Kể cả trongcông ước quốc tế là những văn bản pháp lý cấp cao nhất cũng đã đề cập tới vấn đềquyền nhân thân của con người như tại công ước quốc tế về các quyền dân sự vàchính trị năm 1966
Trang 1MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 1
1.Cơ sở lý luận hình thành quyền nhân thân theo quy định trong BLDS 1
1.1 Cơ sở lý luận 1
1.2 Cơ sở pháp lý 3
1.2.1 Hiến pháp 3
1.2.2 Bộ luật dân sự 3
2 Khái quát về quyền nhân thân 3
2.1 Khái niệm quyền nhân thân 3
2.2 Một số đặc trưng cơ bản của quyền nhân thân 4
2.2.1 Quyền nhân thân gắn liền với chủ thể và nguyên tắc là không thể dịch chuyển cho chủ thể khác 5
2.2.2 Quyền nhân thân có tính chất phi tài sản 5
2.2.3 Hành vi xâm hại quyền nhân thân không nhất thiết phải gây ra thiệt hại 5
2.2.4 Thiệt hại về quyền nhân thân không có tiêu chí để định lượng 6
3 Quá trình phát triển của pháp luật Việt Nam về các quyền nhân thân 6
4 Nội dung cơ bản của các quyền nhân thân được quy định trong BLDS 2005 8
4.1 Nhóm quyền nhân thân gắn liền với chủ thể trong quan hệ hôn nhân gia đình 8
4.2 Nhóm các quyền liên quan tới sự cá biệt hóa cá nhân 10
4.3 Nhóm các quyền liên quan tới thân thể của cá nhân 13
4.4 Nhóm các quyền liên quan tới giá trị tinh thần của chủ thể 14
4.5 Nhóm các quyền nhân thân đối với các đối tượng của quyền sở hữu
trí tuệ 16
5 Bảo vệ quyền nhân thân 16
6 Tìm hiểu một vụ việc thực tiễn liên quan tới quyền nhân thân 17
7 Một số phương hướng và giải pháp hoàn thiện các quy định trong bộ luật dân sự về quyền nhân thân 19
KẾT THÚC VẤN ĐỀ 19
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
Quyền nhân thân là một trong những quyền dân sự có ý nghĩa vô cùng quantrọng được pháp luật của các quốc gia trên thế giới ghi nhận và bảo vệ Kể cả trongcông ước quốc tế là những văn bản pháp lý cấp cao nhất cũng đã đề cập tới vấn đềquyền nhân thân của con người như tại công ước quốc tế về các quyền dân sự vàchính trị năm 1966 hay tại bộ luật nhân quyền thế giới…Cùng với các văn bảnpháp luật khác, Bộ luật dân sự ( BLDS ) của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa ViệtNam đã ghi nhận và có những cơ chế để bảo vệ quyền nhân thân của chủ thể Cùngvới quá trình lịch sử lập pháp của nhà nước ta, nhất là trong thời kỳ hội nhập kinh
tế thế giới, luật dân sự ( LDS) luôn có xu hướng là ngày càng hoàn thiện để đápứng kịp thời nhu cầu xã hội Và quyền nhân thân cũng được hoàn thiện ngày càngphù hợp hơn trong xu hướng đó của LDS BLDS 2005 sửa đổi bổ sung nhiều quyđịnh về quyền nhân thân Đây là cơ sở pháp lý quan trọng thứ hai sau Hiến pháp đểghi nhận và bảo vệ quyền nhân thân Điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế và kinh tế
xã hội của nước ta ngày càng phát triển, các quyền của con người và quyền nhânthân của con người được coi trọng hơn bao giờ hết Quyền nhân thân nhìn cả dướigóc độ lý luận và thực tiễn đều là vấn đề hết sức quan trọng, là cơ sở lý luận xâydựng và hoàn thiện những quy định về quyền nhân thân Song cùng với sự hoànthiện về quyền nhân thân trên cơ sở lý luận là vấn đề thực tiễn áp dụng và thựchiện quyền nhân thân ra sao Do vậy việc nghiên cứu quyền nhân thân theo quyđịnh của BLDS với những vấn đề lý luận và thực tiễn góp phần quan trọng để mỗicông dân thực hiện nghiêm túc các quyền nhân thân mà pháp luật quy định nhằmhoàn thiện và phát huy hết khả năng bản thân, đồng thời là những kinh ngiệm thựctiễn áp dụng giải quyết các vấn đề có liên quan tới quyền nhân thân ở nước ta hiệnnay
Trang 3NỘI DUNG
1.Cơ sở lý luận hình thành quyền nhân thân theo quy định trong BLDS 1.1 Cơ sở lý luận
Con người là tổng hòa của các mối quan hệ Trong mối quan hệ với tự nhiên,
xã hội và con người thì tự nhiên là cái có trước và con người là cái có sau Conngười không thể thay đổi được tự nhiên mà chỉ có thể thích ứng với tự nhiên và cảitạo nó Quá trình cải tạo tự nhiên cũng là quá trình con người tự hoàn thiện mình
và phát huy hết những khả năng vốn có của mình Con người tạo ra xã hội nhưng
xã hội lại có vai trò quan trọng trong việc hình thành con người vì không thể cócon người sống ngoài xã hội Do vậy con người vừa là một thực thể sinh học sống,vừa là một cơ thể sống mang bản chất xã hội Điều này làm cho con người khácvới các thực thể sinh học khác ở chỗ, chỉ có con người mới được hưởng nhữngquyền do địa vị làm người mang lại, đó chính là quyền con người, quyền nhân thâncủa mỗi con người
Xuất hiện, tồn tại, vận động và phát triển gắn với quá trình tiến hóa của lịch
sử xã hội loài người, quyền con người được coi là một hiện tượng lịch sử xã hội cóquá trình phát triển lâu dài Tư tưởng đó cũng gần như xuất hiện cùng với sự xuấthiện của xã hội loài người
Trải qua các giai đoạn hình thành và phát triển, quyền con người là một kháiniệm rộng lớn, phức tạp thậm chí nhiều lúc là đầy mâu thuẫn, bản chất của quyềncon người vừa mang tính tự nhiên vừa mang tính xã hội Hai thuộc tính vốn có củaquyền con người tồn tại tất yếu có mối quan hệ hữu cơ, tác động qua lại với nhau.Tính tự nhiên cho thấy quyền con người là đặc quyền vốn có của con người, nhữngquyền này lại bị chi phối và phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế, văn hóa, bịchi phối bởi trình độ phát triển của xã hội làm cho nội dung quyền của con ngườichứa đựng tính đặc thù, gắn liền với lịch sử phát triển truyền thống của mỗi quốcgia Tuy nhiên có những quyền của con người mà dù ở bất cứ đâu, bất cứ khi nào,bất cứ quốc gia nào thì nó luôn luôn được đảm bảo đó chính là quyền con người cơbản Sự hiện diện của nó trong hệ thống pháp luật quốc gia là ranh giới khẳng định
có hay không có quyền con người Trong bản tuyên ngôn độc lập của hợp chủng
quốc Hoa kỳ 1776 khẳng định” con người sinh ra đều bình đẳng, đấng tạo hóa đã
dành cho họ một số quyền không thể bị tước đoạt Trong các quyền đó có quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc.” Dù là quyền con người hay
Trang 4quyền con người cơ bản thì đều là những khái niệm thể hiện xu hướng, yêu cầu,thể hiện năng lực, khả năng và ý chí Và một trong những đặc trưng rất quan trọngcủa quyền con người đó được đảm bảo bởi Nhà nước và pháp luật Nhà nước vàpháp luật là công cụ và phương tiện bảo vệ quyền con người Thông qua việc banhành các quy định pháp luật Nhà nước quy định các quyền của công dân trong đó
có quyền nhân thân Quyền công dân tạo lên địa vị pháp lý của công dân trong xãhội, thể hiện mối quan hệ về mặt pháp lý giữa một cá nhân và một quốc gia Mốiliên hệ này sẽ ràng buộc hành vi của công dân vào hệ thống pháp luật quốc gia đầutiên là Hiến pháp và các văn bản pháp luật khác trong đó đặc biệt là BLDS
1.2 Cơ sở pháp lý
1.2.1 Hiến pháp
Hiến pháp là đạo luật cơ bản, đạo luật gốc của một quốc gia, là cơ sở hìnhthành hệ thống pháp luật và xây dựng các văn bản pháp luật khác Căn cứ vào quyđịnh của Hiến pháp các ngành luật cụ thể hóa bằng các quy định để tác động tớicác quan hệ mà nó có nhiệm vụ điều chỉnh
Đối với LDS nói chung và các quy đinh về quyền nhân thân trong BLDS,Hiến pháp quy định một các rất khái quát về quyền nhân thân Hiến pháp năm
1992 quy định những nguyên tắc cơ bản của chế độ xã hội chủ nghĩa Việt Nam ởgiai đoạn đầu thời quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội Trong Hiến pháp năm 1992,quy định rất nhiều những vấn đề của đất nước, của hệ thống pháp luật và của cả hệthống chính trị… Trong đó có chương II và chương V có nhiều quy định liên quantới LDS Đặc biệt trong chương V quy định về quyền và nghĩa vụ cơ bản của côngdân Ngoài những quyền về chính trị xã hội là một loại các quyền công dân đượcHiến pháp ghi nhận như: quyền bình đẳng về năng lực pháp luật dân sự của cánhân, các quyền nhân thân và quyền tài sản…
1.2.2 Bộ luật dân sự
BLDS được đánh giá là có vị trí thứ hai sau Hiến pháp trong việc hình thành
và cụ thể hóa quyền nhân thân của cá nhân BLDS 2005 là bộ luật lớn nhất củaNhà nước ta về phạm vi điều chỉnh, số lượng các điều luật, sự rộng rãi trong việclấy ý kiến của các cấp, các ngành, thời gian chuẩn bị… BLDS đã thể chế hóađường lối phát triển kinh tế của Đảng cộng sản Việt Nam, cụ thể hóa Hiến pháp
1992 nhằm bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của tập thể và đặc biệt là của cá nhân.BLDS cụ thể hóa các quyền nhân thân của cá nhân mà Hiến pháp ghi nhận, là
Trang 5chuẩn mực ứng xử pháp lý cho các chủ thể khi tham gia quan hệ dân sự và thựchiện những quyền nhân thân gắn với mỗi chủ thể Quyền nhân thân trong BLDS
2005 được quy định từ Điều 24 đền Điều 51 Số lượng các quy định trong BLDScũng chiếm một phần đáng kể và tới BLDS 2005 đã đánh dấu những bước pháttriển mới trong việc xây dựng và hoàn thiện về quyền nhân thân của cá nhân
2 Khái quát về quyền nhân thân
2.1 Khái niệm quyền nhân thân
Để hiểu như thế nào là quyền nhân thân chúng ta cần hiểu về “ nhânthân”.Hiện nay cũng chưa có khái niệm chính thức về “ nhân thân” Đây là từ HánViệt và nếu chúng ta hiểu rõ khái niệm này thì chúng ta cũng sẽ hiểu rõ khái niệm
quyền nhân thân Tuy nhiên theo quy định của Điều 24 – BLDS: “ quyền nhân
thân được quy định trong bộ luật này là quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân, không thể chuyển giao cho người khác, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác” Theo đó chúng ta có thể hiểu nhân thân là những yếu tố gắn liền với mỗi
con nguời cụ thể, liên quan trực tiếp tới cá nhân như hình dáng, khuôn mặt, hoàncảnh gia đình, nghề nghiệp…
Dưới góc độ pháp luật dân sự thì không phải mỗi yếu tố liên quan đến bảnthân mỗi con người đều ảnh hưởng đến việc hưởng quyền nhân thân của họ Ví dụ:bất cứ cá nhân nào cũng đều có quyền đối với quốc tịch Tuy nhiên có nhiều yếu tốliên quan đến nhân thân của con người lại ảnh hưởng trực tiếp đến việc hưởngquyền dân sự của họ
Điều 24 BLDS đã đưa ra những quy định chung nhất về quyền nhân thân, quaquy định này chúng ta có thể định nghĩa về quyền nhân thân như sau:
- Theo nghĩa khách quan, Quyền nhân thân được hiểu là tổng hợp các quy
phạm pháp luật do Nhà nước ban hành, trong đó có nội dung quy định rõcho các cá nhân có các quyền nhân thân gắn liền với bản thân mình và đây là
cơ sở để cá nhân thực hiện quyền của mình
- Theo nghĩa chủ quan, Quyền nhân thân là quyền dân sự chủ quan gắn liền
với cá nhân do Nhà nước quy định cho mỗi cá nhân và cá nhân không thểchuyển giao quyền này cho người khác trừ trường hợp pháp luật có quy địnhkhác
Qua định nghĩa quyền nhân thân chúng ta có thể thấy được đặc điểm củaquyền nhân thân như sau:
Trang 6- Quyền nhân thân là một quyền dân sự do luật định.
thể khác
2.2 Một số đặc trưng cơ bản của quyền nhân thân
2.2.1 Quyền nhân thân gắn liền với chủ thể và nguyên tắc là không thể dịch chuyển cho chủ thể khác
Quyền nhân thân trở thành một thuộc tính của chủ thể mà không bị phụthuộc , chi phối bởi bất kỳ yếu tố khách quan nào như độ tuổi, trình độ, giới tính,tôn giáo… Pháp luật dân sự thừa nhận quyền nhân thân của mỗi cá nhân màkhông thể chuyển dịch cho chủ thể khác, mỗi chủ thể đều bình đẳng về quyền nhânthân Các quyền dân sự nói chung và quyền nhân thân nói riêng do Nhà nước quyđịnh cho các chủ thể dựa trên điều kiện kinh tế, xã hội nhất định Do vậy vềnguyên tắc quyền nhân thân không thể chuyển giao cho người khác cũng đồngnghĩa là quyền nhân thân không thể là đối tượng trong các giao dịch mua bán, traođổi, tặng cho… Tuy nhiên, trong một số trường hợp, một số quyền nhân thân cóthể chuyển giao cho người khác theo quy định của pháp luật Ví dụ: Quyền công
bố, phổ biến tác phẩm của tác giả , khi tác giả chết thì quyền này có thể chuyểngiao cho chủ thể khác hay các quyền khác về tinh thần của tác giả đối với tác phẩmnhư quyền được tôn trọng tác phẩm…
2.2.2 Quyền nhân thân có tính chất phi tài sản
Quyền nhân thân không bao giờ là tài sản, chỉ có quyền nhân thân gắn với tàisản hay không gắn với tài sản mà thôi Vì không phải là tài sản nên quyền nhânthân và tiền tệ không phải là những đại lượng tương đương và không thể trao đổingang giá Do vậy, quyền nhân thân không thể bị định đoạt hay mang ra chuyểnnhượng cho người khác Một người không thể kê biên quyền nhân thân của con nợ
Vì sự cụ thể nó thành tài sản, tiền tệ là điều không thể Thực ra, đây là vấn đề rấtkhó trong lý thuyết về quyền nhân thân cũng như áp dụng thực hiện quyền nhânthân Thông thường, một quyền nhân thân không thể định đoạt có nghĩa là khôngthể là đối tượng giao dịch Nhưng trên thực tế lại xuất hiện nhiều hợp đồng liênquan tới quyền nhân thân VÍ dụ: trong lĩnh vực đời tư liên quan tới hình ảnh,
Trang 7nhiều người được công chúng biết đến như là minh tinh màn bạc ký hợp đồng vớicác cơ quan thông tin, xuất bản.Vậy làm thế nào để dung hòa đặc điểm này củaquyền nhân thân với tình trạng giao dịch hợp pháp về hình ảnh ngày càng pháttriển và rầm rộ như hiện nay.
2.2.3 Hành vi xâm hại quyền nhân thân không nhất thiết phải gây ra thiệt hại
hại hoặc không gây ra thiệt hại Điều đó có nghĩa là thiệt hại không phải là căn cứbắt buộc để xác định trách nhiệm pháp lý đối với hành vi xâm hại Trên thực tế,ngay cả trong trường hợp bị xâm phạm quyền nhân thân không những là khônggây thiệt hại gì cho người bị xâm hại mà thậm chí là còn có lợi cho họ Nhưng vềnguyên tắc, nếu không có sự đồng ý của cá nhân thì coi là vi phạm
2.2.4 Thiệt hại về quyền nhân thân không có tiêu chí để định lượng
Trong các quyền nhân thân, quyền nhân thân liên quan tới đời sống tinh thầncủa cá nhân luôn chiếm một số lượng lớn Đó chính là những quyền liên quan tớiđời sống tinh thần của con người, là quyền của cá nhân phát sinh trong sinh hoạtnội tâm của con người.Do vây, đối với mỗi cá nhân thì giá trị đó không có chuẩnmức chung để cụ thể nó thành giá trị Vì thế, thiệt hại do hành vi xâm phạm quyềnnhân thân không được cân, đo, đong, đếm bằng những đại lượng cụ thể Đặc trưngnày không loại trừ nghĩa vụ bồi thường thiệt hại khi hành vi xâm hại tới quyềnnhân thân
3 Quá trình phát triển của pháp luật Việt Nam về các quyền nhân thân
Việc hình thành và phát triển của quyền nhân thân luôn xuất phát từ cơ sở của
nó Và cơ sở pháp lý là điều cốt lõi Ở nước ta thì Hiến pháp là cơ sở đầu tiên vàquan trọng cho việc hình thành và phát triển của các quyền nhân thân thông qua sự
cụ thể hóa trong LDS Do vậy quyền nhân thân cũng có sự phát triển gắn liền với
sự ra đời và phát triển của các bản Hiến pháp
Ở nước ta, quyền nhân thân của cá nhân cũng có những bước phát triển nhấtđịnh Dưới thời Pháp thuộc, các quyền dân sự nói chung và quyền nhân thân nóiriêng được thực dân Pháp quy định nhằm bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị trong
xã hội
- Giai đoạn 1945 – 1959
Quyền nhân thân được thể hiện trong Hiến pháp 1946.
Trang 8Trong bối cảnh đất nước vừa thoát khỏi chế độ xã hội cũ – xã hội mà mọingười đều phải chịu sự kiểm soát, bắt bớ tù đày với những lý do bất kỳ – thì quyđịnh của Hiến pháp 1946 về quyền nhân thân được đánh giá là sự tiến bộ của Nhànước ta lúc bấy giờ Đây là sự lỗ lực, cố gắng của Nhà nước ta trong viêc phấn đấugiành quyền tự do dân chủ cho con người như : “… nhà ở và thư tín của công dânViệt Nam, không ai được xâm phạm một cách trái pháp luật” hay các quy định củapháp luật liên quan tới quyền bầu cử và ứng cử( Điều 18)….Trên cơ sở quy địnhcủa Hiến pháp 1946, các văn bản pháp luật có hiệu lực sau Hiến pháp giai đoạnnày cũng đã cụ thể hóa quyền nhân thân, trong đó có luật báo chí ngày 20/5/1957.Quyền tự do ngôn luận là một nội dung quan trọng được quy định cụ thể trong đóhay khi báo chí đăng tin sai sự thật, vu khống thì phải xin lỗi và tùy mức độ người
bị vi phạm có thể yêu cầu Tòa án giải quyết
- Giai đoạn 1959 – 1980
Giai đoạn này là giai đoạn đánh dấu sự ra đời và phát triển của nền lập phápvới bản Hiến pháp 1959 ra đời tiếp nối và kế thừa Hiến pháp 1946 Hiến pháp đãgiành chương II với tiêu đề” quyền lợi và nghĩa vụ cơ bản của công dân”, trong đó
là các quy định quyền dân sự vói chung và quyền nhân thân nói riêng( từ Điều 22đến Điều 42 ) Cùng với sự biến động của hoàn cành lịch sử đất nước, quyền nhânthân của cá nhân được quy định trong Hiến pháp có ý nghĩa lịch sử xã hội sâu sắc.Các quy định về quyền nhân thân trong Hiến pháp 1959 một mặt tạo niềm tin chocon người mới xã hội chủ nghĩa, một mặt động viên, khích lệ tinh thần đấu tranhchống đế quốc Mỹ xâm lược của nhân dân ta
- Giai đoạn 1980 – 1992
Trên cơ sở ban hành Hiến pháp 1980, Nhà nước ta đã ban hành rất nhiều cácvăn bản pháp luật để cụ thể hóa các quy định liên quan đến việc ghi nhận và thựchiện quyền nhân thân của cá nhân Bên cạnh các quy định của pháp luật quốc gialiên quan tới các quyền nhân thân, Nhà nước ta đã có những nỗ lực quan trọngtrong việc ký kết và tham gia các công ước quốc tế trong lĩnh vực quyền conngười.Nói là vậy, nhưng thực sự là một số quyền dân sự cũng như quyền nhân thâncủa cá nhân được quy định trong Hiến pháp 1980 không có tính khả thi và khôngthể thực hiện được nó trong thực tiễn lúc bấy giờ như tại Điều 60, Điều 61… Theo
đó thì Nhà nước đảm bảo thực hiện chế độ học không phải trả tiền hay chế độ
Trang 9khám bệnh và chữa bệnh không phải trả tiền lúc bấy giờ thì hoàn toàn là không thể
và tới bây giờ ở nước ta cũng là chưa thể
- Giai đoạn 1992 – nay
BLDS 1995 ra đời đã đề cập tới các quyền nhân thân một cách đa dạng, baogồm các quy định từ Điều 26 đến Điều 47 Có thể nói lần đầu tiên một văn bảnpháp lý có hiệu lực cao nhất trong lĩnh vực dân sự đã ghi nhận các quyền nhân thâncủa chủ thể cũng như các phương thức để bảo vệ quyền nhân thân Đây chính là cơ
sở pháp lý và là nền tảng để các cá nhân thực hiện quyền nhân thân của mình.Qua gần 10 năm áp dụng vào thực tiễn để bảo vệ và lợi ích hợp pháp cho cácchủ thể khi thực hiện quyền của mình nói chung, quyền nhân thân nói riêng BLDS
1995 ra đời là một nhu cầu thiết yếu nhưng cũng đã bộc lộ một khiếm khuyết nhấtđịnh cần phải sửa đổi bổ sung BLDS2005 ra đời đã sửa đổi bổ sung một số quyđịnh của BLDS 1995, trong đó có các quy định về quyền nhân thân So với BLDS
1995, khi quy định về quyền nhân thân, BLDS 2005 quy định quyền được khaisinh, quyền được khai tử là quyền nhân thân của cá nhân Ngoài ra, BLDS 2005lần đầu tiên đưa vào một số quyền nhân thân liên quan tới đạo đức sinh học đó làcác quyền: quyền hiến bộ phận cơ thể (Điều 33), quyền hiến xác, bộ phận cơ thểsau khi chết( Điều 34), Quyền nhận bộ phận cơ thể( Điều 35), quyền xác định lạigiới tính( Điều 36)…
Ngoài việc thêm mới một số quyền nhân thân, hầu hết các quyền nhân thânđược quy định trong BLDS1995 được kế thừa có chọn lọc và sửa đổi bổ sung chophù hợp như quyền thay đổi họ tên (Điều 27), quyền xác định dân tộc( Điều 28),Điều 31, Điều 32, Điều 37, Điều 38…
4 Nội dung cơ bản của các quyền nhân thân được quy định trong BLDS 2005
BLDS 2005 quy định về quyền nhân thân từ Điều 24 đến Điều 51.Ngoài quyđịnh chung về quyền nhân thân ( Điều 24), bảo vệ quyền nhân thân ( Điều 25),trong các quyền nhân thân được BLDS quy định cụ thể,dựa vào đối tượng củaquyền nhân thân,các quyền nhân thân được quy định trong BLDS 2005 có thể phânchia thành các nhóm quyền nhân thân sau đây:
4.1 Nhóm quyền nhân thân gắn liền với chủ thể trong quan hệ hôn nhân
gia đình.
Trang 10Trong quan hệ hôn nhân gia đình, một trong những mối quan hệ rất đặc biệtcủa đời sống xã hội, các quyền nhân thân của cá nhân luôn đặt trong mối quan hệmật thiết giữa cá nhân đó với tư cách là một thành viên trong gia đình với các chủthể có liên quan trong mối quan hệ gia đình; giữa các thành viên đó với tư cách làmột thành viên trong xã hôi với các chủ thể khác với mục đích không chỉ bảo vệquyền và lợi ích của họ mà còn của cả các thành viên trong gia đình và toàn xã hội.Các quyền đó do pháp luật quy định bao gồm: quyền kết hôn ( Điều 39 ); quyềnbình đẳng của vợ chồng( Điều40); quyền được hưởng sự chăm sóc giữa các thànhviên trong gia đình( Điều 41); quyền ly hôn( Điều 42); quyền nhận, không nhậncha, mẹ,con ( Điều 43), quyền được nuôi con nuôi và được nhận làm connuôi( Điều 44).Quyền kết hôn là quyền nhân thân gắn liền với nhân thân của chủthể không thể chuyển giao cho người khác Đảm bảo quyền tự do kết hôn của cánhân luôn được pháp luật hướng tới; nhưng cá nhân chỉ có thể thực hiện quyền kếthôn khi đáp ứng được một số điều kiện nhất định hay là không được kết hôn trongnhững trường hợp pháp luật cấm như nam phải từ 20 tuổi trở lên, nữ từ 18 tuổi trởlên mới được quyền kết hôn… vấn đề này đã được luật hôn nhân gia đình quy định
cụ thể Nói vậy không có nghĩa là quyền kết hôn bị hạn chế mà nhằm đảm bảo sựphát triển bền vững, đảm thuần phong mỹ tục và hạn chế bớt hậu quả xảy ra trongviệc kết hôn tùy tiện Quyền bình đẳng giữa vợ và chồng Điều 40 BLDS quy định”
vợ, chồng bình đẳng với nhau, có quyền, nghĩa vụ ngang nhau về mội mặt trong gia đình, và trong quan hệ dân sự, cùng nhau xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc bền vững” Thực chất đây là quyền cũng đồng thời là nghĩa vụ
của chồng Vợ chồng cùng nhau thực hiện các quyền này cũng đồng thời chung taycùng với cộng đồng xây dựng một xã hội phồn vinh Bởi khi thực hiện các quyềnnày thì sẽ xây dựng một gia đình tốt Gia đình là tế bào của xã hội, gia đình tốt thì
xã hội mới tốt được Điều 42 quy định về ly hôn, quyền này được đặt trong mốiquan hệ hôn nhân gia đình là quyền nhân thân gắn với vợ chồng Sự bình đẳng củaquyền ly hôn thể hiện trong việc cả hai vợ chồng, hoặc vợ, hoặc chồng có quyềnyêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn Xét về hậu quả của ly hôn là không thểlường trước được, do vậy để sự tự do ly hôn thực sự là sự giải thoát cho vợ chồng,
sự bần cùng mới cần sử dụng tới, Luật hôn nhân gia đình cũng đã quy định nhữngvấn đề cần thiết liên quan tới việc ly hôn
Đối với những quyền nhân thân liên quan tới mối quan hệ giữa cha,mẹ và cácthành viên khác trong gia đình như tại Điều 41, Điều43, Điều 44 Cụ thể hóa các
Trang 11điều luật này đã được Luật hôn nhân gia đình Việt Nam thực hiện và bảo đảm thựchiện nó trên thực tế một các chi tiết và đồng bộ Đối với quyền nhận, không nhậncha mẹ con theo Điều 43 và Điều 41 BLDS Theo đó,người con có quyền được xácđịnh cha mẹ và được cha mẹ mình chăm sóc và bảo vệ Đây là một quyền nhânthân đặc biệt và quan trọng trong các quyền cơ bản đối với trẻ em Một khi trẻ emđược sinh ra mà không được cha mẹ, hoặc cha, hoặc mẹ không thừa nhận thì trẻ
em đó có thể bảo vệ quyền của mình bằng các phương thức khác nhau theo Điều
43 đã quy định Trong thực tế, nhóm quyền đặc biệt này của người con luôn bịxâm hại, không đảm bảo được quyền của trẻ em nói chung và quyền của người connói riêng Việc này cho dù là có những chế tài hay không thì nhóm quyền nhânthân này đôi lúc là rất khó đảm bảo Hoặc khi đã thực hiện quyền đó rồi thì xácđịnh vấn đề trách nhiệm của cha mẹ trong một quãng thời gian dài đã chốn tránhtrách nhiệm với người con như thế nào Đây thực sự là vấn đề mà pháp luật dân sựcũng như pháp luật hôn nhân gia đình của nước ta đã và đang bị bỏ ngỏ Do vậypháp luật của chúng ta trong thời gian tới cần bổ sung vấn đề về hậu quả pháp lýđối với việc xác định cha, mẹ, cho con để giảm bớt tình trạng thiếu trách nhiệmcủa một số ông bố, bà mẹ như hiện nay Ngoài ra, quyền được nuôi con nuôi vàquyền được nhận làm con nuôi quy định tại Điều 44 BLDS Theo đó thì nhữngquyền này đã được pháp luật bảo hộ và công nhận Và để được pháp luật bảo hộnhững quyền và lợi ích liên quan của người nhận nuôi con nuôi và người đượcnhận nuôi con nuôi thì việc nhận nuôi con nuôi phải được thực hiện theo quy địnhcủa pháp luật Quyền được nuôi con nuôi đã tạo ra quyền làm cha, làm mẹ củangười nhận nuôi con nuôi nhằm tạo ra sự gắn bó tình cảm giữa người nhận nuôi vàngười được nhận nuôi trong quan hệ cha mẹ và con Ngoài các quyền nhân thânđược quy định trong BLDS 2005 liên quan đến quan hệ hôn nhân gia đình, Luậthôn nhân gia đình đã chi tiết hóa các quyền này như quyền xác định cha mẹ vàcon, cha mẹ có quyền đại diện, giám hộ cho con theo quy định của pháp luật Bêncạnh đó là các quyền nhân thân giữa các thành viên trong gia đình
Tóm lại, BLDS 2005 đã có nhiều quy định cụ thể về quyền nhân thân trongnhóm quan hệ này Ngoài ra là luật hôn nhân gia đình 2000, cũng đã quy định chitiết các quyền nhân thân thuộc nhóm này Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để các
cá nhân trong mối quan hệ hôn nhân gia đình được tôn trọng và bảo vệ
4.2 Nhóm các quyền liên quan tới sự cá biệt hóa cá nhân