1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Giảm trừ gia cảnh theo quy định pháp luật hiện hành

16 250 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 137,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khái niệm: Giảm trừ gia cảnh là số tiền được trừ vào thu nhập chịu thuế trước khi tính thuế đối với thu nhập từ kinh doanh, tiền lương, tiền công của đối tượng nộp thuế là cá nhân cư trú

Trang 1

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 2

NỘI DUNG 3

I/ Giảm trừ gia cảnh theo quy định pháp luật hiện hành 3

1 Khái niệm: 3

2 Đối tượng được giảm trừ: 3

3 Mức giảm trừ gia cảnh: 4

4 Đối tượng và căn cứ xác định người phụ thuộc: 4

II/ Thực tế tuân thủ pháp luật về giảm trừ gia cảnh: 6

1 Về mức giảm trừ gia cảnh: 6

2 Về người phụ thuộc: 8

3 Cơ chế tự kê khai người phụ thuộc: 10

III/ Các hướng khắc phục tăng hiệu quả việc tuân thủ pháp luật về giảm trừ gia cảnh 12

1 Về mức giảm trừ: 12

2 Về người phụ thuộc: 13

KẾT LUẬN 15

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 16

Trang 2

MỞ ĐẦU

Luật thuế thu nhập cá nhân là một trong hệ thống luật thuế của nước ta hiện nay Thuế thu nhập cá nhân là khoản thuế trực thu, thu vào khoản thu nhập cao chính đáng của cá nhân nhằm thực hiện việc điều tiết thu thu nhập giữa các tầng lớp trong xã hội về thu nhập góp phần tăng nguồn thu cho Ngân sách nhà nước Tuy nhiên không vì thế mà Nhà nước tận thu triệt để các khoản mà Nhà nước vẫn có những quy định để giảm bớt gánh nặng về tiền thuế cho người dân Cụ thể trong luật Thuế thu nhập cá nhân có các quy định về giảm trừ gia cảnh Vậy giảm trừ gia cảnh là gì? Pháp luật quy định

về giảm trừ gia cảnh như thế nào? Và thực tế áp dụng chế định này ra sao? Bài làm sau đây sẽ giúp chúng ta trả lời cụ thể những câu hỏi trên

Trang 3

NỘI DUNG

I/ Giảm trừ gia cảnh theo quy định pháp luật hiện hành.

1 Khái niệm:

Giảm trừ gia cảnh là số tiền được trừ vào thu nhập chịu thuế trước khi tính thuế đối với thu nhập từ kinh doanh, tiền lương, tiền công của đối tượng nộp thuế là cá nhân cư trú (Điều 19 Luật thuế TNCN)

Giảm trừ gia cảnh là số tiền để xác định thu nhập tính thuế của các khoản thu nhập mang tính thường xuyên của cá nhân cư trú Giảm trừ gia cảnh bao gồm hai phần là: mức giảm trừ đối với đối tượng nộp thuế và mức giảm trừ đối với người phụ thuộc

Quy định về giảm trừ gia cảnh chỉ áp dụng đối với cá nhân cư trú có thu nhập từ kinh doanh, thu nhập từ tiền lương, tiền công, theo đó cá nhân kinh doanh được giảm trừ gia cảnh; Giảm trừ gia cảnh cho bản thân mình và phần cho người phụ thuộc mà cá nhân kinh doanh có trách nhiệm nuôi dưỡng Trường hợp cá nhân cư trú vừa có thu nhập từ kinh doanh, vừa có thu nhập từ tiền lương, tiền công thì cũng chỉ được tính giảm từ gia cảnh một lần vào tổng thu nhập từ kinh doanh và tiền lương, tiền công

2 Đối tượng được giảm trừ:

Đối tượng được giảm trừ gia cảnh trước hết phải là đối tượng nộp Thuế TNCN Đó là các cá nhân kinh doanh và không kinh doanh có thu nhập chịu thuế phát sinh Đối tượng nộp Thuế TNCN bao gồm cá nhân cư trú có thu nhập chịu thuế phát sinh trong và ngoài lãnh thổ Việt Nam và cá nhân không

cư trú có thu nhập chịu thuế phát sinh trong lãnh thổ Việt Nam Đối tượng được giảm trừ gia cảnh là các cá nhân cư trú

Trang 4

Thứ hai là, theo quy định của Luật Thuế thu nhập cá nhân, Nghị định số

100 ngày 8/9/2008 của Chính phủ về quy định chi tiết một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân quy định: Cá nhân cư trú có thu nhập từ tiền lương, tiền công, thu nhập từ kinh doanh được giảm trừ gia cảnh vào thu nhập chịu thuế trước khi tính thuế

3 Mức giảm trừ gia cảnh:

Về mức giảm trừ gia cảnh đối với người nộp thuế là 48 triệu đồng/ năm; giảm trừ cho mỗi người phụ thuộc mà người nộp thuế có nghĩa vụ nuôi dưỡng là 1,6 triệu đồng/tháng kể từ tháng phát sinh nghĩa vụ nuôi dưỡng

Việc xác định mức giảm trừ đối với người phụ thuộc được thực hiện theo nguyên tắc: mỗi người phụ thuộc chỉ được tính giảm trừ một lần vào một đối tượng nộp thuế trong năm tính thuế Trường hợp các đối tượng nộp thuế có chung người phụ thuộc phải nuôi dưỡng thì phải tự thoả thuận để đăng ký giảm trừ gia cảnh vào một đối tượng nộp thuế

4 Đối tượng và căn cứ xác định người phụ thuộc:

Đối tượng và căn cứ xác định người phụ thuộc như sau:

Là con dưới 18 tuổi; con trên 18 tuổi bị tàn tật, không có khả năng lao động; con đang theo học tại các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, dậy nghề, không có thu nhập hoặc thu nhập không vượt quá mức thu nhập quy định (không quá 500.000đồng/tháng)

Người ngoài độ tuổi lao động hoặc người trong độ tuổi lao động theo quy định của pháp luật nhưng bị tàn tật, không có khả năng lao động, không có thu nhập hoặc có thu nhập nhưng không vượt quá mức thu nhập quy định (500.000đồng/tháng) bao gồm: vợ hoặc chồng của người nộp thuế; cha đẻ,

mẹ đẻ, cha vợ, mẹ vợ (hoặc cha chồng, mẹ chồng) của người nộp thuế; cá

Trang 5

nhân khác không nơi nương tựa mà người nộp thuế phải trực tiếp nuôi

dưỡng

Để được giảm trừ gia cảnh người nộp thuế phải có giấy tờ hợp pháp xác minh về quan hệ với người phụ thuộc

Người nộp thuế tự kê khai sô lượng người phụ thuộc kèm theo giấy tờ hợp pháp và tự chịu trách nhiệm trược pháp luật về tính chính xác của việc

tự kê khai Cá nhân chỉ đăng ký giảm trừ gia cảnh lần đầu, khi có thay đổi người phụ thuộc thì mới đăng ký điều chỉnh bổ sung Việc đăng ký giảm trừ gia cảnh cho người phụ thuộc là của từng cá nhân cư trú có thu nhập từ tiền lương, tiền công hoặc có thu nhập từ kinh doanh Công ty không phải đăng

ký giảm trừ gia cảnh, mà chỉ có trách nhiệm tiếp nhận bản đăng ký người phụ thuộc được giảm trừ rồi chuyển một bản đăng ký giảm trừ người phụ thuộc của đối tượng nộp thuế cho cơ quan thuế trực tiếp quản lý cơ quan trả thu nhập

Bộ tài chính có quy định về thủ tục, hồ sơ kê khai người phụ thuộc được giảm trừ gia cảnh

Cụ thể trong hồ sơ chứng minh người phụ thuộc là ông bà nội ngoại, cô,

dì, chú, bác, cậu ruột, anh ,chị, em ruột, cháu ruột, các cá nhân khác và nội dung xác nhận của Uỷ ban nhân dân cấp xã đối với trường hợp người phụ thuộc là ông, bà nội, ông, bà ngoại, cô, dì, chú, bác, cậu ruột, cháu ruột, các

cá nhân khác

Trường hợp người phụ thuộc có cùng hộ khẩu đối với đối tượng nộp thuế thì không cần xác nhận của Uỷ ban nhân dân cấp xã mà chỉ cần bản sao hộ khẩu;

Trang 6

Trường hợp người phụ thuộc không cùng hộ khẩu nhưng đang sống cùng đối tượng nộp thuế là: bản sao đăng kí tạm trú hoặc bản tự khai có xác nhận của Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi đối tượng nộp thuế sống về việc người phụ thuộc đang sống cùng;

Trường hợp người phụ thuộc không sống cùng đối tượng nộp thuế nhưng đối tượng nộp thuế phải trực tiếp nuôi dưỡng thì đối tượng nộp thuế tự khai

và đề nghị Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi người phụ thuộc đang sống xác nhận

về việc người phụ thuộc hiện đang sống tại địa phương và không có ai nuôi dưỡng;

II/ Thực tế tuân thủ pháp luật về giảm trừ gia cảnh:

Giảm trừ gia cảnh là một chế định tiến bộ trong Luật thuế TNCN Quy định mức giảm trừ gia cảnh nhằm giảm bớt sự nặng nề về nghĩa vụ thuế cho người nộp thuế, cũng như đảm bảo được mức thu nhập đáp ứng đầy đủ cho nhu cầu sinh hoạt về vật chất và tinh thần của người dân Các quy định pháp luật về giảm trừ gia cảnh hiện nay đã và đang được tuân thủ tốt, và đúng trình tự pháp luật quy định

Tuy nhiên trong quá trình thực hiện và tuân thủ pháp luật về giảm trừ gia cảnh vẫn còn tồn tại một số vấn đề bất cập cần phải khắc phục để có thể thực hiện các quy định một cách tốt hơn, hiệu quả hơn Cụ thể việc áp dụng các quy định pháp luật về giảm trừ gia cảnh gặp phải những vẫn đề sau:

1 Về mức giảm trừ gia cảnh:

Thực tế cho thấy tại thời điểm 2007, 2009, mức giảm trừ gia cảnh như quy định của Luật là phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của Việt Nam Tại thời điểm xây dựng luật, lương cơ bản của Việt Nam là 450.000 đồng Bên cạnh đó, căn cứ vào thu nhập bình quân đầu người năm 2006 khoảng

720 USD ( tương đương 1,1 triệu đồng) đến những năm 2009-2010 thu nhập

Trang 7

đạt khoảng 1000-1200 USD một năm, tương đương với 1,6 – 2 triệu đồng mỗi người/ tháng; tính theo tỉ giá thời điểm đó số liệu tổng cục thống kê cho biết thu nhập bình quân 10 nhóm dân cư các nước cao nhất năm 2004 là 1,5 triệu đồng/ tháng Nếu tính cả yếu tố trượt giá và tăng trưởng kinh tế thì năm

2009 thu nhập nhóm này vào khoảng 2,7 đến 2,8 triệu đồng/ tháng

Tuy nhiên, cần phải lưu ý rằng trên thực tế, dự án Luật thuế TNCN được tiến hành xây dựng từ năm 2007 đến năm 2008 được thông qua và năm có hiệu lực thi hành 2009 Trong quá trình này, việc căn cứ vào mức thu nhập của năm 2008 ( theo cách tính của ngành tài chính là 1,5 triệu đông/ tháng)

để áp dụng mức khởi điểm chịu thuế và giảm trừ gia cảnh cho thời gian sau

đó đã khiến tính toán này trở nên lạc hậu

Cụ thể, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) năm 2008 là gần 23% so với năm 2007 , đến năm 2009 CPI là gần 7% so với năm 2008, và đến năm 2010 CPI đã tăng tới mức 11,75% so với năm 2009 Trong đó mức trượt giá của riêng nhóm tiêu dùng vào lương thực thực phẩm tăng giá liên tục, điều này cho thấy mức thu nhập của người dân không thể theo kịp đà tăng giá Bên cạnh

đó các khoản chi cho nhóm giáo dục cũng liên tục tăng Với tình hình đó, mức khởi điểm chịu thuế và mức giảm trừ gia cảnh đã quá thấp

Xét một ví dụ cụ thể tại Hà Nội, nơi dân cư tập trung đông đúc và là một trong những nơi thu nhập bình quân khá cao so với cả nước Anh T có mức thu nhập là 6 triệu/ tháng, với mức thu nhập này anh T phải nộp thuế TNCN với số tiền là 100.000 đồng Nhưng với mức thu nhập này thì anh T không

đủ trang chải các chi phí và cũng không thể có tiền để dành dụm, tái đầu tư cho bản thân Tính xơ xơ các khoản anh T phải chi tiêu trong tháng gồm tiền thuê nhà ở mức tạm bợ tại Hà Nội mất 1 triệu đồng/ tháng; tiền điện, nước sinh hoạt, điện thoại cá nhân, chi phí đi lại, ăn uống và sinh hoạt hàng ngày thì anh T hầu như không thể để dành được tiền để chi cho các khoản khám

Trang 8

chữa bệnh, thuốc thang khi ốm đau, cũng không thể trả được tiền học thêm

và càng khó để có thể có khoản tiền phục vụ cho nhu cầu giải trid vui chơi,

du lịch hay là khoản tiền biếu cha mẹ già

Một ví dụ khác: chị X có con nhỏ, mỗi tháng chi phí tiền mua sữa cho con, sinh hoạt hàng ngày, tiền nhà trẻ cũng xấp xỉ 3 triệu đồng Trong khi đó quy định của Luật chỉ giảm trừ 1,6 triệu đồng/ tháng

Như vậy, chưa nói đến việc đóng thuế ít hay nhiều mà chỉ nói đến tâm trang của người đi nộp thuế; đặt mình vào vị trí một người mà lương còn chưa đủ ăn, chưa đủ đáp ứng chi ohi cần thiết cho chi phí sinh hoạt của gia đình vậy mà vẫn phải chịu thuế TNCN Điều đó gây bức xúc cho người nộp thuế là điều đương nhiên

2 Về người phụ thuộc:

Luật thuế TNCN quy định người phụ thuộc, điều luật này được thông tư

số 84/2008/TT-BTC hướng dẫn cụ thể như sau:

Người phụ thuộc bao gồm:

“a) Con: con đẻ, con nuôi, con ngoài giá thú, cụ thể:

- Con dưới 18 tuổi (được tính đủ theo tháng).

Ví dụ: Con anh Nguyễn Văn A sinh tháng 7 năm 1992 Trường hợp này con anh Nguyễn Văn A được tính là người phụ thuộc đến hết tháng 6 năm

2010

- Con trên 18 tuổi bị tàn tật, không có khả năng lao động

- Con đang theo học tại các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, dạy nghề, không có thu nhập hoặc có thu nhập nhưng không vượt

Trang 9

quá mức quy định của Luật.

b) Vợ hoặc chồng của đối tượng nộp thuế ngoài độ tuổi lao động hoặc trong độ tuổi lao động theo quy định của pháp luật nhưng bị tàn tật, không

có khả năng lao động, không có thu nhập hoặc có thu nhập nhưng không vượt quá mức quy định của Luật.

c) Cha đẻ, mẹ đẻ, cha vợ, mẹ vợ (hoặc cha chồng, mẹ chồng) của đối tượng nộp thuế ngoài độ tuổi lao động hoặc trong độ tuổi lao động theo quy định của pháp luật nhưng bị tàn tật, không có khả năng lao động, không có thu nhập hoặc có thu nhập nhưng không vượt quá mức quy định của Luật d) Các cá nhân khác là người ngoài độ tuổi lao động hoặc trong độ tuổi lao động theo quy định của pháp luật nhưng bị tàn tật, không có khả năng lao động, không nơi nương tựa, không có thu nhập hoặc có thu nhập nhưng không vượt quá mức quy định cảu Luật mà đối tượng nộp thuế đang phải trực tiếp nuôi dưỡng, bao gồm:

- Anh ruột, chị ruột, em ruột của đối tượng nộp thuế.

- Ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, cô ruột, dì ruột, cậu ruột, chú ruột, bác ruột của đối tượng nộp thuế

- Cháu ruột của đối tượng nộp thuế (bao gồm con của anh ruột, chị ruột,

em ruột)

- Người phải trực tiếp nuôi dưỡng khác theo quy định của pháp luật.”

Điều bất cập trong việc thực hiện giảm trừ gia cảnh đối với người phụ thuộc đã bộc lộ ở chỗ xác định người phụ thuộc dựa vào mức thu nhập bình quân không vượt quá 500.000 đồng/ tháng Trong khi mức giảm trừ gia cảnh

Trang 10

là 1,6 triệu đồng/ tháng mà chúng ta lại lấy mức 500.000 đồng là cơ sở để xác định họ có phải là người phụ thuộc hay không, điều này không hợp lí cho lắm

Một hạn chế nữa của Luật thuế TNCN liên quan đến giảm trừ gia cảnh về người phụ thuộc Chúng ta có thể xem xét một ví dụ sau: một gia đình của hai vợ chồng đã quá tuổi lao động, sống ở nông thôn, và không có thu nhập

Họ có hai người con trai đã thành niên, người con cả đã đi làm còn người thứ hai vẫn đang theo học đại học Rõ ràng trong trường hợp này người con

cả sẽ phải gánh vác trách nhiệm nuôi dưỡng cha mẹ và cả em trai đang đi học Đây là trường hợp không hiếm gặp trong thực tế xã hội Việt Nam hiện nay Các gia đình với mưc thu nhập thấp thường chỉ đủ nuôi một người con

ăn học Nếu có nhiều con thì “ đứa lớn nuôi đúa bé, đúa đi làm nuôi đúa đang đi học” Vậy mà theo quy định của Luật thuế TNCN thì người em trong trường hợp gia dình trên không được coi là người phụ thuộc và không được giảm trừ gia cảnh Vậy chúng ta nên sửa đổi, nên đưa trường hợp anh chị em, cháu ruột đang đi học là một trường hợp miễn trừ gia cảnh cho người phụ thuộc đặc biệt, chỉ cần bảo đảm được nguyên tắc mỗi người phụ thuộc chỉ được tính giảm trừ gia cảnh một lần vào một đối tượng nộp thuế

3 Cơ chế tự kê khai người phụ thuộc:

Để thuận tiện cho người nộp thuế, Thông tư 62/2009/TT-BTC về sửa đổi,

bổ sung việc thi hành một số điều tại Luật Thuế TNCN cho phép cá nhân được tự kê khai người phụ thuộc và chịu trách nhiệm về nội dung kê khai đó (không cần cơ quan Nhà nước xác nhận)

Đối với người lao động làm việc trong các tổ chức kinh tế, cơ quan hành chính sự nghiệp có bố, mẹ, vợ (hoặc chồng), con và những người khác thuộc đối tượng được tính là người phụ thuộc (đã khai rõ trong lý lịch) thì hồ sơ

Trang 11

chứng minh người phụ thuộc chỉ cần tờ khai đăng ký người phụ thuộc, có xác nhận của thủ trưởng đơn vị về các nội dung: họ tên người phụ thuộc, năm sinh và quan hệ với đối tượng nộp thuế, không cần bản sao chứng minh nhân dân, hộ khẩu hay giấy tờ nào khác

Thực hiện cơ chế tự khai trong việc liệt kê người phụ thuộc sẽ làm giảm bớt gánh nặng công việc cho cơ quan thuế, và giúp việc thực giảm trừ gia cảnh cho người nộp thuế trở nên gọn nhẹ, nhanh chóng và thuận tiện hơn Nhưng bên cạnh đó vẫn còn một số cá nhân chấp hành cơ chế tự kê khai không tốt, xảy ra tình trạng lợi dụng cơ chế tự khai này để gian lận thuế Thực tế có những trường hợp chạy giấy tờ để xác minh là người phụ thuộc, liệt kê nhiều người phụ thuộc mặc dù thực tế họ không phải người phụ thuộc của đối tượng nộp thuế để tăng số tiền được giảm trừ gia cảnh

Trước tình hình đó ông Nguyễn Huy Trường, Trưởng Ban Thuế TNCN- Tổng cục Thuế, cũng đã nhấn mạnh: Vì người nộp thuế tự khai, tự chịu trách nhiệm nên cơ quan thuế có quyền hậu kiểm khi cần thiết Trường hợp cá nhân nộp thuế gian lận khi kê khai người phụ thuộc nhằm trốn thuế, người

đó sẽ bị xử lý theo quy định của Luật Quản lý thuế (phạt từ 1 đến 3 lần số tiền thuế gian lận) Luật Quản lý thuế không khống chế thời gian hồi tố nên nếu 10-20 năm nữa ngành thuế tập hợp dữ liệu, phát hiện có gian lận thì vẫn

xử lý nghiêm khắc

Viêc quy định về xử lý người vi phạm pháp luật thuế, gian lận, trốn thuế một cách nghiêm khắc sẽ đảm bảo thực hiện cho cơ chế tự khai được thực hiện nghiêm túc, chính xác Có như vậy việc tuân thủ nghiêm chỉnh quy định pháp luật về giảm trừ gia cảnh mới thật sự hiệu quả

Ngày đăng: 29/01/2016, 22:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w