1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phạm vi TNBT của Nhà nước trong hoạt động thi hành án dân sự

13 473 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 117 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để tìm hiểu sâu hơn về vấn đề này, nhóm chúng em xin chọn một vụ việc thực tế làm phát sinh trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động thi hành án dân sự, cụ thể trong trường hợ

Trang 1

MỤC LỤC

Trang

A ĐẶT VẤN ĐỀ:……….1 Nội dung vụ việc:……… 1

B GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ:

I Khái niệm TNBT của Nhà nước trong hoạt động thi hành

án dân sự:……….3

II Phạm vi TNBT của Nhà nước trong hoạt động thi hánh án

dân sự:……… 4 III Giải quyết vụ việc:

1 Chủ thể trong vụ việc:……… 5

2 Căn cứ phát sinh Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong vụ việc:…7

3 Xác định thiệt hại trong vụ việc:……… 9

C KẾT LUẬN:……… 11 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO:……….12

Trang 2

A ĐẶT VẤN ĐỀ

Thi hành án dân sự là công tác phức tạp, liên quan đến nhiều lĩnh vực trong đời sống xã hội, trực tiếp ảnh hưởng đến quyền về tài sản, nhân thân của các bên đương sự và những người có liên quan Việc tổ chức thi hành bản án, quyết định của tòa án sẽ làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ về tài sản của các bên đương sự Do vậy, chẳng mấy người tự nguyện thi hành án trừ khi không thể trốn tránh được và những khó khăn, rào cản trong thi hành án vì thế luôn xuất hiện với muôn hình vạn trạng Ngoài ra, những người có thẩm quyền thi hành án cũng không tránh khỏi những sai sót dẫn đến việc Nhà nước phải bồi

thường Để tìm hiểu sâu hơn về vấn đề này, nhóm chúng em xin chọn một vụ việc

thực tế làm phát sinh trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động thi hành án dân sự, cụ thể trong trường hợp người thi hành công vụ ra quyết định trái pháp luật theo các trường hợp tại Khoản 1 Điều 38 Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.

Nội dung vụ việc:

Theo đơn khởi kiện, năm 1995, ông Vũ Đức Liêm mua một mảnh đất 750m2 ở xã Hố Nai (huyện Thống Nhất, Đồng Nai) cất nhà ở

Năm 1996, toàn bộ nhà và đất này bị Thi hành án huyện Thống Nhất (nay là huyện Trảng Bom) ra quyết định cưỡng chế kê biên, phát mại để thi hành bản án của vợ ông

Ông Liêm đã khiếu nại, khối tài sản này là tài sản chung vợ chồng, việc ra quyết định cưỡng chế kê biên phần tài sản của ông để thi hành bản án của vợ ông là sai Dù vậy, ngày 7.3.1997, cơ quan thi hành án vẫn bán đấu giá toàn bộ khối tài sản này và cưỡng chế giao tài sản cho người trúng đấu giá

Trang 3

Sau nhiều lần xử đi, xử lại, ngày 19.1.2010 Tòa phúc thẩm TAND Tối cao ra phán quyết hành vi của ông Đỗ Ngọc Chất (nguyên đội trưởng đội Thi hành án) và Phùng Văn San (chấp hành viên) có sai phạm trong việc ra quyết định cưỡng chế

kê biên, phát mãi tài sản của ông Liêm, phạm tội “thiếu trách nhiệm…”

Từ đó, ông Liêm kiện đòi bồi thường theo Luật Trách nhiệm Bồi thường Nhà nước Cụ thể, ông Liêm yêu cầu cơ quan thi hành án phải bồi thường cho ông toàn

bộ tài sản phát mãi sai, tiền thuê chỗ ở từ đó đến nay (15 năm), hoa lợi khai thác tài sản, tổng cộng là 8,3 tỉ đồng

TAND huyện Trảng Bom (Đồng Nai) ngày 23.7.2012 xử sơ thẩm xác định

cán bộ của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trảng Bom đã kê biên, bán đấu giá

tài sản của ông Liêm không đúng quy định, Hội đồng xét xử tuyên chấp nhận một

phần yêu cầu của ông Liêm tuyên buộc Chi cục Thi hành án (THA) dân sự huyện Trảng Bom (Đồng Nai) bồi thường cho ông Vũ Đức Liêm (ngụ ở Trảng Bom, Đồng Nai) một nửa giá trị mảnh đất của vợ chồng ông Liêm, tương đương gần 2,4

tỉ đồng và 180 triệu đồng tiền thuê nhà trong 15 năm từ 1997 đến nay

Nhận xét:

- Vụ việc đã được TAND huyện Trảng Bom xét xử sơ thẩm giải quyết ngày 23.7.2012

- Vụ việc được sử dụng từ web:

http://www.thanhnien.com.vn/pages/20120724/cuong-che-sai-thi-hanh-an-boi-thuong-tien-ti.aspx

Trang 4

B GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

I Khái niệm TNBT của Nhà nước trong hoạt động thi hành án dân sự:

Định nghĩa:

Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động thi hành án dân sự

là trách nhiệm pháp lý trong đó Nhà nước có trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây ra trong hoạt động thi hành

án dân sự.

Đặc điểm:

Hoạt động thi hành án dân sự khá phức tạp, lại dễ xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể nên việc Nhà nước có trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật của chấp hành viên, thủ trưởng cơ quan thi hành án gây ra là rất cần thiết Do đó, Luật TNBT của Nhà nước đã qui định Nhà nước có trách nhiệm bồi thường đối với các thiệt hại thực tế do hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây ra đối với người bị thiệt hại trong quá trình thi hành án dân sự

Hoạt động thi hành án dân sự là một dạng của hoạt động tư pháp nhưng có những đặc thù riêng, trong đó các chủ thể có thẩm quyền đưa ra bản án, quyết định của tòa án và các quyết định của các cơ quan, tổ chức khác ra thi hành Và vấn đề phải chịu trách nhiệm bồi thường của Nhà nước khi các hành vi, quyết định trái pháp luật của thủ trưởng cơ quan thi hành án, chấp hành viên có các đặc trưng sau:

- Phải là các quyết định, hành vi trái pháp luật của thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự, chấp hành viên trong quá trình tổ chức thi hành án dân sự

- Các quyết định, hành vi trái pháp luật của thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự, chấp hành viên thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường nhà nước qui định tại điều

38 Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước

- Các quyết định, hành vi trái pháp luật của thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự, chấp hành viên phải được xác định trong giải quyết khiếu nại lần đầu hoặc quyết

Trang 5

định giải quyết khiếu nại lần hai của cơ quan có thẩm quyền giải quyết khiếu nại trong thi hành án dân sự theo qui định tại Mục 1 Chương VI Luật thi hành án dân

sự hoặc quyết định giải quyết tố cáo của cơ quan có thẩm quyền giải quyết tố cáo trong thi hành án dân sự theo qui định tại Mục 2 Chương VI Luật thi hành án dân sự

II Phạm vi TNBT của Nhà nước trong hoạt động thi hánh án dân sự:

Theo qui định tại Điều 38 Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước,

phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động thi hành án dân sự được xác định trong các trường hợp cụ thể sau:

1 Ra quyết định thi hành án không đúng hoặc cố ý không ra quyết định thi hành án

2 Ra quyết định thu hồi, sửa đổi, bổ sung, hủy quyết định về thi hành án không đúng hoặc cố ý không ra quyết định thu hồi, sửa đổi, bổ sung, hủy quyết định về thi hành án

3 Ra quyết định áp dụng biện pháp bảo đảm không đúng hoặc cố ý không ra quyết định áp dụng biện pháp bảo đảm

4 Ra quyết định cưỡng chế thi hành án không đúng hoặc cố ý không ra quyết định cưỡng chế thi hành án

5 Ra quyết định thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng hoặc cố ý không ra quyết định thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời

6 Ra quyết định hoãn, tạm đình chỉ, đình chỉ thi hánh án không đúng hoặc

cố ý không ra quyết định hoãn, tạm đình chỉ, đình chỉ thi hành án

7 Ra quyết định thi hành án không đúng hoặc cố ý không ra quyết định tiêp tục thi hành án

Trang 6

8 Thủ trưởng cơ quan thi hành án, chấp hành viên có hành vi trái pháp luật trong quá trình tổ chức thi hành các quyết định của cơ quan thi hành án hoặc cố ý không tổ chức thi hành các quyết định của cơ quan thi hành án

III Giải quyết vụ việc:

1 Chủ thể trong vụ việc:

a) Người gây thiệt hại:

Trong quan hệ pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, người gây

thiệt hại là người thi hành công vụ đã gây thiệt hại Theo khoản 1 Điều 3 luật

trách nhiệm bồi thường của Nhà nước quy định: “Người thi hành công vụ là

người được bầu cử, phê chuẩn, tuyển dụng hoặc bổ nhiệm vào một vị trí trong cơ quan nhà nước để thực hiện nhiệm vụ quản lý hành chính, tố tụng, thi hành án hoặc người khác được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao thực hiện nhiệm vụ

có liên quan đến hoạt động quản lý hành chính, tố tụng, thi hành án.”.Theo đó, bao

gồm:

+ Nhóm những người thuộc đối tượng là cán bộ, công chức trong cơ quan nhà nước thực hiện nhiệm vụ quản lý hành chính, tố tụng, thi hành án

+Nhóm những người được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao thực hiện nhiệm vụ có liên quan đến hoạt động quản lí hành chính, tố tụng, thi hành án

Xét tình huống trên ta thấy, ông Đỗ Ngọc Chất (nguyên đội trưởng đội THA)

và Phùng Văn San (chấp hành viên) chính là nhóm đối tượng cán bộ, công chức thực hiện nhiệm vụ thi hành án đã ra quyết định kê biên toàn bộ nhà và đất để thi

hành bản án của vợ ông mà việc ra quyết định này là sai Như vậy, chủ thể gây thiệt hại ở đây chính là ông Nguyễn Đỗ Chất và Phùng Văn San.

b) Người bị thiệt hại:

Trang 7

Điều 2 Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước quy định đối tượng

được bồi thường như sau: “Cá nhân, tổ chức bị thiệt hại về vật chất, tổn thất về

tinh thần (sau đây gọi chung là người bị thiệt hại) trong các trường hợp quy định tại Luật này thì được Nhà nước bồi thường.”

Như vậy, những người được pháp luật thừa nhận là người được Nhà nước bồi thường thiệt hại do người thi hành công vụ gây ra là người bị thiệt hại

Ở đây, ông Vũ Đức Liêm là người trực tiếp chịu sự tác động đối với quyết định thi hành án của THA huyện Thống Nhất (nay là huyện Trảng Bom) về việc kê biên, phát mãi để thi hành bản án của vợ ông Mà việc cán bộ của Chi cục THA dân

sự huyện Trảng Bom đã kê biên, bán đấu giá tài sản của ông Liêm không đúng quy định, như vậy đã làm ảnh hưởng, gây thiệt hại đối với ông Vũ Đức Liêm Do đó, có

thể khẳng định người bị thiệt hại là ông Vũ Đức Liêm.

c) Cơ quan thực hiện trách nhiệm bồi thường của Nhà nước:

Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước xác định Nhà nước có trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp thiệt hại do người thi hành công vụ gây ra bởi người thi hành công vụ là người đại diện cho Nhà nước, nhân danh Nhà nước để thực hiện công vụ, nhiệm vụ Như vậy, trong quan hệ pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, chủ thể có trách nhiệm bồi thường luôn được xác định là Nhà nước Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước sẽ được thực hiện qua các

cơ quan có thẩm quyền trong bộ máy nhà nước Tùy tững lĩnh vực hoạt động khác nhau mà trách nhiệm bồi thường của Nhà nước sẽ thuộc về những cơ quan khác

nhau Cụ thể trong lĩnh vực thi hành án, tại khoản 2 Điều 40 Luật trách nhiệm

bồi thường của Nhà nước quy định rõ về cơ quan có trách nhiệm bồi thường: “Cơ

quan có trách nhiệm bồi thường trong hoạt động thi hành án dân sự là cơ quan thi hành án dân sự trực tiếp quản lý người thi hành công vụ có hành vi trái pháp luật gây ra thiệt hại.”

Trang 8

Như vậy, Chi cục THA dân sự huyện Trảng Bom nơi trực tiếp quản lý

người thi hành công vụ - Đỗ Ngọc Chất (nguyên đội trưởng đội THA) và Phùng Văn San (chấp hành viên) có hành vi trái pháp luật gây ra thiệt hại cho ông Vũ Đức Liêm là cơ quan thực hiện trách nhiệm bồi thường của Nhà nước

2 Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong vụ việc:

Căn cứ thứ nhất, có văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định

hành vi của người thi hành công vụ là trái pháp luật Theo quy định tại khoản 3 Điều 3 Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước và các văn bản hướng dẫn thi hành, văn bản xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ có thể là: +) Quyết định giải quyết khiếu nại của người có thẩm quyền đã có hiệu lực pháp luật theo quy định của pháp luật

+) Quyết định xử lý tố cáo của cơ quan hoặc người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật

+) Bản án, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng đã có hiệu lực pháp luật

Theo như trong tình huống: ngày 19.1.2010 Tòa phúc thẩm TAND Tối cao

ra phán quyết hành vi của ông Đỗ Ngọc Chất (nguyên đội trưởng đội THA) và Phùng Văn San (chấp hành viên) có sai phạm trong việc ra quyết định cưỡng chế

kê biên, phát mãi tài sản của ông Liêm, phạm tội “thiếu trách nhiệm…” Vậy, phán quyết của Tòa phúc thẩm TAND Tối cao là văn bản xác định hành vi trái pháp luật của ông Đỗ Ngọc Chất (nguyên đội trưởng đội THA) và Phùng Văn San (chấp hành viên) – người thi hành công vụ

Căn cứ thứ hai, hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ thuộc

phạm vi trách nhiệm bồi thường quy định tại các điều 13, 28, 38, 39 Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính, tố tụng dân

sự, tố tụng hành chính, thi hành án là trách nhiệm có giới hạn, không đặt ra đối với

Trang 9

tất cả các trường hợp có hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây thiệt hại

Tình huống trên được áp dụng trong hoạt động thi hành án dân sự Năm

1996, toàn bộ nhà và đất của ông Liêm bị THA huyện Thống Nhất (nay là huyện Trảng Bom) ra quyết định cưỡng chế kê biên, phát mại để thi hành bản án của vợ

ông, do đó vi phạm vào điểm d Khoản 1 Điều 38 là: “Cưỡng chế thi hành án”.

Ông Liêm đã khiếu nại, khối tài sản này là tài sản chung vợ chồng, việc kê biên phần tài sản của ông để thi hành bản án của vợ ông là sai Dù vậy, ngày 7.3.1997, THA vẫn bán đấu giá toàn bộ khối tài sản này và cưỡng chế giao tài sản cho người trúng đấu giá

Qua tình huống, ta thấy được hành vi trái pháp luật của THA huyện Thống Nhất là đã ra quyết định cưỡng chế, có hành vi kê biên tài sản, sau đó bán đấu giá toàn bộ tài sản mà không đủ căn cứ, khối tài sản này là tài sản chung của vợ chồng ông Liêm, vậy mà nó lại bị kê biên để thi hành bản án của vợ ông Mà trên thực tế việc làm này có một hậu quả pháp lý không hề nhỏ khi đã phát mại tài sản của vợ chồng ông Có ý kiến cho rằng ông Liêm phải chịu trách nhiệm liên đới của vợ mình nhưng theo ý kiến của nhóm thì việc chịu trách nhiệm liên đới ở đây cần phải xem xét tính chất của vụ việc, mức độ bồi thường, nội dung bồi thường cụ thể… vì vậy theo ý kiến của nhóm, việc làm của ông Đỗ Ngọc Chất (nguyên đội trưởng đội THA) và Phùng Văn San (chấp hành viên) – người thi hành công vụ là chưa đủ cơ

sở và là hành vi trái pháp luật gây ra thiệt hại và thuộc trách nhiệm bồi thường của nhà nước

Căn cứ thứ ba, có thiệt hại thực tế do hành vi trái pháp luật của người thi

hành công vụ gây ra đối với người bị thiệt hại Đó là: tiền thuê chỗ ở từ 1997 đến nay (15 năm), hoa lợi khai thác tài sản, tổng cộng là 8,3 tỉ đồng Mà nếu không có oan sai ấy thì ông Liêm đã được hưởng những phần hoa lợi đó Thiệt hại này không

hề nhỏ về giá trị vật chất, đã khiến gia đình ông Liêm phải chịu một tổn thất rất lớn

Trang 10

Nhóm em chỉ đề cập ở đây thiệt hại vật chất vì thiệt hại này là thiệt hại ta có thể nhìn thấy trên thực tế một cách rõ ràng Còn thiệt hại về mặt tinh thần thì trong trường hợp này nhóm em tạm thời không đề cập tới

Căn cứ thứ tư, yếu tố lỗi Do có hai quan điểm trái chiều về việc có xác định

yêu tố lỗi là mội trong những yếu tố bắt buộc hay không, tuy vậy, nhóm em vẫn xin xác định yếu tố lỗi trong trường hợp này của THA huyện Thống Nhất là chưa có đủ trình độ cũng như trách nhiệm của người thi hành công vụ Nên dẫn đến tình trạng xảy ra oan sai trong hoạt đông tố tụng dân sự Bởi có xác định được yếu tố lỗi thì mới có thể quy trách nhiệm một cách cụ thể và việc xác định phần cán bộ phải bồi hoàn lại cho nhà nước như thế nào là hợp lý và phần thiệt hại ấy sẽ được quyết định như thế nào

3 Xác định thiệt hại trong vụ việc:

Đối với trách nhiệm bồi thường của nhà nước, thiệt hại là những tổn thất về vật chất và tinh thần mà cá nhân, tổ chức phải gánh chịu do hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây ra Thiệt hại về vật chất phát sinh trong các trường hợp: tài sản bị xâm phạm; tính mạng bị xâm phạm; sức khỏe bị xâm phạm; danh

dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm Thiệt hại về tinh thần phát sinh trong các trường hợp: tính mạng bị xâm phạm; sức khỏe bị xâm phạm; danh dự, uy tín, nhân phẩm bị xâm phạm

Xét tình huống trên ta thấy: Thiệt hại do hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây ra được xác định là thiệt hại do tài sản bị xâm phạm theo quy

định tại Điều 45 Luật trách nhiệm bồi thường của nhà nước.

Trường hợp mất toàn bộ nhà và đất của ông Vũ Đức Liêm thuộc trường hợp tài sản bị phát mại Tài sản bị phát mại là trường hợp tài sản bị bán công khai theo thủ tục theo luật định để thanh toán nợ Trường hợp này tài sản bị thiệt hại hoàn toàn, do đó người thi hành công việc phải bồi thường toàn bộ tài sản

Ngày đăng: 29/01/2016, 22:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w