Kể cả trong công ước quốc tế là những văn bản pháp lí cấp cao nhất đề cấp tới vấn đề quyền nhân thân của con người như tại công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 hay
Trang 1MỞ ĐẦU
Trong bản Tuyên ngôn độc lập đọc ngày 2-9-1945, khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, chủ tịch Hồ Chí Minh đã trích dẫn một câu nói về quyền nhân thân theo Bản tuyên ngôn nhân quyền của nước Mỹ Đó là “Mọi người sinh ra đều bình đẳng Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể chối cãi Trong các quyền đó có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc” Quyền nhân thân là một trong những quyền dân sự có ý nghĩa quan trọng được pháp luật trên thế giới ghi nhận và bảo vệ Kể cả trong công ước quốc tế là những văn bản pháp lí cấp cao nhất đề cấp tới vấn đề quyền nhân thân của con người như tại công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 hay tại bộ luật nhân quyền thế giới…Cùng với các văn bản pháp luật khác, Bộ luật dân sự (BLDS) của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ghi nhận và có những cơ chế để bảo vệ quyền nhân thân của chủ thể Cùng với quá trình lịch sử lập pháp của nhà nước ta, luật dân sự luôn có xu hướng là ngày càng hoàn thiện để đáp ứng đáp ứng kịp nhu cầu mà xã hội đặt ra Và quyền nhân thân cũng nằm trong xu hướng đó của luật dân
sự Bộ luật dân sự 2005 sửa đổi, bổ sung nhiều quy định về quyền nhân thân Đây
là cơ sở pháp lí quan trọng thứ hai sau Hiến pháp để ghi nhận và bảo vệ quyền nhân thân Điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế và kinh tế xã hội của nước ta ngày càng phát triển, các quyền của con người và quyền nhân thân của con người được coi trọng hơn bao giờ hết Quyền nhân thân cả dưới góc độ lí luận và thực tiễn đều là vấn đề hết sức quan trọng hơn bao giời hết Do vậy, việc nghiên cứu quyền nhân thân theo quy định của BLDS với những vấn đề lí luận và thực tiễn góp phần quan trọng cho mỗi công dân thực hiện nghiêm túc các quyền nhân thân mà pháp luật cho phép nhằm hoàn thiện và phát huy hết khả năng vốn có của mình, đồng thời là những kinh nghiệm thực tiễn áp dụng giải quyết các vấn đề liên quan tới quyền nhân thân ở nước ta hiện nay
NỘI DUNG
I Cơ sở hình thành quyền nhân thân theo quy định trong Bộ luật Dân sự:
1 Cơ sở lí luận:
Con người tổng hòa của các mỗi quan hệ Trong mối quan hệ với tự nhiên,
xã hội và con người thì tự nhiên là cái có trước và con người là cái có sau Con người không thể thay đổi được tự nhiên mà chỉ có thể thích ứng với tụ nhiên và cải tạo nó mà thôi Quá trình cải tạo tự nhiên cũng là quá trình con người tự hoàn thiện
Trang 2mình và phát huy hết những khả năng vốn có của mình Con người tạo ra xã hội nhưng xã hội lại có vai trò quan trọng trong việc hình thành con người và không thể
có con người sống ngoài xã hội Do vây, con người vừa là một thực thể sinh học sống, vừa là một cơ thể sống mang bản chất xã hội Điều này làm cho con người khác với các thực thể sinh học khác ở chỗ, chỉ có con người mới được hưởng những quyền do địa vị làm người mang lại, đó chính là quyền con người, quyền nhân thân của mỗi con người Xuất hiện, tồn tại, vận động và phát triển gắn với quá trình tiến hóa của lịch sử xã hội loài người, quyền con người được coi là một hiện tượng lịch sử xã hội có quá trình phát triển lâu dài Tư tưởng đó cũng gần như xuất hiện cùng với sự xuất hiện của xã hội loài người
Trải qua các giai đoạn hình thành và phát triển, quyền con người là một khái niệm rộng lớn, phức tạp thậm chí nhiều lúc là đầy mâu thuẫn, bản chất của quyền con người vừa mang tính tự nhiên vừa mang tính xã hội Hai thuộc tính vốn có của quyền con người tồn tại tất yếu có mối quan hệ hữu cơ, tác động qua lại với nhau Tính tự nhiên cho thấy quyền con người là đặc quyền vốn có của con người, những quyền này lại bị chi phối và phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế, văn hóa, bị chi phối bởi trình độ phát triển của xã hội làm cho nội dung quyền của con người chứa đựng tính đặc thù, gắn liền với lịch sử phát triển truyền thống của mỗi quốc gia Tuy nhiên có những quyền của con người mà dù ở bất cứ đâu, bất cứ khi nào, bất cứ quốc gia nào thì nó luôn luôn được đảm bảo đó chính là quyền con người cơ bản sự hiện diện của nó trong hệ thống pháp luật quốc gia là ranh giới khẳng định
có hay không có quyền con người Trong bản tuyên ngôn độc lập của hợp chủng
quốc Hoa kỳ 1776 khẳng định” con người sinh ra đều bbnh đẳng, đấng tạo hóa đă dành cho họ một số quyền không thể bị tước đoạt Trong các quyền đó có quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc.” Dù là quyền con người hay
quyền con người cơ bản thh đều là những khái niệm thể hiện xu hướng, yêu cầu, thể hiện năng lực, khả năng và ý chí Và một trong những đặc trưng rất quan trọng của quyền con người đó được đảm bảo bởi Nhà nước và pháp luật Nhà nước và pháp luật là công cụ và phương tiện bảo vệ quyền con người Thông qua việc ban hành các quy định pháp luật Nhà nước quy định các quyền của công dân trong đó có quyền nhân thân Quyền công dân tạo lên địa vị pháp lí của công dân trong xã hội Thể hiện mối quan hệ về mặt pháp lí giữa một cá nhân và một quốc gia Mối liên hệ này sẽ ràng buộc hành vi của công dân vào hệ thống pháp luật quốc giai đầu tiên là Hiến pháp và các văn bản pháp luật khác trong đó đặc biệt là có BLDS
2 Cơ sở pháp lí:
2.1 Hiến pháp
Trang 3Hiến pháp là đạo luật cơ bản, đạo luật gốc của một quốc gia, là cơ sở hhnh thành hệ thống pháp luật và xây dựng các văn bản pháp luật khác Căn cứ vào quy định của Hiến pháp các ngành luật cụ thể hóa bằng các quy định để tác động tới các quan hệ mà nó có nhiệm vụ điều chỉnh
Đối với LDS nói chung và các quy đinh về quyền nhân thân trong BLDS, Hiến pháp quy định một các rất khái quát về quyền nhân thân Hiến pháp năm 1992 quy định những nguyên tắc cơ bản của chế độ xă hội chủ nghĩa Việt Nam ở giai đoạn đầu thời quá độ tiến lên chủ nghĩa xă hội Trong Hiến pháp năm 1992, quy định rất nhiều những vấn đề của đất nước, của hệ thống pháp luật và của cả hệ thống chính trị… Trong đó có chương II và chương V có nhiều quy định liên quan tới LDS Đặc biệt trong chương V quy định về quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân Ngoài những quyền về chính trị xă hội là một loại các quyền công dân được Hiến pháp ghi nhận như: quyền bhnh đẳng về năng lực pháp luật dân sự của cá nhân, các quyền nhân thân và quyền tài sản…
2.2.Bộ luật dân sự
BLDS được đánh giá là có vị trí thứ hai sau Hiến pháp trong việc hhnh thành
và cụ thể hóa quyền nhân thân của cá nhân BLDS 2005 là bộ luật lớn nhất của Nhà nước ta về phạm vi điều chỉnh, số lượng các điều luật, sự rộng răi trong việc lấy ư kiến của các cấp, các nghành, thời gian chuẩn bị… BLDS đă thể chế hóa đường lối phát triển kinh tế của Đảng cộng sản Việt Nam, cụ thể hóa Hiến pháp 1992 nhằm bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của tập thể và đặc biệt là của cá nhân.BLDS cụ thể hóa các quyền nhân thân của cá nhân mà Hiến pháp ghi nhận, là chuẩn mực ứng xử pháp lư cho các chủ thể khi tham gia quan hệ dân sự và thực hiện những quyền nhân thân gắn với mỗi chủ thể.Quyền nhân thân trong BLDS 2005 được quy định
từ Điều 24 đền Điều 51 Số lượng các quy định trong BLDS cũng chiếm một phần đáng kể và tới BLDS 2005 đă đánh dấu những bước phát triển mới trong việc xây dựng và hoàn thiện về quyền nhân thân của cá nhân
II Khái niệm và đặc điểm của quyền nhân thân
1 Khái niệm quyền nhân thân
Quyền nhân thân là thuật ngữ pháp lý để chỉ những quyền gắn liền với bản thân con người, gắn liền với đời sống riêng tư của mỗi cá nhân Từ xưa tới nay, khi nói đến quyền nhân thân người ta liên tưởng ngay tới các quyền có liên quan mật thiết đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân Nói chung, quyền nhân thân là thứ quyền để bảo vệ cái “danh” của mỗi con người bao gồm: danh dự, danh tiếng, danh hiệu….Một xã hội ngày càng tiến bộ bao nhiêu thì con người ngày càng được
Trang 4quý trọng bấy nhiêu, và do đó quyền nhân thân cũng ngày càng được pháp luật quy định đầy đủ ,rõ ràng hơn
Trong lịch sử lập pháp của Việt Nam thuật ngữ “quyền nhân thân” ra đời khá
muộn mằn Bộ luật dân sự 1995 là văn bản pháp lý đầu tiên đề cập tới quyền nhân thân , đánh dấu một bước phát triển quan trọng trong quá trình hiện thực hóa quyền con người Kế thừa những quy định của bộ luật dân sự 1995 về quyền nhân thân, Điều 24 bộ luật dân sự 2005 có quy định về khái niệm quyền nhân thân như sau :
“Quyền nhân thân được quy định trong Bộ luật này là quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân, không thể chuyển giao cho người khác, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác” Việc quy định này khá chung chung, không đi vào cụ thể nên
chúng ta có thể định nghĩa quyền nhân thân như sau :
- Theo nghĩa khách quan : Quyền nhân thân được hiểu là tổng hợp các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành, trong đó nội dung quy định rõ cho các cá nhân có quyền nhân thân gắn liền với bản thân mình và đây là cơ sở để cá nhân thực hiện quyền của mình
- Theo nghĩa chủ quan : Quyền nhân thân là quyền dân sự chủ quan gắn liền với cá nhân do Nhà nước quy định cho mỗi cá nhân và cá nhân không thể chuyển giao quyền này cho người khác
2 Đặc điểm cơ bản của quyền nhân thân:
2.1 Quyền nhân thân là một quyền dân sự và là quyền dân sự đặc biệt
Trước hết, chúng ta cân hiểu thế nào là quyền dân sự Quyền dân sự được hiểu là
những quyền công dân được thể hiện trong mối quan hệ giữa các cá nhân và được bảo đảm bằng pháp luật dân sự Quyền dân sự được hiểu theo nghĩa rộng là quyền của chủ thể được pháp luật quy định như là nội dung của năng lực pháp luật của chủ thể dó Như vậy, các chủ thể có năng lực pháp luật dân sự khác nhau thì có quyền dân sự khác nhau, Quyền dân sự hiểu theo nghĩa hẹp là quyền của chủ tểh trong quan hệ dân sự nhất định mà chủ thể đó đang tham gia; quyền tự mình thực hiện những hành vi nhất đinh, quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi bị xâm phạm Quyền nhân thân là một khái niệm bao hàm trong nội dung quyền con người, quyền công dân Khi các quyền con người được pháp luật quy định thành các quyền cụ thể cho chủ thể tham gia vào các quan hệ dân sự được tự mình thực hiện, được yêu cầu và được hưởng Con người là nhân vật trung tâm của xã hội và là đối tượng hướng tới của các cuộc cách mạng tiến bộ trong lịch sử xã hội loài người Dưới góc độ pháp luật dân sự thì
cá nhân là chủ thể chủ yếu, thường xuyên quan trọng và phổ biến của quan hệ dân
Trang 5sự Các quyền mà pháp luật quy định cho cá nhân là vì con người và hướng tới con người, trong đó có các quyền nhân thân Sở dĩ nói quyền nhân thân là quyền dân sự đặc biệt và các quyền này chỉ thuộc về cá nhân, trong khi đó các quyền khác (quyền tài sản) có thể thuộc về chủ thể khác (pháp nhân, hộ gia đình)
2.2 Quyền nhân thân luôn gắn liền với cá nhân, không thể chuyển giao cho chủ thể khác.
Pháp luật dân sự thừa nhận quyền nhân thân là quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân mà không thể chuyển dịch cho chủ thể khác, trừ trường hợp do pháp luật qui định Điều 24 BLDS qui định: “Quyền nhân thân được quy định trong Bộ luật này là quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân, không thể chuyển giao cho người khác, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác” Các quyền dân sự nói chung, quyền nhân thân nói riêng là do Nhà nước quy định cho các chủ thể dựa trên điều kiện kinh tế – xã hội nhất định Do vậy, về mặt nguyên tắc, cá nhân không thể chuyển dịch quyền nhân thân cho chủ thể khác, nói cách khác thì quyền nhân thân không thể là đối tượng trong các giao dịch dân sự giữa các cá nhân Ví dụ, người này không thể đổi họ tên cho người khác và ngược lại hoặc một người không thể uỷ quyền cho người khác thực hiện quyền tự do đi lại của mình và mình nhận quyền tự
do kết hôn của người khác Quyền nhân thân không thể định đoạt (chuyển giao) được cho người khác nghĩa là quyền nhân thân không thể là đối tượng trong các giao dịch như mua bán, trao đổi, tặng cho,… Thực tế, tính không thể định đoạt của quyền nhân thân của cá nhân chỉ là tương đối, bởi trong một số trường hợp, quyền nhân thân có thể chuyển giao cho người khác theo quy định của pháp luật như quyền nhân thân gắn liền với tài sản được phép chuyển giao như tác giả của tác phẩm có thể được chuyển giao cho người thừa kế
Điều này có nghĩa rằng bản thân chủ thể hưởng quyền nhân thân chứ họ không thể chuyển giao quyền này cho người khác và cũng không ai có thể đại diện cho họ để thực hiện quyền này Tuy nhiên, trong một số trường hợp đặc biệt theo quy định của pháp luật thì quyền nhân thân có thể chuyển giao cho chủ thể khác Ví dụ: Quyền công bố, phổ biến tác phẩm của tác giả, khi tác giả chết đi thì quyền này
có thể chuyển giao cho chủ thể khác (người thừa kế của tác giả) Mặc dù vậy thì có những yếu tố luôn gắn liền với chủ thể mà không thể thay đổi được, ví dụ: Quyền đứng tên tác giả, quyền bảo vệ sự toàn vệ của tác phẩm
2.3 Quyền nhân thân có tính chất phi tài sản
Quyền nhân thân không bao giờ là những giá trị tương đương và không thể trao đổi ngang giá, chỉ có quyền nhân thân gắn với tài sản hay không gắn với tài sản mà
Trang 6thôi Vì không phải là tài sản nên quyền nhân thân không bao giờ trị giá được thành tiền Về mặt pháp lí, chúng ta cần phân định rõ tính chất phi tài sản của quyền nhân thân Ví dụ: Một người sáng tạo ra một sang chế hay giải pháp hữu ích Sáng chế hay giải pháp đó do con người sang tạo nên mang giá trị kinh tế, chứ bản thân
“Quyền tự do sáng tạo” (Điều 47 BLDS) không phải là tài sản, không mang giá trị kinh tế
2.4 Quyền nhân thân là một quyền dân sự do luật định.
Quyền nhân thân là một quyền nằm trong nội dung năng lực pháp luật dân sự của cá nhân Pháp luật dân sự quy định cho các cá nhân có các quyền nhân thân là một sự tuyên bố chính thức về các quyền con người cụ thể được pháp luật thừa nhận Việc pháp luật quy định cho các cá nhân có các quyền nhân thân khác nhau
là dựa vào các điều kiện kinh tế xã hội Do vậy, ở mỗi giai đoạn khác nhau của lịch
sử xã hội loài người, phụ thuộc vào bản chất giai cấp, chế độ chính trị xã hội… mà quyền nhân thân của cá nhân được quy định một cách khác nhau Quyền nhân thân
là do Nhà nước “trang bị” cho cá nhân, Nhà nước không cho phép bất cứ cá nhân nào làm thay đổi hay chấm dứt quyền đó
III Các quy định của pháp luật về quyền nhân thân trong Bộ luật dân sự 2005
Bộ luật dân sự 2005 quy định về quyền nhân thân từ Điều 24 tới Điều 51 Ngoài hai điều luật quy định khái quát về quyền nhân thân (Điều 24) và bảo vệ quyền nhân thân (Điều 25), các điều luật còn lại quy định về nội dung các quyền nhân thân cụ thể Dựa vào đối tượng của quyền mà các quyền nhân thân, tác giả chia các quyền nhân thân được quy định trong Bộ luật dân sự 2005 thành 5 nhóm sau đây:
1 Nhóm quyền nhân thân gắn liền với chủ thể trong quan hệ hôn nhân gia đình.
Nhóm các quyền tạo lập gia đình (quyền kết hôn, quyền ly hôn, quyền nhận nuôi và được nhận làm con nuôi) và nhóm quyền giữa các thành viên trong gia đình (quyền bình đẳng vợ chồng; quyền được hưởng sự chăm sóc giữa các thành viên trong gia đình) Các quyền thuộc phân nhóm thứ nhất được bảo vệ một cách tuyệt đối khỏi
sự xâm phạm của bất kỳ chủ thể khác Còn các quyền thuộc phân nhóm thứ hai chỉ được bảo vệ một cách tương đối khỏi sự xâm phạm của các thành viên khác trong chính gia đình đó mà thôi Các quyền này được xác lập một cách khác nhau ở từng chủ thể, phụ thuộc vào hoàn cảnh gia đình của người đó (đã lập gia đình chưa, có con cái hay không) và phụ thuộc vào địa vị của người đó trong gia đình (là con hay là cha, là
Trang 7chồng hay là vợ) Các quyền này có thể chấm dứt khi các chủ thể trong gia đình không còn nữa
2 Nhóm các quyền liên quan tới sự cá biệt hóa cá nhân
Các quyền nhân thân thuộc nhóm này được BLDS ghi nhận bao gồm : quyền đối với họ tên ( Điều 26), quyền thay đổi họ tên ( Điều 27 ),quyền được khai sinh( Điều 29), quyền được khai tử ( Điều 30 ),quyền của cá nhân đối với hình ảnh ( Điều31), Quyền xác định dân tộc( Điều 28), quyền xác định lại giới tính( Điều36), quyền đối với quốc tịch ( Điều45) Trong tất cả các quyền nhân thân mà BLDS đã ghi nhận thì quyền nhân thân thuộc nhóm quyền này thể hiện rõ nhất đặc trưng của LDS Việc phân biệt cá nhân này với cá nhân khác và phân biệt cá nhân với những chủ thể của quan hệ pháp luật không những có ý nghĩa trong việc xác định quyền
và nghĩa vụ của chủ thể mà còn có ý nghĩa trong việc xác định trách nhiệm pháp lý của chủ thể khi tham gia quan hệ pháp luật nói chung và quan hệ pháp luật dân sự nói riêng Những quyền nhân thân liên quan tới sự cá biệt hóa cá nhân là những quyền năng cơ bản và thể hiện rõ sự cá biệt gắn liền với chủ thể và không thể chuyển giao cho người khác
Mỗi người sinh ra đều có một tên gọi của mình do cha mẹ hoặc ai đó đăt cho
để phân biệt cá nhân này với cá nhân khác.Trên thực tế thì quyền này mặc nhiên là
có để mỗi chúng ta có thể phân biệt nhau.Điều 26 và Điều 27 quy định quyền đối với họ tên và quyền thay đổi họ tên Đây là là quyền dân sự cơ bản gắn liền với nhân thân của mỗi cá nhân Việc xác lập họ tên là rất quan trọng và gắn liền với chủ thể đó tới suốt đời Mặc dù mỗi cá nhân có thể có nhiều tên gọi khác nhau như :bí danh, tên thường gọi,biệt danh, tên khai sinh… Họ tên không chỉ đơn thuần là yếu tố về mặt nhân thân, mà nó còn là yếu tố pháp lý quan trọng để cá nhân xác lập thực hiện quyền cũng như nghĩa vụ, trách nhiệm pháp lý nhân danh chính mình Do vậy họ tên của một người cần phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận bằng việc cấp giấy đăng ký khai sinh cho một người Và cá nhân khi tham gia vào quan hệ pháp luật chỉ được công nhận mang một tên riêng để phân biệt với các chủ thể khác Đó chính là tên được ghi trong giấy khai sinh Quyền đối với họ tên là quyền nhân thân của cá nhân, cá nhân có quyền này kể từ khi sinh ra Tuy nhiên việc thực hiện quyền này lại không do chính họ thực hiện mà lại hoàn toàn phụ thuộc vào người có quyền và trách nhiệm đi khai sinh Rõ ràng quyền và lợi ích của cá nhân đã bị phân tán Trong trường hợp người có quyền và nghĩa vụ đi khai sinh cho trẻ mà không thực hiện vậy ai sẽ chịu trách nhiệm, không những thế nếu trẻ chưa được đăng ký khai sinh đã lớn và đã có đầy đủ năng lực hành vi dân sự thì có thể tự mình đi đăng ký khai sinh được không? Đây là một câu
Trang 8hỏi mà đã gặp khá nhiều ở nhà nước ta hiện nay và vẫn là một vấn đề còn bỏ ngỏ.
Do vậy pháp luật dân sự cẩn bổ sung và hoàn thiện quyền nhân thân này để bao trùm hết cả trường hợp trên
Quyền xác định lại dân tộc là quyền nhân thân của cá nhân được pháp luật bảo vệ Theo quy định của BLDS,tại Điều 28 quy định thì quyền xác định dân tộc của cá nhân lại khá là ngược so với quyền đối với họ tên Nước ta hiện nay có 54 dân tộc cùng sinh sống Việc xác định dân tộc cho cá nhân hoàn toàn phụ thuộc vào dân tộc của cha hoặc của mẹ chứ cá nhân mỗi người lại không có quyền tự xác định dân tộc của mình Và việc xác định dân tộc của cá nhân cũng được ghi vào trong giấy khai sinh của cá nhân Mặc dù vậy nhưng theo quy định tại khoản 3 Điều16 nghị định 15 của Chính phủ về hướng dẫn đăng ký hộ tịch thì trong trường hợp khai sinh cho trẻ bị bỏ rơi thì phần cha, me, dân tộc được bỏ trống Như vậy thì trong trường hợp mà trẻ không thể xác định được cha, mẹ của mình thì quyền nhân thân này của trẻ mãi không được đảm bảo Đối với trường hợp này chúng ta nên quy định một dân tộc nào đó hoặc một dân tộc mà chiếm đa số tại nơi trẻ được phát hiện Ngoài việc quy định xác định dân tộc là một quyền nhân thân thì là quyền được xác định lại dân tộc Nhưng việc xác định lại dân tộc phải thỏa mãn các điều kiện do pháp luật quy định và trong những trường hợp nhất định
Quyền cá nhân đối với hình ảnh được quy định tại Điều 31 BLDS 2005 đã thể hiện sự tiến bộ của pháp luật dân sự Việt Nam, bởi vì không phải quốc gia nào quyền cá nhân đối với hình ảnh cũng được quy định cụ thể trong BLDS Trước hết chúng ta cần hiểu rằng khái niệm hình ảnh của cá nhân bao gồm mọi hình thức nghệ thuật ghi lại hình dáng của con người như chụp ảnh, ảnh vẽ, ảnh chép và suy rộng ra là có thể bao gồm cả bức tượng của cá nhân và cả hình ảnh có được do ghi hình Theo quy định của pháp luật thì việc sử dụng hình ảnh của cá nhân phải được
sự đồng ý của cá nhân đó Tuy nhiên pháp luật lại không quy định như thế nào là”đồng ý” Nhưng chúng ta có thể hiểu là việc sử dụng hình ảnh của cá nhân vào bất cứ mục đích gì mà không có sự đồng ý của cá nhân đó đều coi là vi phạm pháp luật Việc sử dụng hình ảnh của cá nhân là một vấn đề nhậy cảm và khá phức tạp trong cuộc sống Để tránh việc sử dụng tùy tiện hình ảnh của cá nhân và đảm bảo cho quyền nhân thân đó, pháp luật cần quy định rõ những trường hợp nào thì pháp luật cho phép sử dụng hình ảnh của cá nhân và quy định chặt chẽ về sử dụng hình ảnh của cá nhân trong những trường hợp cụ thể
Quyền xác định lại giới tính được BLDS 2005 quy định tại Điều 36 Đây là quyền nhân thân của cá nhân và là quy định bổ sung cho quy định về quyền nhân thân của BLDS 1995 Như chúng ta đã biết thì chuyển đổi giới tính là vấn đề mới
Trang 9và rất phức tạp về mặt xã hội, mới chỉ xảy ra một số ít các trường hợp và chưa có tình phổ biến Do vậy cần có thời gian để tìm hiểu thực tế và nghiên cứu thêm kinh nghiệm của các nước trên thề giới Như vậy, BLDS 2005 quy định việc xác định lại giới tính của một người chỉ được thực hiện trong trường hợp giưos tính của người
đó bị khuyết tật bẩm sinh hoặc chưa định hình chính xác mà cần có sự can thiệp của Y học, nhằm xác định rõ về giới tính Quyền thay đổi giới tính không thể thực hiện một cách tùy tiện Quy định này là hoàn toàn phù hợp với tình hình xã hội và truyền thống đạo đức của xã hội ta hiện nay Nhưng trong các quy định hiện hành thì chưa có quy định cụ thể như thế nào đối với trường hợp những người được chuyển đổi giới tính này ra sao Đặc biệt là trong trường hợp này liên quan tới quyền lợi của họ trong lĩnh vực hôn nhân gia đình
3 Nhóm các quyền liên quan tới thân thể của cá nhân
Trong nhóm quyền liên quan tới thân thể của cá nhân bao gồm: quyền được đảm bảo an toàn về tính mạng, sức khỏe, thân thể (Điều 32), quyền hiến bộ phận cơ thể (Điều 33), Quyền hiến xác,nhận bộ phận cơ thể sau khi chết (Điều34), Quyền nhận bộ phận cơ thể người (Điều 35) Theo đó thì có những quyền thì cá nhân có thể tự mình thực hiện khi cá nhân đó còn sống, có những quyền lại có mối quan hệ với nhau như tại Điều 33 và Điều 35 và có những quyền thì chỉ thực hiện được khi
cá nhân đó không còn sống
Quyền được bảo đảm an toàn về sức khỏe là quyền của cá nhân được chăm sóc
sức khỏe thường xuyên và quyền được khám, chữa bệnh khi đã mắc bệnh Có thể nói đây là quyền có ý nghĩa đặc biệt thiết thực đối với cuộc sống của con người Nhất là trong giai đoạn hiện nay, khi ngày càng xuất hiện nhiều căn bệnh hiểm nghèo, cướp đi sinh mạng của nhiều người trên thế giới Việc bảo đảm quyền này không chỉ cần đến hành động chủ động của của chính bản thân cá nhân đó mà nó còn đòi hỏi sự phối hợp hành động của Nhà nước và toàn xã hội
Bộ luật dân sự 1995 lần đầu tiên quy định những quyền nhân thân của cá nhân trong đó có quyền được bảo đảm an toàn về sức khỏe tại điều 32, BLDS 2005 cũng kế thừa những quy định này Bên cạnh việc thừa nhận nó là một quyền nhân thân, BLDS 2005 còn quy định trách nhiệm dân sự đối với người thực hiện hành vi xâm phạm đến sức khỏe của người khác, đó là việc bồi thường thiệt hại Pháp luật lấy yếu tố chi phí làm căn cứ để xác định thiệt hại Chi phí đó bao gồm chi phí cho việc chữa bệnh, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại, thu nhập thực tế bị giảm sút của người bị thiệt hại… Mức bồi thường do các bên tự thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa không quá 30 tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định (Điều 609 Bộ luật dân sự)
Trang 10 Quyền được bảo đảm an toàn về thân thể của cá nhân là quyền của cá nhân được tự do thân thể và được bảo đảm sự toàn vẹn của thân thể
Bộ luật dân sự 1995 thừa nhận quyền được bảo đảm an toàn về thân thể của
cá nhân tại Điều 32 Trong điều luật, quyền này được thể hiện ở khía cạnh cá nhân
có quyền quyết định về an toàn thân thể khi cho phép hay không cho phép một sự tác động từ bên ngoài vào cơ thể của mình đặc biệt trong việc chữa bệnh theo phương pháp mới hoặc trong việc gây mê, mổ, cắt bỏ, cấy ghép bộ phận cơ thể Theo điều luật trên thì bác sĩ không được phép phẫu thuật nếu không được sự đồng
ý của bệnh nhân, nếu bệnh nhân là người chưa thành niên, mất hay hạn chế năng lực hành vi dân sự thì phải được sự đồng ý của người đại diện, người giám hộ của bệnh nhân.Tuy nhiên trong điều luật này thì cũng phải xét tới tình trạng nguy kịch của bệnh nhân cần phẫu thuật ngay, bác sĩ có thể tiến hành phẫu thuật không cần chờ ý kiến của người thân, người đại diện của bệnh nhân với sự cho phép của người đứng đầu cơ sở chữa bênh
Bộ luật dân sự 2005 ra đời một lần nữa khẳng định tính ổn định của quyền được bảo đảm an toàn về thân thể khi đã kế thừa toàn bộ nội dung quy định trong
bộ luật dân sự 1995 Tuy nhiên, tính khả thi của quyền này được đẩy cao hơn khi
có sự thay đổi về mặt thuật ngữ “người thân thích” trong bộ luật năm 1995 được cụ thể hơn trong bộ luật dân sự 2005 là “ vợ, chồng, con đã thành niên”; sự thay đổi này làm cho điều luật dễ hiểu hơn
Quyền hiến bộ phận và quyền hiến xác, bộ phận sau khi chết là quyền nhân thân của cá nhân thể hiện sự tự định đoạt của họ đối với các bộ phận cơ thể, xác
của mình sau khi chết do vậy cần thiết phải có hành lang pháp lý để điều chỉnh vấn
đề này Và BLDS 2005 ra đời, với quy định mới này đã bổ sung kịp thời cho sự hạn chế và thiếu sót của BLDS 1995 Với tư cách là quyền nhân thân, quyền hiến bộ phận cơ thể mang những đặc điểm chung của quyền nhân thân đó chính là tính cá nhân tuyệt đối, tính không xác định được bằng tiền và không vì mục đích thương mại.Tuy nhiên việc quy định quyền nhân thân mới này trong BLDS 2005 cũng mang những đặc điểm riêng biệt của chúng Khi cá nhân thực hiện quyền này lại không mang lại mục đích cho họ mà lại mang lại lợi ích cho người khác, lợi ích cho toàn xã hội mà mục đích căn bản của quyền này là chữa bệnh nhân đạo cứu người hoặc phục vụ giảng dạy trong các trường hoặc là dùng cho nghiên cứu khoa học Nhưng nó vần được ghi nhận là một quyền nhân thân của cá nhân Ghi nhận quyền này chính là một bảo đảm cho sự tự lựa chọn hành động của mình trong lĩnh vực đặc thù và hết sức nhạy cảm này Vì đây là một vấn đề còn rất mới mẻ ở nước ta, trong thực tế thì phát sinh chưa phổ biến rộng rãi nên BLDS chỉ quy định những