC CHỨNG KHOÁN VÀ
GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TRONG LĨNH VỰC CHỨNG KHOÁN 1
1 Khái quát về tranh chấp trong lĩnh vực chứng khoán 1
1.1 Khái niệm 1
1.2 Đặc điểm 1
1.3 Tác động 2
2 Khái quát về giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực chứng khoán 2
II THỰC TRẠNG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TRONG LĨNH VỰC CHỨNG KHOÁN 2
1 Thực trạng pháp luật về giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực chứng khoán 2
1.1 Giải quyết tranh chấp thông qua thương lượng 3
1.2 Giải quyết tranh chấp bằng hoà giải 3
1.3 Giải quyết tranh chấp bằng trọng tài 4
1.4 Giải quyết tranh chấp tại tòa án 6
1.5 Một số hạn chế của pháp luật về giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực chứng khoán 8
2 Thực tiễn hoạt động giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực chứng khoán 10
III KHUYẾN NGHỊ HẠN CHẾ VÀ GIẢI QUYẾT TỐT TRANH CHẤP TRONG LĨNH VỰC CHỨNG KHOÁN 12
1 Khuyến nghị để hạn chế tranh chấp trong lĩnh vực chứng khoán 12
2 Khuyến nghị để giải quyết tốt tranh chấp trong lĩnh vực chứng khoán 13
2.1 Hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực chứng khoán 13
2.2 Nâng cao năng lực thực tiễn trong giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực chứng khoán 15
TÀI LIỆU THAM KHẢO 16
Trang 2BÀI LÀM
Thị trường chứng khoán là một môi trường đầu tư kinh doanh vô cùng phức tạp và nhạy cảm với số lượng người tham gia đông đảo, giá trị đầu tư lớn, độ rủi ro cao và tính cạnh tranh gay gắt trong các mối quan hệ lợi ích được thiết lập trên thị trường Do vậy, tranh chấp là hiện tượng tất yếu xảy ra đối với mọi thị trường chứng khoán cũng như trong hoạt động chứng khoán Và việc giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực chứng khoán đã trở thành một yêu cầu mang tính khách quan
I KHÁI QUÁT VỀ TRANH CHẤP TRONG LĨNH VỰC CHỨNG KHOÁN
VÀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TRONG LĨNH VỰC CHỨNG KHOÁN
1 Khái quát về tranh chấp trong lĩnh vực chứng khoán
1.1 Khái niệm
Tranh chấp trong lĩnh vực chứng khoán là những xung đột về quyền và lợi ích phát sinh giữa các chủ thể khi tham gia hoạt động trong lĩnh vực chứng khoán
và được thể hiện ra bên ngoài dưới dạng nhu cầu cần giải quyết thông qua hình thức nhất định theo quy định của pháp luật
Căn cứ vào quy định tại Điều 131 Luật Đầu tư “các tranh chấp phát sinh trong hoạt động chứng khoán và thị trường chứng khoán có thể được giải quyết thông qua thương lượng, hòa giải hoặc yêu cầu trọng tài hoặc tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật” thì có thể hiểu tranh chấp trong lĩnh vực chứng
khoán gồm các tranh chấp phát sinh trong hoạt động chứng khoán và thị trường chứng khoán Cụ thể hơn, có ý kiến cho rằng: “tranh chấp về chứng khoán không chỉ có các tranh chấp về mua bán chứng khoán mà còn có nhiều tranh chấp khác về
sở hữu, phát hành, về quản lý, về giám sát…” Các tranh chấp này được thể hiện ra bên ngoài mặt khách quan thông qua các hành vi thực tế của các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật chứng khoán như hành vi khiếu nại về lợi ích không đạt được trong quan hệ bảo lãnh phát hành, hành vi khởi kiện về quan hệ thanh toán giữa khách hàng với công ty chứng khoán, hành vi xử phạt vi phạm pháp luật về chứng khoán… Cách nhìn nhận về phạm vi của tranh chấp trong lĩnh vực chứng khoán trong trường hợp này là tương đối rộng Trong đó, tranh chấp trên thị trường chứng khoán là chủ yếu và đặc trưng hơn cả
1.2 Đặc điểm
Tranh chấp trong lĩnh vực chứng khoán có một số đặc trưng sau:
- Chủ thể của tranh chấp trong lĩnh vực chứng khoán phải là các tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động trong lĩnh vực chứng khoán, mà chủ yếu là các chủ thể tham gia thị trường chứng khoán Các chủ thể này bao gồm: tổ chức phát hành thực hiện hoạt động chào bán chứng khoán, tổ chức kinh doanh chứng khoán, nhà đầu tư, ngân hàng giám sát, ngân hàng chỉ định thanh toán, tổ chức lưu ký chứng khoán, trung tâm giao dịch chứng khoán, sở giao dịch chứng khoán và các thành viên, cơ quan quản lý nhà nước về chứng khoán (Ủy ban chứng khoán nhà nước)
- Đối tượng của tranh chấp là các quyền và lợi ích giữa các chủ thể có được
do tham gia hoạt động chứng khoán Đó là các quyền và lợi ích của các chủ thể phát sinh từ quan hệ thiết lập trên thị trường chứng khoán, bao gồm hai nhóm: Nhóm thứ nhất bao gồm các quyền và lợi ích phát sinh trên thị trường chứng khoán dựa trên cơ sở sự thoả thuận của các bên, thường được ghi nhận trong các bản hợp đồng do các bên ký kết; nhóm thứ hai bao gồm các quyền và lợi ích mặc nhiên
Trang 3phát sinh giữa các chủ thể tham gia thị trường chứng khoán trên cơ sở quy định pháp luật
- Giá trị của tranh chấp trong lĩnh vực chứng khoán thường khó xác định chính xác do nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau như thông tin thị trường, tâm lý của nhà đầu tư, tình hình kinh tế, chính trị… và giá chứng khoán thường không ổn định
1.3 Tác động
Tranh chấp trong lĩnh vực chứng khoán là hiện tượng mang tính tiêu cực, phản ánh một nhóm quan hệ không ổn định đang diễn ra trên thị trường chứng khoán, làm cho mục đích các bên mong muốn khi thiết lập quan hệ không đạt được, cản trở các kế hoạch đã dự tính Các tranh chấp này còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín của các bên tranh chấp khi họ là các tổ chức hoạt động lâu dài trên thị trường chứng khoán với tư cách tổ chức phát hành, tổ chức niêm yết, công ty chứng khoán… Đồng thời nó cũng gây ảnh hưởng tiêu cực đối với thị trường chứng khoán nói riêng và hoạt động chứng khoán nói chung
2 Khái quát về giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực chứng khoán
Giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực chứng khoán là tổng hợp các cách thức, biện pháp do các bên tranh chấp áp dụng trên cơ sở quy định của pháp luật nhằm loại bỏ xung đột về quyền và lợi ích phát sinh trong hoạt động chứng khoán
Mục đích của các bên khi quyết định đưa tranh chấp ra giải quyết nhằm loại
bỏ những bất đồng, xung đột đang tồn tại đồng thời khôi phục quyền và lợi ích cho rằng bị xâm phạm Trong khi đó, với tư cách là chủ thể có chức năng quản lý mọi mặt đời sống xã hội, nhà nước đặt ra nhu cầu giải quyết các tranh chấp trên thị trường chứng khoán nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bên bị xâm phạm, duy trì trật tự, đảm bảo sự công bằng, ổn định trên thị trường
II THỰC TRẠNG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TRONG LĨNH VỰC CHỨNG KHOÁN
1 Thực trạng pháp luật về giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực chứng khoán
Trước khi Luật Chứng khoán 2006 có hiệu lực, cơ chế giải quyết tranh chấp
chứng khoán tuân theo quy định trong Nghị định 144/2003/NĐ-CP: “Các tranh chấp phát sinh trong hoạt động chứng khoán và trên thị trường chứng khoán phải được giải quyết trên cơ sở thương lượng và hòa giải Trường hợp hòa giải không thành, các bên có thể yêu cầu trọng tài hoặc tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật Đối với tranh chấp có liên quan tới bên nước ngoài, nếu các bên không thỏa thuận hòa giải được thì tranh chấp được giải quyết theo pháp luật Việt Nam, nếu có điều ước quốc tế mà Việt Nam kí kết hoặc tham gia thì giải quyết theo quy định của điều ước quốc tế” Do phạm vi điều chỉnh của Nghị định bó hẹp ở thị
trường tập trung nên quy định trên chỉ áp dụng đối với các tranh chấp xảy ra trên thị trường chứng khoán tập trung
Luật chứng khoán 2006 ra đời đã thống nhất quy trình giải quyết tranh chấp
trong lĩnh vực chứng khoán với quy định tại Điều 131: “Tranh chấp phát sinh trong hoạt động chứng khoán và thị trường chứng khoán tại Việt Nam có thể được giải quyết thông qua thương lượng, hòa giải hoặc yêu cầu trọng tài hoặc tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật” So với quy định trước đây, quy định này
Trang 4đã mở rộng phạm vi điều chỉnh không chỉ đối với tranh chấp ở thị trường chứng khoán tập trung mà cả thị trường chứng khoán phi tập trung; và đã tôn trọng quyền
tự định đoạt của các bên hơn khi quy định thương lượng hòa giải không phải là phương thức giải quyết mang tính bắt buộc đối với các tranh chấp phát sinh trong hoạt động chứng khoán và thị trường chứng khoán Các bên có quyền lựa chọn phương thức giải quyết thích hợp mà không phải tuân theo quy trình định sẵn của pháp luật
1.1 Giải quyết tranh chấp thông qua thương lượng
Thương lượng là việc các bên tranh chấp cùng nhau bàn bạc, tự dàn xếp, tháo gỡ những bất đồng phát sinh để loại bỏ tranh chấp mà không cần có sự trợ giúp hoặc phán quyết của bất kỳ bên thứ ba nào Thương lượng trong tranh chấp chứng khoán về cơ bản cũng giống như hình thức thương lượng trong tranh chấp thương mại Không có sự tham gia của bất kỳ trung gian nào, các bên trực tiếp gặp nhau, nêu ra quan điểm, yêu cầu của mình, tìm biện pháp thích hợp để đi đến thống nhất cách giải quyết cùng chấp nhận được
Quá trình thương lượng ít chịu sự ràng buộc của bất kỳ nguyên tắc pháp lý hoặc những quy định mang tính khuôn mẫu của pháp luật về thủ tục giải quyết tranh chấp mà chủ yếu dựa trên nền tảng ý chí tự định đoạt của các bên tranh chấp Phương thức này cũng đảm bảo uy tín cũng như bí mật của các bên tranh chấp, góp phần củng cố niềm tin và duy trì mối quan hệ hợp tác lâu dài giữa các bên Thương lượng thường để giải quyết những tranh chấp không phức tạp, giá trị tranh chấp thấp và các bên đều có thiện chí muốn duy trì mối quan hệ hợp tác sẵn có
Hiện nay, pháp luật chưa có quy định cụ thể về thương lượng, các bên thường phải dựa vào kinh nghiệm để tiến hành
1.2 Giải quyết tranh chấp bằng hoà giải
Hòa giải là phương thức giải quyết tranh chấp với sự tham gia của bên thứ
ba làm trung gian hòa giải để hỗ trợ, thuyết phục các bên tranh chấp tìm kiếm các giải pháp nhằm loại trừ tranh chấp đã phát sinh
Hòa giải là một trong những phương thức được ưa chuộng, có thể áp dụng khi các bên không đồng ý thương lượng hoặc quá trình thương lượng không đạt kết quả Hình thức hòa giải phải có sự tham gia của bên thứ ba làm trung gian có sự giúp đỡ, hỗ trợ các bên trong quá trình đàm phán để nhanh chóng tìm ra giải pháp thích hợp Pháp luật luôn ghi nhận vai trò trung gian hòa giải của Sở giao dịch chứng khoán, trung tâm giao dịch chứng khoán đối với những tranh chấp liên quan đến hoạt động giao dịch chứng khoán Khoản 8 Điều 37 Luật chứng khoán 2005 quy định Sở giao dịch chứng khoán có thể làm trung gian hoà giải nếu được thành viên yêu cầu đối với tranh chấp phát sinh từ giao dịch chứng khoán Về vấn đề này, pháp luật Việt Nam có điểm khác so với pháp luật các nước khi quy định về phạm vi chủ thể có quyền đệ đơn yêu cầu trung tâm (sở) giao dịch chứng khoán tiến hành hòa giải tương đối hẹp
Trong thực tiễn, để đáp ứng yêu cầu của thị trường, trung tâm giao dịch chứng khoán thành phố HCM đã ban hành quyết định số 39/2000/QĐ-TTGD3 và quyết định số 43/2000/QĐ-TTGD3 Theo đó, ban hòa giải được thành lập theo quyết định của giám đốc trung tâm, chỉ có thẩm quyền hòa giải các tranh chấp phát sinh trong hoạt động chứng khoán liên quan đến công ty chứng khoán mà không
Trang 5phải là tất cả các giao dịch trên thị trường chứng khoán Quyết định 39/QĐ quy định về thành phần ban hòa giải bao gồm có trưởng ban hòa giải là giám đốc hoặc phó giám đốc trung tâm giao dịch chứng khoán, đại diện phòng giám sát thị trường, các phòng chức năng liên quan và đại diện của các công ty chứng khoán thành viên cùng một số thành viên khác theo đề nghị của trưởng ban hòa giải Quyết định 43/QĐ hướng dẫn các bên tranh chấp về trình tự thủ tục hòa giải, tạo
cơ sở cho ban hòa giải thực hiện tốt vai trò của mình Theo đó, quá trình hòa giải gồm 4 bước cơ bản:
- Bước 1: Tiếp nhận đơn đề nghị hòa giải Bên yêu cầu hòa giải gửi đơn đề nghị hòa giải và các chứng cứ, tài liệu cần thiết đến trung tâm Trong thời hạn 7 ngày làm việc kể từ ngày tiếp nhận, trung tâm phải gửi bản sao cho bị đơn
- Bước 2: Chuẩn bị hòa giải Trong thời hạn 15 ngày, bị đơn phải gửi văn bản trả lời chấp nhận hoặc không chấp nhận việc hòa giải Trường hợp bị đơn chấp nhận hòa giải, giám đốc trung tâm kí quyết định thành lập ban hòa giải Ban hòa giải tiến hành triệu tập trực tiếp hoặc yêu cầu các bên giải thích bằng văn bản, cung cấp chứng cứ, tài liệu, ra quyết định đình chỉ hòa giải trong một số trường hợp nhất định, ấn định thời gian và địa điểm diễn ra phiên hòa giải, gửi giấy triệu tập hòa giải cho các bên trước ngày hòa giải ít nhất 15 ngày
- Bước 3: Tiến hành hòa giải dưới sự chủ trì của trưởng ban hòa giải
- Bước 4: Hòa giải kết thúc bằng việc ban hòa giải lập biên bản hòa giải thành hoặc biên bản hòa giải không thành tùy theo kết quả của phiên hòa giải Việc thực hiện kết quả hòa giải hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí tự nguyện của các bên
1.3 Giải quyết tranh chấp bằng trọng tài
Giải quyết tranh chấp bằng trọng tài là hình thức giải quyết tranh chấp thông qua hoạt động của trọng tài viên (với tư cách là bên thứ ba độc lập) nhằm chấm dứt xung đột bằng việc đưa ra phán quyết có hiệu lực bắt buộc với các bên Trọng tài được sử dụng phổ biến để giải quyết các tranh chấp trên thị trường chứng khoán nói riêng và tranh chấp trong kinh doanh nói chung bởi tranh chấp luôn được giải quyết tận gốc bằng phán quyết chung thẩm, có tính bắt buộc chung trong khi thời gian giải quyết nhanh chóng và chi phí không cao, thủ tục đơn giản, linh hoạt Tuy nhiên, khi đã lựa chọn hình thức trọng tài, các bên đương nhiên mất quyền khởi kiện vụ tranh chấp tại tòa án
Với tư cách là tranh chấp xảy ra trong lĩnh vực thương mại đặc thù, tranh chấp chứng khoán được giải quyết theo thủ tục trọng tài phải tuân theo pháp luật tố tụng trọng tài nói chung và các quy định mang tính chuyên ngành của pháp luật về chứng khoán Tuy nhiên, pháp luật về chứng khoán hiện hành không có quy định riêng, trực tiếp điều chỉnh vấn đề này Do vậy, các quy định chung về tố tụng trọng tài là cơ sở pháp lý quan trọng nhất để giải quyết tranh chấp chứng khoán
* Điều kiện: Để tranh chấp chứng khoán được giải quyết theo thủ tục trọng
tài phải thỏa mãn các điều kiện:
- Các bên trong tranh chấp phải là tổ chức, cá nhân có đăng ký kinh doanh
- Hoạt động phát sinh tranh chấp chứng khoán phải thuộc một trong các hoạt động thương mại được liệt kê tại Khoản 3 Điều 2 Pháp lệnh trọng tài thương mại
- Trước hoặc sau khi xảy ra tranh chấp, các bên phải có thỏa thuận trọng tài
Trang 6Thỏa thuận trọng tài phải thể hiện dưới hình thức văn bản Bên cạnh đó, pháp luật cũng quy định rõ tính độc lập của điều khoản trọng tài trong quan hệ với hợp đồng, không phụ thuộc vào nội dung hay hiệu lực của hợp đồng
* Về thủ tục:
Giải quyết tranh chấp chứng khoán tại trọng tài thương mại phải tuân theo trình tự thủ tục luật định Thời hiệu khởi kiện tranh chấp trong lĩnh vực chứng khoán là 2 năm kể từ ngày xảy ra tranh chấp Pháp luật cho phép các bên lựa chọn một trong hai hình thức trọng tài để giải quyết tranh chấp, tại các trung tâm trọng tài hoặc hội đồng trọng tài do các bên thành lập Trường hợp các bên lựa chọn trung tâm trọng tài, nguyên đơn phải làm đơn kiện gửi trung tâm trong đó chỉ rõ trọng tài viên đã chọn Trung tâm trọng tài sẽ gửi bản sao đơn kiện kèm theo danh sách trọng tài viên của trung tâm cho bị đơn Trong 30 ngày kể từ ngày nhận được,
bị đơn phải gửi cho trung tâm trọng tài bản tự bảo vệ cùng tên trọng tài viên đã chọn Hai trọng tài viên được chọn thống nhất chọn trọng tài viên thứ ba là chủ tịch hội đồng trọng tài Chủ tịch trung tâm trọng tài có thể chỉ định trọng tài viên nếu hết thời hạn mà bị đơn không chọn trọng tài viên hoặc hai trọng tài viên không thống nhất chọn được trọng tài viên thứ ba Đối với trường hợp hội đồng trọng tài
do các bên thành lập, nguyên đơn phải gửi đơn đến bị đơn và quyền chỉ định trọng tài viên giúp các bên thuộc tòa án cấp tỉnh nơi bị đơn có trụ sở hoặc cư trú Tổng thời gian từ thời điểm gửi đơn kiện đến khi hội đồng trọng tài được thành lập không quá 59 ngày Sau khi được chỉ định, các trọng tài viên phải nghiên cứu hồ
sơ, xác minh sự việc, nếu thấy cần thiết có quyền gặp các bên nghe trình bày ý kiến, yêu cầu các bên cung cấp chứng cứ liên quan hoặc tự mình thu thập chứng
cứ Các trọng tài viên vẫn có thể bị thay đổi trong quá trình giải quyết tranh chấp nếu có yếu tố ảnh hưởng đến tính khách quan trong công việc phân xử của họ
Thực tế hoạt động thị trường chứng khoán ở các nước cho thấy đa số trọng tài viên phân xử tranh chấp chứng khoán thuộc các trung tậm trọng tài do cơ sở giao dịch chứng khoán thành lập Ở Việt Nam hiện nay chưa có trung tâm trọng tài nào chuyên phân xử tranh chấp trong lĩnh vực chứng khoán Trong khi đó, trọng tài ở các nước có thị trường chứng khoán phát triển đã đạt đến trình độ chuyên nghiệp rất cao
Thời gian mở phiên họp do chủ tịch hội đồng trọng tài quyết định nếu các bên không có thoả thuận Phiên họp không công khai, các bên có thể trực tiếp hoặc
uỷ quyền cho người đại diện tham dự, có quyền mời nhân chứng, luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Đồng thời, trong quá trình hội đồng trọng tài giải quyết vụ tranh chấp, các bên có quyền làm đơn yêu cầu toà án cấp tỉnh nơi hội đồng trọng tài thụ lý áp dụng một số biện pháp khẩn cấp tạm thời khi thấy quyền
và lợi ích bị xâm phạm hoặc có nguy cơ trực tiếp bị xâm hại Hội đồng trọng tài ra quyết định dựa trên nguyên tắc đa số Quyết định của trọng tài có giá trị chung thẩm, không bị kháng cáo, kháng nghị và có tính cưỡng chế thi hành như bản án do toà tuyên
Pháp luật trọng tài khuyến khích các bên hòa giải trong quá trình tố tụng trọng tài nhưng có sự phân biệt rõ giá trị pháp lý của kết quả hòa giải trong hai trường hợp: Trường hợp các bên tự hòa giải với nhau, nếu hòa giải thành thì theo yêu cầu của các bên, hội đồng trọng tài sẽ đình chỉ quá trình tố tụng trọng tài;
Trang 7trường hợp các bên yêu cầu hội đồng trọng tài hòa giải, nếu hòa giải thành các bên yêu cầu hội đồng trọng tài lập biên bản hòa giải thành và ra quyết định công nhận hòa giải thành Quyết định này là chung thẩm và có tính chất bắt buộc phải thi hành với các bên
1.4 Giải quyết tranh chấp tại tòa án
Tòa án là phương thức giải quyết tranh chấp tại cơ quan xét xử nhân danh qyền lực nhà nươc, được tiến hành theo trình tự, thủ tục nghiêm ngặt, chặt chẽ và bản án hay quyết định của tòa án về vụ tranh chấp nếu không có sự tự nguyện tuân thủ sẽ được bảo đảm thi hành bằng sức mạnh cưỡng chế của nhà nước Lựa chọn hình thức này các bên phải tuân thủ trình tự thủ tục pháp lý phức tạp, thời gian bị kéo dài, công sức và chi phí cao Do vậy, giải quyết tranh chấp bằng toà án chủ yếu trong trường hợp các bên không đồng ý hoà giải, hoà giải không thành hoặc không thể áp dụng hình thức trọng tài (do không có thoả thuận trọng tài hoặc thoả thuận trọng tài vô hiệu)
Theo quy dịnh của Bộ luật tố tụng dân sự, các quan hệ pháp luật tố tụng mở rộng sang các quan hệ tố tụng kinh tế, lao động, hôn nhân và gia đình Do vậy, mọi tranh chấp xảy ra trong lĩnh vực chứng khoán đưa ra giải quyết tại tòa án tuân theo một trình tự tố tụng chung, thống nhất trên cơ sở Bộ luật tố tụng dân sự
* Về thẩm quyền:
Thẩm quyền của tòa án về giải quyết các tranh chấp phát sinh trong quan hệ dân sự theo nghĩa rộng (trong đó có tranh chấp chứng khoán) được pháp luật phân định theo vụ việc, theo cấp tòa án, theo lãnh thổ và theo sự lựa chọn của nguyên đơn
- Xác định thẩm quyền của tòa kinh tế và tòa dân sự trong việc giải quyết tranh chấp chứng khoán: Căn cứ vào Điều 29 BLTTDS có thể xác định các tranh chấp chứng khoán thuộc thẩm quyền của tòa kinh tế gồm hai nhóm cơ bản: Nhóm thứ nhất xảy ra giữa các tổ cức cá nhân có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận (Khoản 1 Điều 29), bao gồm tranh chấp phát sinh từ hoạt động
tư vấn đầu tư chứng khoán, môi giới chứng khoán, bảo lãnh pát ành chứng khoán… Có thể nhận thấy các tranh chấp thuộc nhóm thứ nhất đều phát sinh từ quan hệ hợp đồng được thiết lập trên thị trường chứng khoán và để nhận biết tranh chấp chứng khoán thuộc nhóm này phải quy tranh chấp đó về các tranh chấp phát sinh từ các hoạt động thương mại nói chung được liệt kê tại khoản 1 Điều 29, ngoại trừ tranh chấp về mua bán cổ phiếu, trái phiếu và các giấy tờ có giá khác Loại giấy tờ có giá chưa có định nghĩa rõ ràng, bao gồm những loại nào Về điều kiện có đăng ký kinh doanh của chủ thể tranh chấp, bộ luật không có quy định giải thích rõ mối quan hệ giữa hoạt động có tranh chấp phát sinh và hoạt động tuộc nội dug đăng ký kinh doanh, trong khi pháp luật về thị trường chứng khoán chỉ yêu cầu một số hoạt động trên thị trường phải tiến hành đăng ký kinh doanh như hoạt động kinh chứng khoán, hoạt động lưu ký chứng khoán…
Nhóm thứ hai gồm một số tranh chấp chứng khoán được nhà làm luật quy kết về loại tranh chấp xảy ra giữa công ty với thành viên công ty, giữa các thành viên công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, chia, tách, chuyển đổi hình thức tổ chức của công ty và thuộc thẩm quyền của tòa kinh tế Các tranh chấp thuộc nhóm này phải thỏa mãn một số điều kiện nhất định:
Trang 8tranh chấp phải xảy ra giữa công ty chứng khoán và cổ dông hoặc giữa các cổ đông với nhau
- Xác định thẩm quyền theo cấp của tòa án để giải quyết tranh chấp chứng khoán: Căn cứ quy định tại Điều 33, 34 BLTTDS, tòa án cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp về mua bán chứng khoán giữa các tổ chức, cá nhân có đăng ký kinh doanh và tranh chấp giữa công ty với cổ đông hoặc giữa cổ đông với nhau, không phụ thuộc vào dấu hiệu có yếu tố nước ngoài trong tranh chấp Các tranh chấp còn lại thuộc thẩm quyền của tòa án cấp tỉnh nếu đương sự hay tài sản ở nước ngoài hoặc cần phải ủy thác tư pháp cho cơ quan lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài Có thể nói hai nhóm tranh chấp thuộc thẩm quyền của tòa án cấp tỉnh chiếm tỷ lệ khá lớn trong tổng số tranh chấp có khả năng xảy ra trong lĩnh vực chứng khoán, bởi hoạt động giao dịch chứng khoán là hoạt động chủ yếu của thị trường và số lượng chủ thể nước ngoài tham gia rất đa dạng, đặc biệt với tư cách nhà đầu tư Hiện tại, ngoại trừ những tranh chấp về mua bán chứng khoán giữa các
tổ chức cá nhân có đăng ký kinh doanh và tranh chấp giữa công ty với cổ đông hoặc giữa các cổ đông với nhau, các tranh chấp còn lại trên thị trường chứng khoán
sẽ thuộc thẩm quyền của tòa án cấp huyện nếu tranh chấp không có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài
- Xác định thẩm quyền của tòa án theo lãnh thổ và theo sự lựa chọn của nguyên đơn: về cơ bản, tòa án có thẩm quyền sơ thẩm là tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc hoặc có trụ sở Ngoài ra, các bên có thể thỏa thuận yêu cầu tòa án nơi cư trú, làm việc hoặc có trụ sở của nguyên đơn giải quyết Pháp luật cũng quy định những trường hợp nhất định nguyên đơn được lựa chọn tòa án để giải quyết vụ tranh chấp nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc khởi kiện của nguyên đơn và quá trình giải quyết của tòa án
* Về thời hiệu khởi kiện: thời hiệu khởi kiện của các tranh chấp trên thị
trường là 2 năm kể từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm Thời điểm quyền và lợi ích bị xâm phạm được xác định là thời điểm người có nghĩa vụ vi phạm nghĩa vụ đó, không phụ thuộc vào bên có quyền lợi ích bị xâm phạm có nhận thức được hành vi xâm phạm của bên kia không
* Trình tự, thủ tục: Thủ tục tố tụng bắt đầu từ thời điểm tòa án thụ lý đơn
kiện của nguyên đơn và kết thúc bằng bản án do hội đồng xét xử tuyên Pháp luật hiện hành quy định rõ, trong thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, tối đa là 6 tháng kể
từ ngày thụ lý đối với tranh chấp dân sự và 3 tháng đối với tranh chấp về kinh doanh thương mại, tòa án tiến hành hòa giải để các đương sự thỏa thuận với nhau
về việc giải quyết vụ án, trừ những vụ án không được hòa giải hoặc không tiến hành hòa giải được Trong trường hợp hòa giải thành, thẩm phán lập biên bản hòa giải thành Các bên được pháp luật dành cho 7 ngày để suy nghĩ và cân nhắc những nội dung đã thỏa thuận Hết thời hạn mà không có bên nào thay đổi ý kiến, thẩm phán mới ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự Quyết định này
có hiệu lực pháp luật ngay sau khi ban hành và không bị kháng cáo kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm nhưng có thể bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm nếu
có căn cứ cho rằng sự thỏa thuận đó là do nhầm lẫn, lừa dối, đe dọa hoặc trái pháp luật, đạo đức xã hội Trường hợp hòa giải không thành, thẩm phán sẽ ra quyết định đưa vụ án ra xét xử Phiên tòa sơ thẩm diễn ra công khai theo thời gian và địa điểm
Trang 9do thẩm phán ấn định Thủ tục diễn ra phiên tòa theo quy định của BLTTDS Bản
án sơ thẩm có hiệu lực bắt buộc thi hành đối với các bên và được đảm bảo bằng sự cưỡng chế của Nhà nước mà đại diện là cơ quan thi hành án Tuy nhiên, nếu không đồng ý với quyết định phân xử của Tòa án, các bên tranh chấp có quyền kháng cáo trong thời hạn luật định theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm hoặc tái thẩm
1.5 Một số hạn chế của pháp luật về giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực chứng khoán
- Thứ nhất, pháp luật chưa có những quy định cụ thể về phương thức giải
quyết tranh chấp trong lĩnh vực chứng khoán thông qua thương lượng, hòa giải Pháp luật về giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực chứng khoán luôn khuyến khích các bên có xung đột tiến hành thương lượng và hòa giải với nhau bởi những ưu điểm của hai phương thức giải quyết tranh chấp này Pháp luật đã ghi nhận vai trò trung gian hòa giải của một số tổ chức hoạt động trên thị trường chứng khoán nhằm giải quyết hiệu quả tranh chấp chứng khoán Nhưng trên thực tế vẫn chưa có quy định cụ thể về hai cơ chế giải quyết tranh chấp này (chưa có quy định về thủ tục tiến hành, về vấn đề thi hành kết quả thương lượng, hòa giải) mà chỉ là sự ghi nhận phương thức giải quyết tranh chấp trong pháp luật Hai quyết định về hòa giải
do trung tâm giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh ban hành không phải
là văn bản pháp luật bởi lẽ trung tâm không có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật Đối với loại tranh chấp phức tạp, có tính gay gắt cao như tranh chấp chứng khoán, nếu chỉ dựa vào kinh nghiệm của các bên mà không có quy định hướng dẫn cụ thể thì quá trình thương lượng, hòa giải khó đạt được kết quả
- Thứ hai, hạn chế trong quy định về vai trò trung gian hòa giải của một số
tổ chức hoạt động trên thị trường chứng khoán
+ Quy định về thẩm quyền hòa giải của trung tâm giao dịch chứng khoán không thống nhất Cụ thể, theo quy định tại Luật chứng khoán, phạm vi tranh chấp
có thể được hòa giải tại trung tâm bó hẹp trong các tranh chấp liên quan đến hoạt động giao dịch chứng khoán Nhưng tại một số văn bản hướng dẫn thi hành, phạm
vi này đã được mở rộng Theo đó, trung tâm có thể hòa giải các tranh chấp liên quan đến hoạt động kinh doanh chứng khoán hoặc liên quan đến chứng khoán giao dịch tại trung tâm Trong đó, có những tranh chấp liên quan đến hoạt động kinh doanh chứng khoán nhưng không liên quan đến hoạt động giao dịch chứng khoán;
có những tranh chấp liên quan đến chứng khoán đăng ký giao dịch tại trung tâm nhưng không liên quan đến hoạt động giao dịch chứng khoán Tồn tại sự chồng chéo giữa các quy định của pháp luật về thẩm quyền hòa giải của trung tâm giao dịch chứng khoán
+ Phạm vi tranh chấp được hòa giải tại trung tâm giao dịch chứng khoán hoặc sở giao dịch chứng khoán tương đối hẹp, chỉ bao gồm các tranh chấp liên quan đến hoạt động giao dịch chứng khoán, trong khi chủ thể duy nhất có quyền yêu cầu trung tâm đóng vai trò trung gian hòa giải là các thành viên của trung tâm
+ Pháp luật không ghi nhận vai trò trung gian hòa giải của các tổ chức khác hoạt động trên thị trường chứng khoán ngoài trung tâm (sở) giao dịch chứng khoán Thực tế, một số tổ chức khác trên thị trường cũng có đủ điều kiện và khả năng để đảm nhiệm vai trò như như tổ chức lưu ký chứng khoán, các hiệp hội ngành nghề chứng khoán
Trang 10- Thứ ba, thiếu những quy định cụ thể hóa về trọng tài thương mại trong việc
giải quyết tranh chấp trên thị trường chứng khoán Pháp lệnh trọng tài thương mại quy định những vấn đề chung nhất về tổ chức và tố tụng trọng tài để giải quyết các tranh chấp phát sinh trong hoạt động thương mại Hiện nay, pháp luật chuyên ngành về chứng khoán không có quy định cụ thể hướng dẫn về trọng tài thương mại giải quyết các tranh chấp trong lĩnh vực chứng khoán, trong khi xuất phát từ đặc thù của tranh chấp cũng như yêu cầu riêng biệt của hoạt động giải quyết loại tranh chấp này mà cần phải có quy định riêng hoặc quy định cụ thể về một số vấn
đề liên quan đến trọng tài thương mại
+ Pháp luật không quy định thời hiệu khởi kiện riêng nên việc áp dụng thời hiệu khởi kiện 2 năm đối với tranh chấp trên thị trường chứng khoán là tương đối ngắn Trong khi các hành vi vi phạm có thủ đoạn rất tinh vi thì việc bên có quyền lợi bị vi phạm thường không có khả năng phát hiện ngay hành vi vi phạm mà phải mất khoảng thời gian nhất định
+ Pháp luật thiếu những quy định cụ thể về trọng tài viên giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực chứng khoán trong khi đây là vấn đề ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả của hoạt động phân xử Muốn giải quyết hiệu quả tranh chấp trên thị trường chứng khoán cần phải có đội ngũ trọng tài viên đáp ứng những yêu cầu chuyên biệt mà việc giải quyết loại tranh chấp này đặt ra, đặc biệt là yêu cầu về trình độ chuyên môn và kiến thức pháp lý về thị trường chứng khoán Hiện nay, các tiêu chuẩn chung về trọng tài viên ghi nhận trong Pháp lệnh trọng tài thương mại không đảm bảo cho việc hình thành đội ngũ trọng tài viên giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực chứng khoán đạt chất lượng Các trường hợp thay đổi trọng tài viên chưa được cụ thể hóa trong quá trình giải quyết loại tranh chấp chuyên biệt này, đặc biệt trong trường hợp “trọng tài viên có lợi ích trong vụ tranh chấp” Ví dụ: trọng tài viên đang đầu tư vào chứng khoán A có được phân xử tranh chấp liên quan đến chứng khoán A hoặc tổ chức phát hành chứng khoán A không?
+ Quy định về thủ tục trọng tài cần có sự linh động về mặt thủ tục trong một
số trường hợp nhất định, tránh tình trạng kéo dài không cần thiết, gây lãng phí về thời gian và công sức cho các bên Chẳng hạn như thủ tục mở phiên họp có thể không cần thiết với các tranh chấp có giá trị nhỏ, không phức tạp hoặc trách nhiệm chủ động thu thập chứng cứ của trọng tài trong những trường hợp cụ thể… Do pháp luật chuyên ngành không có hướng dẫn cụ thể, việc giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực chứng khoán theo thủ tục trọng tài vẫn phải tuân theo những quy trình tương đối cứng nhắc Bên cạnh đó, quy định liên quan đến thẩm quyền của trọng tài thương mại cũng chưa được cụ thể hóa, bởi trong một số trường hợp, tranh chấp xảy ra trong lĩnh vực chứng khoán thỏa mãn điều kiện phân xử bằng trọng tài nhưng có thể không được phép tự do lựa chọn phương thức này để giải quyết (như tranh chấp giữa các thành viên sở hữu sở giao dịch chứng khoán)
- Thứ tư, một số quy định còn bất cập trong pháp lệnh trọng tài thương mại.
Pháp luật chuyên ngành về chứng khoán và thị trường chứng khoán không có quy định riêng về vấn đề trọng tài nên pháp lệnh trọng tài thương mại là văn bản pháp luật trực tiếp điều chỉnh việc giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực chứng khoán theo thủ tục trọng tài Pháp lệnh vẫn tồn tại một số hạn chế: