1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hợp đồng vay tiền và lãi suất trong hợp đồng vay tiền – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn

26 238 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 160 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhà nước đãtạo điều kiện cho nhân dân vay vốn của ngân hàng với mức lãi suất phù hợp, các hộnông dân nghèo có thể phát triển được sản xuất, kinh doanh… Tuy nhiên, hiện naynhững quy định

Trang 1

MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU 1

NỘI DUNG 2

1 Một số vấn đề lý luận về Hợp đồng vay tiền và Lãi suất trong hợp đồng vay tiền 2

1.1 Hợp đồng vay tiền 2

1.2 Lãi suất trong Hợp đồng vay tiền 7

2 Quy định của pháp luật Việt Nam Hợp đồng vay tiền và lãi suất trong hợp đồng vay tiền – Thực tiễn áp dụng 8

2.1 Những quy định của pháp luật Việt Nam 8

2.2 Thực tiễn áp dụng pháp luật Việt Nam hiện hành về lãi suất trong hợp đồng vay tiền 11

3 Nhận xét và kiến nghị 15

KẾT LUẬN 20

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 21

PHỤ LỤC: Mẫu hợp đồng cho vay tiền 22

Trang 2

LỜI NÓI ĐẦU

Cho vay là một hiện tượng kinh tế khách quan, xuất hiện khi trong xã hộiloài người có tình trạng tạm thời thừa và tạm thời thiếu vốn Nhất là trong một nềnkinh tế đang phát triển như Việt Nam hiện nay thì vay tiền trở thành một hình thứcrất phổ biến được lựa chọn để giải quyết những khó khăn, thiếu thốn tạm thời trongcuộc sống, trong sản xuất, kinh doanh Chính vì vậy mà hợp đồng vay tiền trởthành một vấn đề giành được nhiều sự quan tâm, tìm hiểu của nhiều người, nhiềudoanh nghiệp, tổ chức…

Trong quá trình tiến hành công cuộc đổi mới kinh tế, Đảng và Nhà nước taluôn luôn nỗ lực tìm kiếm các giải pháp nhằm đưa nền kinh tế nước nhà phát triểnmột cách toàn diện và hội nhập có hiệu quả với nền kinh tế thế giới Nhà nước đãtạo điều kiện cho nhân dân vay vốn của ngân hàng với mức lãi suất phù hợp, các hộnông dân nghèo có thể phát triển được sản xuất, kinh doanh… Tuy nhiên, hiện naynhững quy định của pháp luật về hợp đồng vay tài sản và đặc biệt là hợp đồng vaytiền và lãi suất có những bất cập nhất định và bộc lộ nhiều khiếm khuyết khi nhữngquy định này được áp dụng trong cuộc sống Những hạn chế đó cộng với tình hìnhphức tạp của nền kinh tế hiện nay là điều kiện để xảy ra rất nhiều tranh chấp

Tiều luận sau xin được đề cập đến vấn đề Hợp đồng vay tiền và lãi suất trong hợp đồng vay tiền – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn với mong muốn

góp một phần công sức nhỏ bé trong việc tìm hiểu, nghiên cứu và mạnh dạn đưa ramột số phương hướng nhằm hoàn thiện và phát triển pháp luật về hợp đồng vaytiền và lãi suất trong hợp đồng vay tiền nói riêng và nền kinh tế Việt Nam nóichung

Trang 3

NỘI DUNG

1. Một số vấn đề lý luận về Hợp đồng vay tiền và Lãi suất trong hợp đồng vay tiền

1.1 Hợp đồng vay tiền

1.1.1. Khái niệm Hợp đồng vay tiền

Điều 471 Bộ Luật Dân sự 2005 (BLDS 2005) định nghĩa về hợp đồng vay tài

sản: “Hợp đồng vay tài sản là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay

giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thoả thuận hoặc pháp luật đã quy định”.

Hợp đồng vay tiền là một loại hợp đồng vay tài sản, dựa trên định nghĩa về

Hợp đồng (Điều 388 BLDS 2005) và Hợp đồng vay tài sản (Điều 471 BLDS 2005)

có thể định nghĩa về hợp đồng vay tiền như sau: Hợp đồng vay tiền là sự thoả

thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tiền cho bên vay; khi đến hạn trả bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay đúng số lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thoả thuận hoặc pháp luật quy định.

1.1.2 Đặc điểm

+ Thứ nhất, hợp đồng vay tiền là hợp đồng chuyển quyền sở hữu đối với số

tiền vay, khi bên vay nhận tiền Bên vay có toàn quyền đối với tiền vay trừ trường

hợp vay tiền có điều kiện sử dụng Ví dụ: A thoả thuận với B không được sử dụng

khoản tiền mà A cho B vay để chi tiêu vào việc kinh doanh, chỉ được mua sắmphục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày…

+ Thứ hai, hợp đồng vay tiền có lãi suất là hợp đồng song vụ, nghĩa là các

bên chủ thể trong hợp đồng (bên cho vay và bên vay) đều có nghĩa vụ đối với nhau(theo Khoản 1 Điều 406 – BLDS 2005), hay nói cách khác mỗi bên chủ thể tronghợp đồng vay tiền có lãi suất là người vừa có quyền vừa có nghĩa vụ dân sự Trongnội dung của hợp đồng, quyền dân sự của bên này đối lập tương ứng với nghĩa vụbên kia và ngược lại Tức là bên cho vay có nghĩa vụ chuyển tiền đúng thời hạn,

Trang 4

thuận hoặc theo quy định của pháp luật Khi các bên vi phạm nghĩa vụ nêu trên thì

sẽ phải chịu trách nhiệm dân sự

+ Thứ ba, hợp đồng vay tiền là hợp đồng có đền bù hoặc không có đền bù.

Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này, vấn đề mà chúng ta đề cập tới là lãi suấttrong hợp đồng vay tiền nên hợp đồng vay có lãi suất là hợp đồng vay có đền bù.Các bên chủ thể sau khi thực hiện cho bên kia một lợi ích sẽ nhận được từ bên kiamột lợi ích tương ứng Chúng ta biết rằng bản chất của các giao dịch dân sự mangtính đền bù tương đương và đặc điểm cơ bản của quan hệ tài sản trong giao lưu dân

sự là sự trao đổi ngang giá Khi cho vay một khoản tiền nhất định thì trong một thờihạn có thể do các bên thoả thuận hoặc do pháp luật quy định phải có một khoảntiền phát sinh để đền bù cho sự đầu tư cho vay tiền của bên cho vay nhằm thoả mãnnhu cầu của bên cho vay

1.1.3 Đối tượng

Đối tượng của hợp đồng vay tiền là một khoản tiền nhất định Thể hiện bachức năng cơ bản sau:

+ Phương tiện trao đổi: Trong hầu hết các giao dịch, tiền đóng vai trò

phương tiện trao đổi – thực chất là thực hiện giá trị của hàng hoá, có nghĩa là nóđược sử dụng mua bán, thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ Chức năng trao đổi củatiền tệ khắc phục được những hạn chế của quá trình trao đổi trực tiếp, nhờ đó màtiết kiệm các chi phí giao dịch liên quan đến việc tìm kiếm, chờ đợi tác nhân có khảnăng thoã mãn nhu cầu trao đổi

+ Đơn vị tính toán giá trị: Các hàng hoá khi trao đổi với nhau cần có sự so

sánh để hình thành tỉ lệ trao đổi Chức năng này của tiền tệ biểu hiện giá trị hànghoá thành tiền, nhờ đó mà các hàng hoá có thể so sánh với nhau về mặt lượng Điềunày có tầm quan trọng rất lớn do tiết kiệm được các chi phí giao dịch bởi số lầnhình thành giá trung gian trong trao đổi trực tiếp

+ Phương tiện tích luỹ giá trị: Chức năng này của tiền tệ giúp để tích luỹ sức

mua trong thời gian nhận thu nhập cho đến khi sử dụng chúng bởi thu nhập của conngười thường không được sử dụng ngay một lúc

Trang 5

Tiền là đối tượng của hợp đồng vay có thể là Việt Nam đồng (VND) hayngoại tệ tuỳ theo sự thoả thuận của các bên hoặc pháp luật quy định Đối tượng củahợp đồng vay tiền được chuyển từ bên cho vay sang bên vay làm sở hữu Bên vay

có quyền định đoạt số tiền vay Khi hết hạn của hợp đồng vay tiền, bên vay cónghĩa vụ trả cho bên kia số tiền đã vay Có hợp đồng vay tiền không thoả thuận thờihạn thì bên vay phải trả số tiền vay bất kỳ lúc nào khi có yêu cầu của bên cho vay

1.1.4 Kỳ hạn

Hợp đồng vay tiền có thể có hoặc không có kỳ hạn (xác định hoặc không xácđịnh) Nếu hợp đồng vay tiền không thoả thuận về kỳ hạn thì hợp đồng vay tiềnđược coi là không có kỳ hạn Bên cho vay có quyền yêu cầu bên vay phải thực hiệnhợp đồng bất kỳ lúc nào Tuy nhiên để tạo điều kiện cho bên vay chuẩn bị tiền, bêncho vay phải báo trước cho bên vay một thời gian hợp lí để thực hiện hợp đồng.Hết thời gian đó, bên vay buộc phải thực hiện nghĩa vụ của mình (Điều 447 BLDS2005) Nếu hợp đồng không có kỳ hạn thì bên vay có thể thực hiện hợp đồng bất cứlúc nào, bên cho vay không được từ chối tiếp nhận việc thực hiện nghĩa vụ của bênvay Xác định thời điểm chấm dứt hợp đồng vay tiền có ý nghĩa quan trọng trongviệc xác định trách nhiệm dân sự của các bên và thời hiệu khởi kiện yêu vầu giảiquyết tranh chấp về hợp đồng

Trường hợp hết hạn hợp đồng mà bên vay không trả nợ được thì phải chịutrách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng

1.1.5 Hình thức

Hình thức của hợp đồng vay tiền có thể bằng miệng hoặc bằng văn bản Hìnhthức miệng thường được áp dụng trong những trường hợp như số lượng tiền chovay không lớn hoặc giữa các bên có mối quan hệ thân quen Trường hợp cho vaybằng miệng nếu xảy ra tranh chấp hợp đồng, bên cho vay phải chứng minh được làmình đã cho vay một số tiền nhất định Trong thực tế nếu hình thức của hợp đồngbằng miệng có tranh chấp thì rất khó xác định quyền và nghĩa vụ của các bên Đểlàm cơ sở pháp lí cho việc giải quyết hợp đồng vay tiền, các bên cần phải ký kếthợp đồng bằng văn bản Các bên có thể tự lập văn bản hoặc yêu cầu cơ quan Nhà

Trang 6

1.1.6 Quyền và nghĩa vụ của các bên

 Bên cho vay

Nếu hợp đồng vay tiền không có kỳ hạn, bên cho vay có quyền yêu cầu bênvay trả lại tiền và lãi bất cứ thời gian nào nhưng phải thông báo cho bên vay mộtthời hạn hợp lí Hết thời hạn đó là hết hạn của hợp đồng và bên vay không trả nợ là

vi phạm nghĩa vụ trả tiền

Đối với hợp đồng vay tiền có kì hạn, khi hết hạn của hợp đồng, bên cho vay

có quyền yêu cầu bên vay phải trả cho mình một số tiền tương ứng với số tiền đãvay cộng với một khoản lãi tính theo lãi suất thời hạn và theo thoả thuận Nếu hợpđồng cho vay tiền có áp dụng biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ nhưng bên vaykhông thực hiện đúng thời hạn thì bên cho vay có quyền xử lý tài sản bảo đảm đóhoặc bán đấu giá để thực hiện nghĩa vụ

Bên cho vay có nghĩa vụ giao tiền đúng số lượng như thoả thuận cho bênvay Nếu bên cho vay có ý lừa dối bên vay mà gây thiệt hại cho bên vay thì phảibồi thường

 Bên vay

Là người cần đến sự giúp đỡ vật chất của bên cho vay, do vậy khi hết thờihạn của hợp đồng, bên vay phải tự giác thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của mìnhphát sinh từ hợp đồng đã ký kết; phải trả đủ tiền gốc và tiền lãi theo thoả thuậnhoặc theo pháp luật quy định Nếu hợp đồng cho vay không kỳ hạn, khi bên chovay yêu cầu trả nợ thì bên vay phải thực hiện hợp đồng trong thời gian thoả thuận.Bên vay cũng có thể thực hiện hợp đồng bất cứ thời gian nào Thời điểm này đượccoi là thời điểm chấm dứt hợp đồng cho vay tiền không kỳ hạn Trường hợp cácbên có thoả thuận về mục đích vay, bên cho vay có quyền kiểm tra việc sử dụngtiền của bên vay có đúng mục đích như thoả thuận hay không Nếu sử dụng tiềnkhông đúng mục đích như đã thoả thuận, bên cho vay có quyền huỷ hợp đồng(Khoản 2 Điều 478 BLDS 2005)

1.1.7 Họ, hụi, biêu, phường

Họ, hụi, biêu, phường (gọi chung là họ) là một loại giao dịch dân sự về tàisản Giao dịch này được nhân dân ta sử dụng từ lâu và nó đã trở thành tập quán

Trang 7

Dưới hình thức góp vốn, lĩnh vốn theo phường, hội trên cơ sở thoả thuận của mộtnhóm người về thời gian, số tiền, thể thức góp vốn, lĩnh họ và quyền, nghĩa vụ củacác thành viên.

Nguyên tắc chung của chơi họ là nhiều người (nhà con) cùng tham gia mộtdây họ bầu ra nhà cái (người thu tiền của các nhà con và chuyển cho người bốc(bát) họ) Hàng tháng, mỗi nhà con phải góp một số tiền nhất định cho nhà cái Lầnlượt theo thứ tự bốc thăm hoặc theo thoả thuận đến kỳ hạn bốc họ, một nhà con sẽnhận về số tiền từ nhà cái, số tiền này do các nhà con khác góp họ Theo thứ tự bốc

họ, khi người cuối cùng bốc họ thì dây họ chấm dứt

Bản chất truyền thống của góp họ là những người chơi họ tương trợ giúp đỡlẫn nhau Dưới hình thức góp họ, thành viên góp họ có được số vốn tập trung để cóđiều kiện kinh doanh hoặc sử dụng vào những công việc cần chi tiêu lớn Nhữnghình thức chơi họ có tính chất lành mạnh được Nhà nước khuyến khích Ngược lạiNhà nước cấm hình thức “chơi họ” để nhằm mục đích cho vay nặng lãi giữa nhàcái với các nhà con, các hình thức chơi họ nhằm lừa đảo hoặc biến tướng của chơi

họ là đánh bạc… Những trường hợp này, tuỳ theo mức độ vi phạm nặng nhẹ mà bị

xử lí hành chính, chịu trách nhiệm dân sự hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự

Ngày 27/11/2006, Chính phủ đã ban hành Nghị định 144/2006/NĐ-CP quyđịnh về hình thức họ, hụi, biêu, phường; quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của nhữngngười tham gia họ Theo nội dung Nghị định, Nhà nước nghiêm cấm việc tổ chức

họ để cho vay nặng lãi, lừa đảo, lạm dụng tín nhiệm hoặc các hành vi trái pháp luậtkhác để chiếm đoạt tài sản của người khác Nghị định nêu rõ, quyền và lợi ích hợppháp của những người tham gia họ là nhằm mục đích tương trợ trong nhân dân Cóhai hình thức họ là họ không lãi và họ có lãi, trong đó họ có lãi gồm họ đầu thảo và

họ hưởng hoa hồng Chủ họ phải trả lãi đối với các phần họ giao chậm theo mức lãi

do các bên thỏa thuận, nếu không có thỏa thuận hoặc không thỏa thuận được thì ápdụng mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời giangiao chậm tại thời điểm giao các phần họ Trong trường hợp họ có lãi thì lãi suấtđối với phần họ được thực hiện theo quy định tại Điều 476 của BLDS 2005

Trang 8

Trong trường hợp có tranh chấp về họ hoặc phát sinh từ họ thì tranh chấp đóđược giải quyết bằng thương lượng, hòa giải hoặc theo yêu cầu của một hoặc nhiềungười tham gia họ, tranh chấp đó được giải quyết tại Tòa án theo quy định của phápluật tố tụng dân sự.

1.2 Lãi suất trong Hợp đồng vay tiền

1.2.1 Định nghĩa lãi suất

Trong hầu hết các hợp đồng cho vay tiền, người vay thường phải trả thêmmột phần giá trị ngoài phần vốn gốc ban đầu Tỉ lệ phần trăm của phần tăng thêmnày so với phần vốn vay ban đầu được gọi là lãi suất

Có thể định nghĩa về lãi suất như sau: Lãi suất trong hợp đồng vay tiền là tỉ

lệ nhất định mà bên vay phải trả thêm vào số tiền đã vay tính theo đơn vị thời gian Lãi suất thường được tính theo tuần, tháng hoặc năm do các bên thoả thuận hoặc

do pháp luật quy định Căn cứ vào lãi suất số tiền vay và thời gian vay mà bên vay phải trả một số tiền nhất định Số tiền này tỉ lệ thuận với lãi suất, số tiền đã vay và thời gian vay.

Trong trường hợp các bên không có thoả thuận về lãi suất thì hợp đồng vaytiền sẽ không có lãi suất Nếu các bên có thoả thuận về lãi suất thì không được vượt

quá “150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho

vay tương ứng” (Khoản 1 Điều 476 BLDS 2005) Như vậy, nếu các bên thoả thuận

về lãi suất gấp hai, ba hoặc nhiều lần lãi suất của Ngân hàng Nhà nước công bố thìkhi tranh chấp xảy ra, mức lãi suất tối đa mà Toà án chấp nhận không vượt quá

“150% mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng nhà nước công bố đối với loại cho vaytương ứng”

1.2.2 Đặc điểm của lãi suất

Là một công cụ để tính lợi nhuận nhằm thoả mãn nhu cầu vật chất hoặc tinhthần của cả bên cho vay và bên vay, lãi suất có những đặc điểm cơ bản sau đây:

+ Thứ nhất, lãi suất được phát sinh chủ yếu trong các hợp đồng vay tài sản:

Qua nghiên cứu có thể thấy lãi suất có thể xuất hiện trong các hợp đồng đầu tư, chothuê tài chính hoặc các hợp đồng khác và là cơ sở để tĩnh lãi Tuy nhiên, lãi suấtchủ yếu vẫn được tồn tại trong các hợp đồng vay bởi lẽ trong hợp đồng vay bên vay

Trang 9

chỉ phải trả lại tài sản vay sau một thời hạn nhất định do đó phải có một tỉ lệ xácđịnh để tính lãi tương ứng với thời hạn vay Hơn nữa, nếu trong các hợp đồng khácnhư thuê tài chính, đầu tư thì cơ sở để tính lãi còn dựa trên nhiều yếu tố khác nhưchi phí bỏ ra, công sức đóng góp… còn trong hợp đồng vay thì cơ sở để tính lãi chủyếu vẫn là lãi suất do các bên thoả thuận hoặc do pháp luật quy định.

+ Thứ hai, lãi suất không được phát sinh một cách độc lập, nó chỉ phát sinh

do thoả thuận của các bên sau khi đã thoả thuận được số vay gốc: Bản chất của lãi

suất là một tỉ lệ nhất định mà bên vay phải trả cho bên cho vay dựa vào số tiền vaygốc trong một thời hạn nhất định Do đó, sẽ không thể có tỉ lệ đó nếu như khôngtồn tại số tiền gốc mà các bên thoả thuận được trong hợp đồng vay tài sản

+ Thứ ba, lãi suất được tính dựa trên số vay gốc và thời hạn vay (thời gian

vay): Như đã phân tích ở trên, lãi suất tỉ lệ thuận với vốn gốc và thời hạn vay Do

đó, tương ứng với số nợ gốc nhiều hay ít, thời hạn vay dài hay ngắn mà các bên cóthể thoả thuận mức lãi suất cho phù hợp

1.2.3 Phân loại lãi suất

Có nhiều tiêu chí để phân loại lãi suất, có thể là lãi suất do các bên thoảthuận hoặc lãi suất do pháp luật quy định; có thể là lãi suất đúng hạn hay lãi suấtquá hạn… Dựa vào mỗi tiêu chí khác nhau sẽ có những cách phân loại lãi suất khácnhau

2 Quy định của pháp luật Việt Nam Hợp đồng vay tiền và lãi suất trong hợp đồng vay tiền – Thực tiễn áp dụng

2.1 Những quy định của pháp luật Việt Nam

Có thể thấy Nhà nước không phải lúc nào cũng kiểm soát được hết mọi quan

hệ pháp luật cho nên có tình trạng nhiều vi phạm pháp luật nằm ngoài vòng kiểmsoát của pháp luật Điều này hoàn toàn dễ hiểu khi các văn bản pháp luật của nước

ta còn thiếu cụ thể, tính khả thi không cao Vấn đề hợp đồng vay tiền và lãi suấttrong hợp đồng vay cũng rơi vào tình trạng này Pháp luật không hề có một quyđịnh cụ thể nào về hợp đồng vay tiền mà chỉ là những quy định chung về hợp đồng

Trang 10

và hợp đồng vay tài sản Trong BLDS 2005 chỉ quy định duy nhất một điều về lãisuất một cách trực tiếp:

“Điều 476: Lãi suất

1 Lãi suất vay do các bên thoả thuận nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng.

2 Trong trường hợp các bên có thoả thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất hoặc có tranh chấp về lãi suất thì áp dụng lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ.”.

Việc quy định chỉ một điều luật trực tiếp về lãi suất trong BLDS 2005 là quákhái quát sẽ tạo khe hở cho nhiều đối tượng “lách luật”, cố tình làm biến thái đi vàlợi dụng nó để kinh doanh, tổ chức thực hiện một số hình thức không lành mạnh

Các hợp đồng dân sự luôn mang trong nó tính chất “thoả thuận giữa các bên”tuy nhiên pháp luật cũng hạn chế quyền của người cho vay trong hợp đồng vay tiền

có lãi suất bằng cách “Lãi suất vay do các bên thoả thuận nhưng không được vượt

quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng” Nhưng khi không có chế tài áp dụng thì việc đưa ra các quy định

này cũng không mang lại kết quả như ý muốn, nếu có chế tài áp dụng đối với việcquy định lãi suất cũng chỉ là chế tài hành chính, trách nhiệm dân sự bồi thườngthiệt hại một khoản tiền mà bên vay chứng minh được việc vay với lãi suất vượtqua mức quy định của pháp luật của bên cho vay gây thiệt hại cho mình Hơn nữa,nhu cầu đi vay của người vay thường trong những trường hợp cấp bách và cầnthiết, việc tuyên bố hợp đồng vô hiệu của Toà án đôi khi làm ảnh hưởng đến côngviệc của người đi vay Cần phải có những quy định và chế tài cụ thể để hạn chế tìnhhình trên

Việc quy định lãi suất quá cao hay quá thấp đều sẽ không mang lại hiệu quả:+ Nếu quy định lãi suất quá cao sẽ không chỉ gây ảnh hưởng cho nền kinh tế

mà còn ảnh hưởng đến chính bên cho vay Khi lãi suất của bên cho vay cao sẽkhiến các doanh nghiệp, các cá nhân… (bên vay) không vay dẫn đến tình trạng tiền

bị đọng lại và không phát huy được giá trị sinh lời của nó Doanh nghiệp vay tiền là

để đầu tư nhưng với mức lãi suất cao sẽ dự tính việc đầu tư không có lãi nên các

Trang 11

doanh nghiệp không vay là đương nhiên Còn cá nhân, họ cần tiền cũng có thể đểđầu tư, cũng có thể vay để chi trả cho một công việc nào đó hay để đảm bảo chocuộc sống hàng ngày… lãi suất cao khiến những người này không có khả năng trả

cả gốc lẫn lãi nên họ “không dám” vay Và như vậy nguồn tiền trong các Ngânhàng, nguồn tiền dự trữ trong nhân dân không những không đem lại hiệu quả màcòn gây khó khăn cho các doanh nghiệp, các cá nhân… muốn vay

+ Nếu quy định lãi suất thấp so với sự phát triển và tốc độ tăng trưởng củanền kinh tế cũng không ổn Việc quy định lãi suất thấp chỉ áp dụng cho các đốitượng ưu tiên mà pháp luật quy định còn mặt bằng chung phải phù hợp với mọinhân tố ảnh hưởng đến lãi suất (lạm phát hay giảm phát, kinh tế phát triển haychậm phát triển…) Lãi suất thấp sẽ làm giảm hiệu quả của đồng tiền, làm giảm sựphát triển kinh tế, làm giảm nguồn thu của bên cho vay Nhìn một cách khách quan,lãi suất thấp chỉ có lợi trước mắt cho bên vay Nhưng cái lợi trước mắt không phải

là mục tiêu mà Nhà nước hướng tới

Như vậy, Nhà nước phải tính toán sao cho pháp luật có những quy định hợp

lý không làm giảm hiệu quả của giá trị đồng tiền mang lại cũng không ảnh hưởngđến quyền lợi của các bên tham gia hợp đồng vay, đem lại sự phát triển bền vững

và lâu dài cho nền kinh tế

Sau một vài năm tổ chức lấy ý kiến góp ý vào Dự thảo Luật Ngân hàng Nhànước Việt Nam Việt Nam (sửa đổi) và Dự thảo Luật Các tổ chức tín dụng (sửa đổi).Thì đến năm 2010, Quốc hội đã thông qua Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

2010 và Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010

Một trong những điểm mới mà Luật đưa ra là “Tổ chức tín dụng và khách

hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật” (Khoản 2 Điều 91 Luật các Tổ

chức tín dụng) Theo đó, mức lãi suất không phụ thuộc vào quy định của Bộ luậtDân sự nữa, vì bản chất hoạt động kinh doanh ngân hàng của tổ chức tín dụng khác

về bản chất với hoạt động cho vay trong quan hệ dân sự thông thường Đặc biệt,việc áp dụng trần lãi suất có thể làm cho lãi suất trên thị trường liên ngân hàng

Trang 12

không phản ánh đúng và đầy đủ tình trạng thanh toán của các ngân hàng, qua đó đã

vô hiệu hóa một tín hiệu quan trọng nhất để điều hành chính sách tiền tệ…

2.2 Thực tiễn áp dụng pháp luật Việt Nam hiện hành về lãi suất trong hợp đồng vay tiền

Hệ thống ngân hàng ngày càng phát triển rất mạnh mẽ và có tầm quan trọnglớn đối với nền kinh tế đất nước cho nên Nhà nước cũng đã có những biện phápquản lý chặt chẽ nhằm hạn chế thấp nhất xảy ra các tranh chấp Có thể thấy hầu hếtcác ngân hàng đều áp dụng đúng các quy định của pháp luật về lãi suất Trong nhândân, các chủ thể cũng đã có nhận thức đúng đắn hơn quy định của pháp luật về lãisuất Thực trạng này chứng tỏ, hành lang pháp lý của nước ta đang dần hoàn thiện

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả nêu trên, các tranh chấp về lãi suất tronghợp đồng vay tiền ngày càng có quy mô lớn và tinh vi hơn nhất là các hình thứccho vay trong nhân dân nhưng không loại trừ các ngân hàng và các tổ chức tíndụng

Lấy ví dụ như vào năm 2008, trong lúc các ngân hàng thương mại đồng

thuận thực hiện lãi suất huy động 11%/năm thì Ngân hàng Thương mại Cổ phầnSài Gòn (SCB) phát hành 3.000 tỷ đồng kỳ phiếu, lãi suất huy động 12%/năm chưatính giá trị khuyến mãi “Chỉ cần 10 triệu đồng, khách hàng có cơ hội trúng 2 kgvàng SJC” Đó là lời mời khá hấp dẫn của SCB khi tung ra sản phẩm: Kỳ phiếu ghidanh bằng đồng Việt Nam có dự thưởng “Lãi suất cao – Trúng thưởng lớn”, kéodài từ 7/4 – 4/6/2008 Khách hàng được trả lãi trước ngay khi mua kỳ phiếu Thêmnữa: trong thời gian chờ nộp tiền khách hàng cũng được tính lãi suất và được thamgia quay số dự thưởng với tổng trị giá khoảng 2 tỷ đồng Lãi suất 1%/tháng, cộngvới khuyến mãi thì lãi suất huy động kỳ phiếu vượt 13% SCB đã vi phạm côngđiện 02/CĐ-NHNN ngày 26/2/2008 của Ngân hàng Nhà nước khống chế ở mức12%

Vì tình hình hiện nay nay dù Ngân hàng Nhà nước vẫn giữ nguyên mức lãisuất cơ bản đồng Việt Nam là 8%/năm nhưng nhiều ngân hàng thương mại lại chovay tiêu dùng cá nhân với lãi suất quá cao, có ngân hàng nâng lên 26%/năm (bằng371,4% so với lãi suất cơ bản); bên cạnh đó các điểm cầm đồ cũng nâng lãi suất

Trang 13

cho vay lên 60%/năm Nhiều gia đình lâm vào cảnh khó khăn về mặt tài chính tạmthời buộc phải vay tiền ngân hàng với lãi suất “cắt cổ”, chỉ thua tín dụng đen, tiệmcầm đồ chút ít Thực trạng là như vậy, các cơ quan chức năng cần bắt tay ngay đểkhắc phục tình hình này Có thể áp dụng chế tài hành chính (phạt tiền, cảnh cáo, kỷluật…), trách nhiệm dân sự hoặc chế tài hình sự về tội cho vay nặng lãi.

Điều 163 Bộ luật Hình sự 1999 qui định:

“1 Người nào cho vay với mức lãi suất cao hơn mức lãi suất cao nhất mà pháp luật quy định từ mười lần trở lên có tính chất chuyên bóc lột, thì bị phạt tiền

từ một lần đến mười lần số tiền lãi hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến một năm.

2 Phạm tội thu lợi bất chính lớn thì bị phạt tù từ 6 tháng đến ba năm.

3 Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ một đến năm lần số lợi bất chính, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm”.

Các tranh chấp xảy ra hiện nay về lãi suất trong các hợp đồng vay tiền đều

do những lí do khách quan và chủ quan nhất định nhưng chủ yếu là do lãi suất chovay cao, không phù hợp với pháp luật Và hơn nữa các tranh chấp không chỉ xảy rađối với các ngân hàng, các tổ chức tín dụng mà còn xảy ra rất phổ biến trong nhân

dân Ví dụ:

“Ngày 4 tháng 1 năm 2009, cơ quan Cảnh sát điều Quận Hà Đông, Thành Phố

Hà Nội đã ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Nguyễn Hữu Hưng(sinh năm 1982) và Trịnh Lê Hoài Nam (sinh năm 1989), cùng có hộ khẩu thườngtrú tại Quận Hà Đông về hành vi cho vay nặng lãi, xiết nợ và bắt giữ người tráipháp luật

Nguyễn Văn An và em trai là Nguyễn Văn Ninh, hộ khẩu thường trú tại Quận

Hà Đông, một tay chơi sành điệu thường xuyên chơi game online và lô đề Để cótiền tiêu sài, An và Ninh đã tìm đến những người quen và bạn bè để vay

Vào khoảng tháng 4 năm 2008, tình cờ trong một lần giao lưu với bạn bè,Nguyễn Văn An đã gặp Trịnh Lê Hoài Nam (sinh năm 1989) hộ khẩu thường trú tạiphường Nguyễn Trãi, Quận Hà Đông Nam cho biết mình quen một ông chủ cho

Ngày đăng: 29/01/2016, 22:05

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w