Quyền nhân thân là một trong những nội dung cơ bản của quyền con người, được pháp luật mỗi quốc gia qui định cho mỗi cá nhân khác nhau.. Với mục tiêu phấn đấu xây dựng một xã hội dân chủ
Trang 1A LỜI MỞ ĐẦU
Mỗi con người trong xã hội đều có một số quyền cơ bản, mà trong đó quyền nhân thân là một trong những quyền cơ bản nhất “Quyền nhân thân” là thuật ngữ pháp lí để chỉ những quyền gắn liền với bản thân của mỗi con người, gắn liền với đời sống riêng tư của mỗi cá nhân, có liên quan mật thiết đến danh dự, nhân phẩm,
uy tín của người đó Trong pháp luật Việt Nam, các quyền nhân thân được quy định
cụ thể trong pháp luật dân sự và chủ yếu là Bộ luật Dân sự Việc Nhà nước ban hành và quy định các quyền nhân thân của cá nhân trong Bộ luật dân sự là sự khẳng định của Nhà nước đối với các giá trị của quyền nhân thân Cùng với sự đi lên, tiến
bộ của đất nước, nền tự do dân chủ ngày càng được mở rộng bao nhiêu thì con người ngày càng được tôn trọng hơn bấy nhiêu do đó quyền nhân thân cũng ngày càng được quan tâm, chú ý nhiều hơn Tuy nhiên, những qui định về quyền nhân thân của cá nhân trong luật dân sự hiện nay vẫn còn gặp phải một số hạn chế trong việc qui định cũng như việc áp dụng vào thực tế Vì vậy, em xin chọn đề tài:
“Quyền nhân thân và phương hướng hoàn thiện pháp luật về quyền nhân thân”
để tìm hiểu rõ hơn về vấn đề này
Trang 2B NỘI DUNG
I Cơ sở qui định quyền nhân thân
1 Cơ sở lý luận
Con người từ khi được sinh ra đều mang trong mình những quyền tự nhiên
cơ bản mà không ai, không chính thể nào có thể phủ nhận hay chối bỏ Trải qua những quá trình lịch sử phát triển của nhân loại, quyền con người ngày càng được khẳng định và được pháp luật của các nước trên thế giới bảo vệ
Quyền nhân thân là một trong những nội dung cơ bản của quyền con người, được pháp luật mỗi quốc gia qui định cho mỗi cá nhân khác nhau Ở Việt Nam, các quyền nhân thân cơ bản của cá nhân được ghi nhận từ những văn bản pháp luật đầu tiên của Nhà nước ta từ sau khi chúng ta giành được chính quyền về tay nhân dân năm 1945
Việc ghi nhận và đảm bảo các quyền nhân thân trong các văn bản pháp luật của Nhà nước ta trước hết bắt nguồn từ quan niệm đổi mới về xã hội xã hội chủ nghĩa và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Đảng và nhân dân ta Với mục tiêu phấn đấu xây dựng một xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, lấy con người là trung tâm, là tâm điểm để hướng tới nên các qui định về quyền nhân thân trong hệ thống pháp luật của Nhà nước ta nhằm hướng tới ghi nhận và đảm bảo các quyền
cơ bản nhất của con người Xã hội càng tiến bộ bao nhiêu, nền tự do dân chủ càng được mở rộng bao nhiêu, thì con người càng được tôn trọng bấy nhiêu, và do đó các quyền nhân thân càng được pháp luật quy định đầy đủ, rõ ràng hơn cùng với những biện pháp bảo vệ ngày càng có hiệu quả
2 Cơ sở pháp lý
Hiện nay ở nước ta, quyền nhân thân được nhiều ngành luật khác nhau điều chỉnh Như luật hành chính qui định về trình tự, thủ tục để xác định các quyền nhân thân, luật hình sự bảo vệ các giá trị nhân thân bằng cách qui định những hành vi
Trang 3nào khi xâm phạm đến những giá trị nhân thân nào được coi là tội phạm… Nhưng trên cơ bản, quyền nhân thân được qui định trong hai văn bản luật đó là: Hiến pháp
và Bộ luật dân sự
Hiến pháp năm 1992, sửa đổi bổ sung năm 2001 của nước ta có qui định về quyền lợi và nghĩa vụ cơ bản của công dân tại chương thứ III Trong đó, ngoài các quyền và nghĩa vụ liên quan đến lĩnh vực chính trị, xã hội như quyền ứng cử, bầu cử… thì Hiến pháp cũng đã ghi nhận một số quyền của công dân như quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; quyền bất khả xâm phạm về thân thể; quyền lao động, làm việc; quyền tự do nghiên cứu khoa học… và việc bảo vệ quyền công dân Đây chính là những qui định, nguyên tắc cơ bản nhất về những quyền nhân thân của con người và là cơ sở cho các ngành luật khi qui định về quyền nhân thân
Trên cơ sở những qui định ở Hiến pháp, Bộ luật dân sự 2005 đã qui định rõ những giá trị nhân thân nào được coi là quyền nhân thân, trình tự thực hiện, giới hạn của các quyền nhân thân đó, đồng thời qui định các biện pháp thực hiện, bảo vệ các quyền nhân thân Các qui định về quyền nhân thân trong Bộ luật dân sự 2005 được qui định tại chương III, phần thứ nhất với các điều luật từ điều 24 đến điều 57
và điều 738, điều 751 Trong hệ thống những quyền nhân thân được ghi nhận, ngoài các quyền mang tính truyền thống đã được ghi nhận trong các bản Hiến pháp, nhiều quyền nhân thân khác cũng đã được ghi nhận trong Bộ luật dân sự như quyền đối với họ tên, hình ảnh, dân tộc, quyền đối với bí mật đời tư, quyền xác định lại giới tính…
II Khái quát về quyền nhân thân
1 Khái niệm quyền nhân thân
Điều 24, Bộ luật dân sự 2005 qui định: “Quyền nhân thân được qui định trong Bộ luật này là quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân, không thể chuyển giao cho người khác, trừ trường hợp có qui định khác”
Trên cơ sở qui định của điều luật trên, chúng ta có thể định nghĩa về quyền nhân thân như sau:
Trang 4Theo nghĩa khách quan: quyền nhân thân được hiểu là một phạm trù pháp lý
bao gồm tổng hợp các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành, trong đó có nội dung qui định cho các cá nhân có quyền nhân thân gắn liền với bản thân mình và đây là cơ sở để cá nhân thực hiện quyền của mình
Theo nghĩa chủ quan: quyền nhân thân là quyền dân sự chủ quan gắn liền
với cá nhân do Nhà nước qui định cho mỗi cá nhân và cá nhân không thể chuyển giao quyền này cho người khác trừ trường hợp có qui định khác
2 Đặc điểm của quyền nhân thân
• Thứ nhất, quyền nhân thân là một quyền dân sự và là một quyền dân sự đặc biệt.
Dưới góc độ của pháp luật dân sự thì cá nhân là chủ thể chủ yếu, thường xuyên, quan trọng và phổ biến của quan hệ dân sự Các quyền mà pháp luật qui định cho cá nhân là vì con người và hướng tới con người, trong đó có các quyền nhân thân Nói quyền nhân thân là quyền dân sự đặc biệt vì các quyền này gần như chỉ thuộc về cá nhân, trong khi đó các quyền khác (quyền tài sản) có thể thuộc về các chủ thể khác (pháp nhân, hộ gia đình) Chỉ có một trường hợp ngoại lệ đặc biệt quyền nhân thân có thể thuộc về pháp nhân là theo điều 604 bộ luật dân sự thì danh
dự, uy tín của pháp nhân cũng được pháp luật thừa nhận và bảo vệ
• Thứ hai, mọi cá nhân đều bình đẳng về quyền nhân thân
Tất cả mọi người đều có quyền nhân thân kể từ khi họ sinh ra Sự bình đẳng của mọi cá nhân về quyền nhân thân có nghĩa là mọi cá nhân đều có những quyền như nhau, không phụ thuộc vào việc họ có giới tính, độ tuổi, tôn giáo, thành phần giai cấp… như thế nào Ví dụ, ai sinh ra cũng có quyền được khai sinh, quyền có
họ tên không phụ thuộc việc vào họ sinh ra ở đâu, cha mẹ họ làm nghề gì, họ là nam hay nữ
• Thứ ba, quyền nhân thân có tính chất phi tài sản (không xác định được bằng tiền).
Trang 5Quyền nhân thân không bao giờ là tài sản và vì không phải là tài sản nên không bao giờ trị giá được bằng tiền Giá trị nhân thân và tiền tệ không phải là những đại lượng tương đương và không thể trao đổi ngang giá Chỉ có các quyền nhân thân gắn với tài sản hoặc không gắn với tài sản Về mặt pháp lí, cần phân biệt
rõ tính chất phi tài sản của quyền nhân thân Ví dụ một người sáng tác ra một bài hát thì chính bài hát đó mang giá trị kinh tế chứ bản thân “quyền tự do nghiên cứu, sáng tạo” (điều 51 Bộ luật dân sự) không phải là tài sản, không mang giá trị kinh tế
• Thứ tư, quyền nhân thân luôn gắn liền với cá nhân, không thể chuyển giao cho chủ thể khác
Pháp luật dân sự thừa nhận quyền nhân thân là quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân mà không thể chuyển dịch cho chủ thể khác Các quyền dân sự nói chung, quyền nhân thân nói riêng là do Nhà nước qui định cho các chủ thể dựa trên điều kiện kinh tế - xã hội nhất định Do vậy về mặt nguyên tắc, cá nhân không thể chuyển dịch quyền nhân thân cho chủ thể khác, nói cách khác thì quyền nhân thân không thể là đối tượng trong các giao dịch dân sự giữa các cá nhân Tuy nhiên, trong một số trường hợp đặc biệt theo qui định của pháp luật thì quyền nhân thân
có thể chuyển giao cho chủ thể khác, ví dụ: quyền công bố, phổ biến tác phẩm của tác giả, khi tác giả chết đi thì quyền này có thể chuyển giao cho chủ thể khác (người thừa kế của tác giả)… Nhưng nhìn chung, thì quyền nhân thân là quyền gắn liền với bản thân của mỗi cá nhân, nên nó không thể chuyển dịch cho chủ thể khác được
• Thứ năm, quyền nhân thân là quyền dân sự do Nhà nước qui định cho cá nhân, Nhà nước không cho phép cá nhân hạn chế quyền nhân thân của mình cũng như quyền nhân thân của người khác
Quyền nhân thân là một quyền nằm trong nội dung năng lực pháp luật dân sự của cá nhân Pháp luật dân sự qui định cho các cá nhân có các quyền nhân thân là một sự tuyên bố chính thức về các quyền con người cụ thể được pháp luật thừa nhận Việc pháp luật qui định cho cá nhân có các quyền nhân thân là dựa vào điều
Trang 6kiện kinh tế, xã hội Do vậy, ở mỗi giai đoạn khác nhau của xã hội, phụ thuộc vào bản chất giai cấp, chế độ chính trị, kinh tế, xã hội… thì quyền nhân thân của cá nhân được qui định một cách khác nhau Quyền nhân thân là do Nhà nước “trang bị” cho cá nhân, Nhà nước không cho phép bất cứ cá nhân nào làm thay đổi, chấm dứt quyền đó của mình cũng như của những người xung quanh
3 Phân loại quyền nhân thân và nội dung của các nhóm quyền
Bộ luật dân sự 2005 qui định về quyền nhân thân từ điều 24 đến điều 57 và điều 738, điều 751 Dựa vào các tiêu chí khác nhau, ta có thể phân loại các quyền nhân thân thành các nhóm khác nhau và tìm hiểu nội dung của các quyền theo những khía cạnh khác nhau như sau:
a Dựa vào đối tượng của quyền.
Dựa vào đối tượng của quyền mà các quyền nhân thân được phân thành 5 nhóm sau đây:
1) Nhóm các quyền cá biệt hoá chủ thể (đối tượng của quyền là cơ sở để xác
định, phân biệt cá nhân này với cá nhân khác), bao gồm: quyền đối với họ tên (điều 26); quyền thay đổi họ tên (điều 27); quyền xác định dân tộc (điều 28); quyền được khai sinh, khai tử (điều 29, 30); quyền đối với hình ảnh (điều 31); quyền xác định lại giới tính (điều 36); quyền đối với quốc tịch (điều 45).
Đây là những quyền nhân thân cơ bản gắn liền với mỗi cá nhân, đối tượng của các quyền trong nhóm quyền này là căn cứ để phân biệt cá nhân này với cá nhân khác
Mỗi cá nhân khi sinh ra đều có quyền khai sinh và sẽ phải có một tên gọi riêng, được xác định dân tộc và quốc tịch Đây chính là những căn cứ cơ bản nhất
để xác định một cá nhân trong xã hội Trong những trường hợp cụ thể, cá nhân có thể thay đổi họ tên, dân tộc, quốc tịch của mình nhưng phải theo qui định của pháp luật
Nếu cá nhân sinh ra mà có giới tính bị khuyết tật bẩm sinh hoặc chưa định hình được thì cá nhân đó có quyền xác định lại giới tính của mình
Trang 7Đối với hình ảnh của mình thì cá nhân có quyền đồng ý hay không đồng ý việc người khác sử dụng hình ảnh của mình, đồng thời pháp luật cũng nghiêm cấm các hành vi sử dụng hình ảnh của người khác trái pháp luật
2) Nhóm các quyền liên quan đến thân thể của cá nhân, bao gồm: quyền
được đảm bảo an toàn về tính mạng, sức khoẻ, thân thể (điều 32); quyền hiến bộ phận cơ thể (điều 33, 34); quyền nhận bộ phận cơ thể người (điều 35).
Đây là những quyền liên quan trực tiếp đến cơ thể của cá nhân và mới được qui định trong BLDS 2005 Theo đó, cá nhân được bảo vệ về tính mạng, sức khỏe, thân thể; những hành vi gây tác động đến thân thể cá nhân thì phải được sự đồng ý của cá nhân đó Trong những trường hợp đặc biệt, phục vụ cho mục đích chữa bệnh, cá nhân có quyền hiến bộ phận cơ thể mình cho người khác hoặc nhận bộ phậ
cơ thể của người khác theo qui định của pháp luật
3) Nhóm các quyền liên quan đến giá trị tinh thần của chủ thể: quyền được
bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín (điều 37); quyền bí mật đời tư (điều 38); quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở (điều 46); quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo (điều 47); quyền tự do đi lại, tự do cư trú (điều 48); quyền lao động (điều 49); quyền tự do kinh doanh (điều 50); quyền tự do nghiên cứu, sáng tạo (điều 51).
Đây là những quyền liên quan đến lợi ích tinh thần của chủ thể Cá nhân được pháp luật tôn trọng và bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín, những gì liên quan đến bí mật đời tư của chủ thể Khi muốn khai thác những thông tin về đời tư của một người, hoặc vào chỗ ở của một người thì phải được sự đồng ý của người đó
Quyền tự do đi lại, quyền lao động, quyền tự do kinh doanh, quyền tự do sáng tạo, nghiên cứu là những quyền nhân thân của cá nhận, trực tiếp tạo cơ hội và điều kiện cho các cá nhân phát huy khả năng vốn có của mình
4) Nhóm các quyền liên quan đến quan hệ hôn nhân và gia đình của cá nhân:
quyền kết hôn (điều 39); quyền bình đẳng vợ chồng (điều 40); quyền được hưởng
sự chăm sóc giữa các thành viên trong gia đình (điều 41); quyền ly hôn (điều 42);
Trang 8quyền nhận, không nhận cha, mẹ, con (điều 43); quyền được nuôi con nuôi và quyền được nhận làm con nuôi (điều 44).
Quan hệ hôn nhân gia đình là một quan hệ rất đặc biệt trong xã hội, nó là các mối quan hệ mật thiết với nhau của các cá nhân trong một gia đình Theo luật dân
sự qui định, nam và nữ khi đủ tuổi đều có quyền kết hôn và xây dựng gia đình mà không có bất kì sự hạn chế nào về chủng tộc, quốc gia hay tôn giáo Nam và nữ bình đẳng với nhau về quyền và nghĩa vụ trong việc kết hôn, trong thời gian chung sống cũng như khi ly hôn
Trong gia đình, các thành viên đều có quyền được hưởng sự quan tâm, chăm sóc từ lẫn nhau Một người nào đó có thể yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định mình là hoặc không là cha, mẹ, con của người khác
Ngoài ra, các vợ chồng cũng như các cá nhân còn có quyền nuôi con nuôi và quyền làm con nuôi theo qui định của pháp luật
5) Nhóm các quyền đối với các đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ: quyền
đặt tên cho tác phẩm; quyền đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm hay trên văn bằng bảo hộ (đối với sáng chế, kiểu dáng, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, giống cây trồng), quyền được nêu tên thật hoặc bút danh khi tác phẩm được công bố, sử dụng; quyền công bố hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm; quyền bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm, không cho người khác sửa chữa, cắt xén, xuyên tạc tác phẩm (điều 738, 751).
Trên cơ sở quyền tự do nghiên cứu, sáng tạo của cá nhân thì sau khi cá nhân tạo ra một tác phẩm nào đó, người đó sẽ có các quyền tương ứng đối với tác phẩm
đó như đặt tên cho tác phẩm, đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm hay trên văn bằng bảo hộ, quyền công bố hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm… và những quyền lợi này được pháp luật tôn trọng và bảo vệ
b Dựa vào căn cứ phát sinh (theo khoản 1 Điều 15 BLDS 2005)
Trang 9Dựa vào căn cứ phát sinh, các quyền nhân thân có thể phân thành nhóm các quyền nhân thân không gắn với tài sản và nhóm các quyền nhân thân gắn với tài sản
Các quyền nhân thân không gắn với tài sản được quy định từ Điều 26 đến
Điều 51 BLDS 2005 Các quyền nhân thân không gắn với tài sản này được công nhận đối với mọi cá nhân một cách bình đẳng và suốt đời, không phụ thuộc vào bất
cứ hoàn cảnh kinh tế, địa vị hay mức độ tài sản của người đó Mỗi một chủ thể đều được công nhận một cách vô điều kiện các quyền này Các quyền nhân thân này thể hiện giá trị tinh thần của chủ thể đối với chính bản thân mình, luôn gắn với chính bản thân người đó và không dịch chuyển được sang chủ thể khác
Các quyền nhân thân gắn với tài sản được quy định tại khoản 2 Điều 738 và
mục a khoản 1 Điều 751 BLDS 2005 Các quyền này chỉ được xác lập cùng với sự hình thành của một tài sản (như tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, sáng chế, kiểu dáng, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, giống cây trồng, …) Đây là quyền nhân thân của chủ thể đối với tài sản mà người đó sáng tạo ra và chủ thể muốn được thừa nhận các quyền này thì phải chứng minh đươc sự tồn tại của loại tài sản
do chính mình sáng tạo ra, nếu không có tài sản thì sẽ không phát sinh các quyền nhân thân liên quan
Trong số các quyền này có một quyền có thể chuyển giao được sang cho chủ thể khác – đó là quyền công bố hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm (theo quy định tại Khoản 1 Điều 742 BLDS 2005)
c Dựa vào thời hạn bảo hộ
Dựa vào thời hạn bảo hộ mà các quyền nhân thân được phân loại thành hai nhóm: Nhóm các quyền nhân thân được bảo hộ vô thời hạn và nhóm các quyền nhân thân được bảo hộ có thời hạn
Nhóm các quyền nhân thân được bảo hộ vô thời hạn bao gồm: quyền đối với
họ tên; quyền đối với hình ảnh; quyền được bảo vệ danh dự, uy tín; quyền bí mật đời tư; quyền đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm, được nêu tên thật hoặc bút
Trang 10danh khi tác phẩm được công bố, sử dụng; quyền bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm, không cho người khác sửa chữa, cắt xén, xuyên tạc tác phẩm Các quyền nhân thân thuộc nhóm này được pháp luật bảo hộ vĩnh viễn Khi chủ thể không còn nữa thì những người có liên quan được quyền yêu cầu bảo vệ khi có hành vi xâm phạm
Nhóm các quyền nhân thân được bảo hộ có thời hạn (gồm các quyền nhân
thân còn lại) Các quyền nhân thân thuộc nhóm này chỉ được pháp luật bảo hộ khi chủ thể của quyền còn sống Vì khi cá nhân chết đi thì các quyền nhân thân thuộc nhóm này không thể thực hiện được nữa hoặc không thể bị xâm phạm nữa
4 Bảo vệ quyền nhân thân
Bảo vệ quyền nhân thân của cá nhân bằng pháp luật dân sự là quyền của cá nhân sử dụng các phương thức và biện pháp do pháp luật dân sự qui định nhằm phòng ngừa, ngăn chặn hành vi xâm hại quyền nhân thân của mình hoặc của người khác, khắc phục những thiệt hại do hành vi xâm hại đó gây ra Việc bảo vệ quyền nhân thân của cá nhân là một khâu trong cơ chế bảo đảm việc thực hiện quyền nhân thân của cá nhân
Điều 25 BLDS có qui định về bảo vệ quyền nhân thân như sau:
“Khi quyền nhân thân của cá nhân bị xâm phạm thì người đó có quyền:
1 Tự mình cải chính;
2 Yêu cầu người vi phạm hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền buộc người vi phạm chấm dứt hành vi vi phạm, xin lỗi, cải chính công khai;
3 Yêu cầu người vi phạm hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền buộc người vi phạm bồi thường thiệt hại” (điều 25 BLDS 2005).
Trong đó:
+ Tự mình cải chính là biện pháp tự bảo vệ của cá nhân khi quyền nhân thân
bị xâm phạm, áp dụng trong trường hợp người khác có hành vi đưa ra những thông tin, tin tức không đúng xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm của cá nhân nhưng chưa gây ra hậu quả nghiêm trọng Biện pháp cho phép người có quyền nhân thân bị