Đối tượng chịu thuế được quy định tại Điều 3 của Luật này, theo đó đối tượng chịu thuế gồm: Hàng hóa, dịch vụ sử dụng cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng ở Việt Nam là đối tượng chịu
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
NỘI DUNG
I Khái niệm pháp luật thuế giá trị gia tăng(GTGT ):
1.Khái niệm về thuế giá trị gia tăng:
Thuế là khoản đóng góp bắt buộc theo luật định không hoàn lại trực tiếp đối với các tổ chức kinh tế và công dân cho Nhà nước
Gía trị gia tăng là khoản giá trị mới tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong quá trình sản xuất, lưu thông tới tiêu dung
Theo quy định tại Điều 2 Luật Thuế giá trị gia tăng năm 2008: “Thuế giá trị
gia tăng (VAT –Value Added Tax) là thuế thu trên phần giá trị tăng thêm của hang hóa dịch vụ phát sinh trong quá trình sản xuất, lưu thông tiêu dung” Như vậy có
nghĩa là loại thuế có đối tượng chịu thuế rất rộng, chỉ đánh trên phần giá trị tăng thêm qua mỗi khâu của quá trình sản xuất kinh doanh và tổng số thuế thu được ở các khâu chính bằng số thuế tính trong giá bán cho người tiêu dùng cuối cùng
2 Đặc điểm:
Thứ nhất, thuế GTGT có đối tượng chịu thuế rất rộng Đối tượng chịu thuế
được quy định tại Điều 3 của Luật này, theo đó đối tượng chịu thuế gồm: Hàng hóa, dịch vụ sử dụng cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng ở Việt Nam là đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng, trừ các đối tượng quy định tại Điều 5 của Luật này Chính vì vậy, mà chủ thể phải nộp thuế GTGT rất rộng, bất kỳ tổ chức, cá nhân nào, không phân biệt giàu hay nghèo Khi các chủ thể này muốn thụ hưởng kết quả sản xuất, kinh doanh thì đều phải chịu thuế GTGT
Thứ hai, thuế GTGT chỉ tính trên phần giá trị tăng thêm của hàng hóa dịch
vụ Từ đó làm cho số thuế áp dụng trong mỗi khâu của quá trình lưu thông không
gây ra những đột biến về giá cả Đây cũng là một trong những cách thức giúp Nhà nước kiểm soát giá cả thị trường
Thứ ba, tổng số thuế phải nộp qua các khâu bằng số thuế cuối cùng tính trên tổng giá trị hàng hóa dịch vụ mà người tiêu dùng phải nộp Đây là đặc điểm
mang tính ưu việt hơn hẳn so với Luật thuế doanh thu trước kia mà nước ta áp dụng
3 Khái niệm pháp luật thuế giá trị gia tăng:
Pháp luật thuế giá trị gia tăng là tổng hợp các quy phạm luật do nhà nước ban hành điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong quá trình đăng ký, kê khai, nộp thuế, quản lý và quyết toán thuế giá trị gia tăng
II Nội dung pháp luật thuế giá trị gia tăng:
1 Chủ thể tham gia quan hệ pháp luật thuế GTGT
a.Đối tượng nộp thuế GTGT
Theo quy định tại Điều 3 Luật Thuế GTGT năm 2008 thì đối tượng chịu thuế
GTGT là “hàng hóa, dịch vụ sử dụng cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng ở Việt
Trang 2Nam” Như vậy, tất cả các hàng hóa, dịch vụ không năm trong diện đặc biệt khuyến
khích tiêu dùng đều nằm trong diện chịu thuế
Điều 4 Luật Thuế GTGT năm 2008 quy định: “ Người nộp thuế giá trị gia tăng
là tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế giá trị gia tăng (sau đây gọi là cơ sở kinh doanh) và tổ chức, cá nhân nhập khẩu hàng hóa chịu thuế giá trị gia tăng (sau đây gọi là người nhập khẩu)”.
Điều 5 Luật Thuế GTGT năm 2008 đã quy định 25 trường hợp hàng hóa, dịch
vụ không thuộc diện chịu thuế GTGT bao gồm một số nhóm ngành hàng, dịch vụ có nhu cầu tiêu dung thiết yếu, hàng đặc biệt phục vụ an ninh quốc phòng,…
b.Cơ quan quản lý, thu thuế GTGT:
Mục 1 phần Đ thông tư số 129/2008/TT-BTC hướng dẫn thi hành luật thuế giá trị gia tăng và Nghị định 123/2008/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một
số điều của luật thuế GTGT quy định:
“1 cơ quan thuế chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện quản lý thu thuế giá trị gia tăng và hoàn thuế GTGT đối với cơ sở kinh doanh,
2 Cơ quan Hải quan chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện quản lý thu thuế GTGT đối với hàng hóa nhập khẩu”.
3.Căn cứ tính thuế GTGT
Tại Điều 7 Luật Thuế GTGT năm 2008 có quy định giá trị thuế GTGT đối với
từng mặt hàng, và đối với hoạt động kinh doanh phổ biến, giá tính thuế dịch vụ, hàng hóa chịu thuế là giá chưa có thuế GTGT đối với hàng hóa dịch vụ đó,Trường hợp, hàng hóa dịch vị thuộc diện chịu thuế tiêu thụ đặc biệt, giá tính thuế GTGT là giá đã có thuế tiêu thụ đặc biệt
Hiện nay, Việt Nam áp dụng ba mức thuế suất GTGT dành cho các nhóm hàng hóa, dịch vụ khác nhau:
- Mức thuế suất 0% được áp dụng đối với hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu không phân biệt đối tượng và hình thức xuất khẩu
- Thuế suất 5% áp dụng đối với hàng hóa, dịch vụ ưu đãi, khuyến khích phát triển, đầu tư Đó là các sản phẩm thiết yếu, sản phẩm công nghiệp nặng hoặc công nghiệp phục vụ nông nghiệp, dịch vụ công cộng
- Mức thuế suất 10% được áp dụng cho hàng hóa, dịch vụ thông thường
4 Phương pháp tính thuế GTGT
Điều 9 Luật thuế GTGT quy định “Phương pháp tính thuế giá trị gia tăng gồm
phương pháp khấu trừ thuế giá trị gia tăng và phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng”
- Phương pháp khấu trừ thuế GTGT áp dụng đối với cơ sở kinh doanh thực
hiện đầy đủ chế độ kế toán, hoá đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật về kế toán, hoá đơn, chứng từ và đăng ký nộp thuế theo phương pháp khấu trừ thuế, trừ các đối tượng áp dụng tính thuế theo phương pháp tính trực tiếp trên GTGT Theo
đó, số thuế GTGT phải nộp sẽ bằng số thuế GTGT đầu ra trừ số thuế GTGT đầu vào được khấu trừ
Trang 3- Phương pháp tính trực tiếp trên GTGT được quy định tại Điều 11 Luật
thuế GTGT, theo đó “Số thuế giá trị gia tăng phải nộp theo phương pháp tính trực
tiếp trên giá trị gia tăng bằng giá trị gia tăng của hàng hóa, dịch vụ bán ra nhân với thuế suất thuế giá trị gia tăng” Điều kiện áp dụng phương pháp này là: Cơ sở kinh
doanh và tổ chức, cá nhân nước ngoài kinh doanh không có cơ sở thường trú tại Việt Nam nhưng có thu nhập phát sinh tại Việt Nam chưa thực hiện đầy đủ chế độ kế toán, hoá đơn, chứng từ; Hoạt động mua bán vàng, bạc, đá quý
5 Quản lý thuế GTGT
a Đăng kí, kê khai và nộp thuế
Điều 21 Luật quản lý thuế năm 2006 quy định mọi tổ chức, cá nhân kinh doanh
đều phải đăng kí thuế
Đối với các chủ thuế kinh doanh thông thường hàng tháng phải kê khai đầy đủ, chính xác thuế GTGT với cơ quan thuế, khong phân biệt có phát sinh nghĩa vụ thuế thức tế trong thắng hay không
Cơ sở kinh doanh, người nhập khẩu có trách nhiện kê khai thuế GTGT cho từng lần nhập khẩu
b Hoá đơn, chứng từ:
Luật thuế GTGT quy định chi tiết về các loại chứng từ, hoá đơn áp dụng cho các đối tượng nộp thuế là:
- Cơ sở kinh doanh nộp thuế theo phương pháp khấu trừ thuế sử dụng hoá đơn GTGT
- Cơ sở kinh doanh nộp thuế theo phương pháp tính trực tiếp trên giá trị tăng sử dụng hoá đơn bán hàng
c Hoàn thuế GTGT:
Hoàn thuế GTGT là việc cơ quan thuế ra quyết định trả lại số tiền thuế GTGT đã nộp vượt quá của chủ thế nộp thuế Các đối tượng được hoàn thuế được quy định tại
Điều 13 Luật thuế GTGT, đó là cơ sở kinh doanh nộp thuế GTGT theo phương
pháp khấu trừ thuế trong ba tháng liên tục trở lên có số thuế GTGT đầu vào chưa được khấu trừ hết;
III Thực tiễn áp dụng pháp luật thuế giá trị gia tăng ở Việt Nam:
1 Những thành tựu đã đạt được:
1.1.Đối với nền kinh tế nói chung:
Theo nghiên cứu và thống kê của Ngân hàng Thế giới (WB) và Quỹ Tiền tệ Quốc
tế (IMF), phần lớn các nước trong đó có Việt Nam, sau khi áp dụng thuế GTGT, giá
cả các loại hàng hóa, dịch vụ đều không thay đổi hay chỉ thay đổi một tỷ lệ không đáng kể, mức sản xuất của các DN, mức tiêu dùng của dân chúng không sút giảm hoặc sút giảm không nhiều Thuế GTGT góp phần ổn định giá cả, mở rộng lưu thông hàng hóa, góp phần thúc đẩy sản xuất và đẩy mạnh xuất khẩu; Qua những năm triển khai và thực hiện, Luật thuế GTGT đã đem lại một số thành tựu đáng kể
Cụ thể là đã góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển, mở rộng lưu thông hàng hoá và đẩy mạnh xuất khẩu Thuế GTGT còn góp phần khuyến khích xuất khẩu và bảo hộ sản xuất trong nước, sắp xếp lại cơ cấu kinh tế
Trang 4Thuế GTGT thu trên giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ ở các khâu sản xuất, lưu thông nên khắc phục được nhược điểm cơ bản của luật thuế doanh thu là thu trùng lặp qua các khâu sản xuất, kinh doanh, tạo sự công bằng hơn về thuế, từ đó góp phần thực hiện hợp tác, lưu thông hàng hóa Điều này đã góp phần tích cực phần vào lấy lại đà tăng trưởng kinh tế với tốc độ cao.Nếu như năm 1999, tăng trưởng kinh tế nằm ở điểm đáy so với các năm trước đó và sau đó, có ý kiến cho rằng nguyên nhân của mức tăng trưởng thấp là do ảnh hưởng của việc áp dụng Luật thuế GTGT làm ảnh hưởng đến người sản xuất và tiêu dùng Thực tế, người ta thấy rằng nguyên nhân chủ yếu của hiện trạng trên là do tác động của cuộc khủng hoảng tiền
tệ khu vực năm 1997-1998 cùng với sự giảm sút của vốn đầu tư nước ngoài Tuy nhiên, những năm đó, nền kinh tế nước ta đã phát triển trở lại đó là minh chứng cho thấy hiệu quả của việc áp dụng thuế GTGT ở Việt Nam Tính chung 6 tháng đầu năm 2010, GDP trong nước tăng 6,16% so với cùng kỳ năm trước Tốc độ tăng GDP
6 tháng đầu năm tuy chưa bằng mục tiêu 6,5% đề ra cho cả năm nhưng là tốc độ tăng khá cao trong điều kiện sản xuất, kinh doanh trong nước còn gặp khó khăn, điều đó cho thấy nền kinh tế nước ta phục hồi rất nhanh và có khả năng đạt mức tăng trưởng cao hơn trong thời gian tới
Ngoài ra, việc áp dụng luật thuế GTGT còn góp phần tạo ra một hành lang pháp
lý thuận lợi cho việc thu hút đầu tư nước ngoài Tốc độ tăng vốn đầu tư theo giá trực tiếp vào Việt Nam liên tục tăng lên trong các năm Năm 1998 là 8,1% đến 1999 sau một năm luật thuế GTGT đi vào thực tiễn tốc độ này đã tăng lên 12% Trong 10 năm gần đây, con số này không ngừng tăng, có thể kể đến trên 124 tỷ USD vốn đăng
ký cấp mới thuộc gần 8,5 nghìn dự án; vốn thực hiện đạt gần 48 tỷ USD; đầu tư từ khu vực FDI chiếm khoảng 25-30% tổng vốn đầu tư toàn xã hội
Đối với nền kinh tế nói chung, tác động của thuế GTGT còn thể hiện thông qua hoạt động xuất nhập khẩu Thuế GTGT hàng nhập khẩu do được tính trên giá mua (đã có thuế nhập khẩu) nên làm cho phần chi trả của DN cao hơn nhiều so với cùng loại hàng mua trong nước Vì vậy thuế GTGT có tác dụng hạn chế nhập khẩu, tích cực bảo hộ sản xuất kinh doanh hàng nội địa Theo quy định hiện hành, đối với hàng hóa nhập khẩu, ngoài thuế nhập khẩu còn phải nộp thêm thuế GTGT, như vậy giá hàng nhập khẩu đã tăng lên Lúc này, các doanh nghiệp không thể nhập hàng hóa một cách ồ ạt, thiếu tính toán, họ sẽ phải cân nhắc, xem xét kĩ càng tính hiệu quả của hàng hóa nhập khẩu, hạn chế nhập khẩu những mặt hàng không cần thiết mà doanh nghiệp trong nước đã sản xuất được hay những mặt hàng có giá nhập khẩu cao mà sức mua trên thị trường nội địa lại thấp
Đối với các doanh nghiệp sản xuất trong nước thì việc đánh thuế GTGT đối với hàng nhập khẩu cũng là cơ hội để tăng sức cạnh tranh của hàng hóa nội địa với hàng nhập khẩu Giá cả của các mặt hàng nhập khẩu cũng sẽ tăng lên tuy nhiên mức độ tăng giá sẽ là mức tối thiểu do sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp nhập khẩu và các doanh nghiệp trong nước Lúc này, giải pháp tốt nhất cho các doanh nghiệp nhập khẩu là cải tiến quá trình sản xuất kinh doanh, tiết kiệm chi phí Tất cả những biểu hiện trên đều xuất phát từ việc áp dụng thuế GTGT Theo luật thuế GTGT hiện hành thì mức thuế suất 0% được áp dụng đối với hầu hết các loại hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu Như vậy, các doanh nghiệp không những không phải nộp thuế GTGT đầu ra
Trang 5mà còn được hoàn thuế GTGT đầu vào Điều này đã khuyến khích hoạt động xuất khẩu rất nhiều Năm 2001 do tình trạng tăng trưởng của thế giới giảm sút mạnh đã làm cho hoạt động xuất khẩu của nước ta cũng bị ảnh hưởng Năm 2004 với tốc độ tăng 28,2% hệ số giữa tốc độ tăng của xuất khẩu so với tốc độ tăng của GDP đạt trên 3,7 lần Đây cũng là hệ số cao nhất so với 3 năm trước đó (năm 2001 là 0,6 lần; năm
2002 là 1,6 lần; năm 2003 là 2,9 lần) và là một trong những nguyên nhân quan trọng làm cho đà tăng trưởng kinh tế cao lên trong mấy năm qua Năm 2008, Việt Nam xuất khẩu được khoảng 64,8 tỷ dollar Mỹ, trong đó khoảng 32,1 % giá trị xuất khẩu
là hàng công nghiệp nặng và khoáng sản, 45,2% là hàng công nghiệp nhẹ và hàng tiểu thủ công nghiệp, 23,5% là hàng nông, lâm, thủy sản
1.2 Đối với thu ngân sách nhà nước.
Thuế GTGT được áp dụng rộng rãi với mọi tổ chức, cá nhân có tiêu dùng sản phẩm hàng hóa hoặc được cung ứng dịch vụ, đã góp phần tạo nguồn thu lớn và tương đối ổn định cho ngân sách nhà nước (NSNN) Thuế GTGT chiếm tỷ trọng lớn nhất trong các sắc thuế – khoảng 20% tổng số thu NSNN Luật thuế GTGT ban hành
là cơ sở pháp lý vững chắc để ổn định nguồn thu từ thuế GTGT vào ngân sách nhà nước, đảm bảo nguồn lực để phát triển kinh tế - xã hội
Mục tiêu khi áp dụng thuế GTGT thay cho thuế doanh thu đó không chỉ nhằm ổn định mà còn phải làm tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước Qua nhiều năm đi vào cuộc sống, cơ bản mục tiêu này đã thu được những mục tiêu đáng ghi nhận: số thu về thuế GTGT không giảm so với thuế doanh thu trước đây(theo số liệu báo cáo của Bộ Tài chính tính toán khi đưa thuế GTGT vào áp dụng thì: số thuế GTGT nhập khẩu tăng 9000 tỷ, bố trí để hoàn thuế cho hàng xuất khẩu là 4000 tỷ, đưa vào ngân sách khoảng 5000 tỷ, trong khi đó thu thuế GTGT nội địa giảm 5000 tỷ; vậy thu thuế GTGT tương đương với thuế doanh thu khi đang hiện hành) Trên thực tế áp dụng thì thuế GTGT thu hàng năm liên tục tăng Tổng số thu cho ngân sách nhà nước từ thuế, phí và lệ phí hàng năm tăng rõ rệt, tỷ trọng thuế GTGT trên tổng số thu từ thuế, phí và lệ phí cũng tăng
Số thuế GTGT được tập trung thu ở khâu sản xuất, nhập khẩu hàng hóa Khi áp dụng thuế GTGT cơ cấu giá hàng nhập khẩu còn có thêm cả phần thuế GTGT đánh vào hàng nhập khẩu Do đó, có thể thấy nguồn thu từ ngân sách nhà nước đối với hàng hóa nhập khẩu bị giảm một khoản là phần GTGT được tạo ra ở nước ngoài nhưng chưa được tính thuế tiêu dùng tại nước nhập khẩu Vì vậy, theo quy định của thuế GTGT đối với hàng nhập khẩu phải tính thêm phần GTGT, lúc này, doanh nghiệp nhập khẩu vừa phải nộp thuế nhập khẩu vừa phải nộp thuế GTGT Những quy định trên không những làm tăng số thu mà còn tập trung nguồn thu cho ngân sách nhà nước, tránh được hiện tượng bỏ sót nguồn thu đặc biệt là đối với một nước
có kim ngạch nhập khẩu lớn như Việt Nam hiện nay
1.3 Đối với việc hệ thống chính sách thuế ở Việt Nam.
Trước đây, với thuế doanh thu, có tới 10 thuế suất dao động từ 1% - 40% được ban hành vào năm 1990 và 58 nhóm thuế suất nếu xét theo ngành nghề Biểu thuế doanh thu năm 1991 còn chi tiết hơn, có tới 16 thuế suất khác nhau từ 0%, 0,5% đến 40% Nếu xét theo ngành nghề hoạt động kinh doanh thì có tới 61 nhóm thuế suất Năm 1993 sau khi bổ sung, chỉnh sửa, thuế doanh thu được chi tiết hóa tới 17 thuế
Trang 6suất khác nhau từ 0%, 0,5% đến 40% Năm 1994, sau khi bổ sung chỉnh sửa, biểu thuế doanh thu có 18 thuế suất khác nhau và 61 nhóm thuế suất nếu xét theo ngành nghề Biểu thuế doanh thu năm 1995 sau khi được bổ sung, chỉnh sửa còn lại 11 thuế suất từ 0%; 0,5% đến 30% và 56 nhóm thuế suất theo ngành nghề Việc quy định nhiều mức thuế suất như trên đã có tác động không tốt cho quá trình phân công lao động xã hội và phân bổ vốn, đồng thời cũng gây khó khăn nhất định cho công tác quản lý thu, nộp thuế, tạo kẽ hở cho việc trốn thuế
Với thuế GTGT, theo Luật thuế GTGT năm 1997, có bốn mức thuế suất được quy định là 0%, 5%, 10% và 20% nhưng đến năm 2008 đã rút gọn lại còn ba mức thuế suất là 0%, 5% và 10% Việc quy định ít mức thuế suất giúp cho việc quản lý của Nhà nước nói chung và ngành Thuế nói riêng đạt được hiệu quả tốt hơn, giảm bớt được các hiện tượng gian lận về thuế
Việc ban hành luật thuế GTGT thay thế thuế doanh thu đã đem lại những lợi ích sau:
Thứ nhất, hạn chế những nhược điểm còn tồn tại của thuế doanh thu và nhằm thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển, đẩy mạnh sản xuất hàng xuất khẩu, kích thích các ngành nghề phát triển
Thứ hai, thuế GTGT được ban hành gắn với việc sửa đổi bổ sung một số sắc thuế khác (thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế nhập khẩu, thuế thu nhập doanh nghiệp ) làm cho hình thức thuế Việt Nam ngày càng hoàn thiện, phù hợp với cơ chế thị trường hơn, tương đồng với hình thức thuế trong khu vực và trên thế giới góp phần tạo ra môi trường tốt cho việc thu hút đầu tư nước ngoài vào Việt Nam
Thứ ba, luật thuế GTGT ra đời còn thúc đẩy việc tăng cường thực hiện chế độ hoá đơn, sổ kế toán và hạch toán kinh tế đối với các nhà doanh nghiệp, đảm bảo số thu ngày càng sát hơn với thực tế hoạt động của từng cơ sở kinh doanh, tập trung được nguồn thu thuế GTGT vào NSNN ngay từ khâu sản xuất, hạn chế được thất thu về thuế
1.4 Cơ chế quản lý thuế.
Luật thuế GTGT góp phần tạo điều kiện cho cơ quan Nhà nước kiểm tra, giám sát hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp, tăng cường công tác hạch toán, kế toán
và thúc đẩy việc mua bán hoá đơn GTGT ở các doanh nghiệp Do yêu cầu của việc
kê khai thuế GTGT, khấu trừ thuế GTGT đầu vào, tính đúng thu nhập của doanh nghiệp nên những người làm công tác quản lý kinh doanh đã bắt đầu trú trọng đến công tác mở sổ kế toán, ghi chép, quản lý và sử dụng hoá đơn chứng từ Thông qua việc chấp hành công tác kế toán, hoá đơn chứng từ của các doanh nghiệp, qua việc
kê khai thuế, hoàn thuế, quyết toán thuế đã giúp cơ quan chức năng và cơ quan thuế từng bước nắm được tình hình kinh doanh của các doanh nghiệp
Khi thuế GTGT được áp dụng tính theo phương pháp khấu trừ, việc khấu trừ thuế được thực hiện căn cứ trên hóa đơn mua vào, điều này thúc đẩy người mua đòi hỏi người bán phải phát hành hóa đơn hợp pháp, khắc phục được tình trạng thông đồng giữa người mua và người bán để trốn lậu thuế Thuế GTGT góp phần thúc đẩy thực hiện tốt chế độ chứng từ trong công tác kế toán với việc phải hoàn thiện đầy đủ các hóa đơn mua, bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ Do yêu cầu của việc kê khai thuế
Trang 7GTGT, khấu trừ thuế GTGT đầu vào, các DN đã rất chú trọng đến công tác kế toán, đặc biệt là kế toán thuế nhằm tăng cường quản lý chặt chẽ về mặt hóa đơn Sự chuyển biến này thể hiện rõ rệt hơn cả trong các DN nhỏ và vừa
Từ năm 2003, nước ta đã bắt đầu áp dụng cơ chế quản lý tự khai, tự nộp thuế Tuy nhiên, do chưa đủ các điều kiện cần thiết nên chưa thể thực hiện một cách đồng bộ,
mà phải thực hiện từng bước một Ngày 23/9/2003, Thủ tướng Chính phủ đã có quyết định số 127/2003/QĐ-TTg về thực hiện thí điểm cơ chế mới đối với doanh nghiệp ở Cục thuế TP Hồ Chí Minh và Cục thuế tỉnh Quảng Ninh bắt đầu từ năm
2004 và mở rộng đối với cục thuế Hà Nội, Bà Rịa-Vũng Tàu trong năm 2005 Qua hơn hai năm thực hiện, đã thu được những kết quả tốt, phát huy tính tự giác chấp hành và tự chịu trách nhiệm của đối tượng nộp thuế Việc thực hiện cơ chế mới đã giúp cho năng lực hiện quả hoạt động của cơ quan thuế được nâng cao Bộ máy tổ chức quản lý thuế được tổ chức chuyên sâu theo chức năng, các nghiệp vụ quy trình quản lý thuế mới được xây dựng và vận hành Các cục thuế đã thực hiện được việc nhận và xử lý nhanh chóng, chính xác các tờ khai thuế, theo dõi được các lỗi kê khai của các đối tượng nộp thuế; trong tháng đầu thực hiện cơ chế mới, số tờ khai lỗi rất lớn chiếm tỷ lệ khoảng 61%, đến kỳ kê khai tháng 5/2005 số tờ khai lỗi đã giảm xuống chỉ còn dưới 10% cho đến nay, cơ chế quản lý tự khai, tự nộp thuế đã được triển khai trên phạm vi toàn quốc
1.5 Các thành tựu khác.
Việc áp dụng thuế GTGT còn thúc đẩy tăng cường quản lý, hạch toán kinh doanh của các doanh nghiệp, nâng cao nhận thức và ý thức tự giác chấp hành luật thuế của các đối tượng nộp thuế; hiện đại hóa công tác quản lý thuế, cải cách hành chính thuế, nâng cao năng lực quản lý thuế
Thứ nhất, thực hiện thuế GTGT với 3 mức thuế suất 0%, 5%, 10%, ít hơn so với
11 mức thuế suất doanh thu trước đây (từ 0,5% đến 30%) đòi hỏi các doanh nghiệp phải tổ chức lại sản xuất kinh doanh, thực hiện hạch toán kinh doanh, tính toán giá thành, giá bán phù hợp với thị trường và nộp được thuế, nâng cao hiệu quả kinh doanh Hầu hết các doanh nghiệp thuộc các ngành như: cơ khí, xây dựng, vận tải trước khi áp dụng luật thuế GTGT còn gặp nhiều khó khăn, kinh doanh không hiệu quả; sau khi áp dụng thuế thì đa số các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh có hiệu quả hơn trước và nộp đủ thuế theo quy định;
Thứ hai, thực hiện luật thuế mới ngành thuế đã thực hiện một bước củng cố tổ chức, hoàn thiện và đổi mới quy trình Trong thời gian qua, ngành thuế đã xây dựng
và ngày một hoàn thiện hệ thống nghiệp vụ quản lý tương đối đơn giản, dễ hiểu, dễ thực hiện, tăng dần tính công khai minh bạch Kiên toàn bộ máy tổ chức ngành thuế dọc từ trung ương đến tỉnh, huyện, thực hiện song trùng lãnh đạo giữa ngành và địa phương Tổ chức bộ máy theo mô hình kết hợp giữa quản lý theo chức năng, theo đối tượng Đào tạo được đội ngũ gần bốn vạn cán bộ thuế có trình độ nghiệp vụ khá,
có phẩm chất đạo đức tốt
2 Những bất cập, hạn chế còn tồn tại:
Chúng ta có thể thấy rằng, qua một thời gian triển khai, áp dụng thuế GTGT, pháp luật thuế GTGT ở nước ta đã đáp ứng cơ bản được các yêu cầu về lý luận của pháp
Trang 8luật cũng như có sự tác động lớn đến đời sống kinh tế - xã hội Tuy nhiên, bên cạnh
đó vẫn còn tồn tại những điểm hạn chế trong các quy định của pháp luật, cụ thể như sau:
2.1.Đối tượng chịu thuế:
Thứ nhất, theo quy định tại Điều 5 Luật Thuế GTGT thì có 25 nhóm hàng hóa,
dịch vụ không thuộc diện chịu thuế GTGT Có thể thấy, diện không chịu thuế như vậy là rộng và số lượng cũng là quá nhiều Trong khi đó, mục tiêu của thuế GTGT là
mở rộng diện chịu thuế và thu hẹp các đầu mối Một số mặt hàng đưa vào diện không phải chịu thuế là chưa hợp lý, còn mâu thuẫn với mục tiêu của các nhà làm luật và các nhà hoạch định chính sách ưu đãi
Ví dụ: đối với các doanh nghiệp sản xuất ra sản phẩm không thuộc diện chịu thuế
GTGT thì giá thành sản phẩm thường cao vì giá này thường bao gồm cả số thuế giá trị gia tăng đã trả khi mua nguyên liệu, máy móc, thiết bị vào (do không có thuế giá trị gia tăng đầu ra để khấu trừ) Ngược lại, đối với các doanh nghiệp sản xuất hàng hóa thuộc diện chịu thuế GTGT nhưng do nguyên liệu đầu vào thuộc diện không chịu thuế GTGT nên được hưởng lợi thế khấu trừ, vì vậy, khi áp dụng thuế GTGT sẽ phải tăng giá bán hoặc giảm giá để đảm bảo nghĩa vụ nộp thuế
Thứ hai, một số hàng hóa, dịch vụ không thuộc diện chịu thuế như “hàng hóa,
dịch vụ của các nhân kinh doanh có mức thu nhập bình quân tháng thấp hơn mức lương tối thiểu chung áp dụng đối với tổ chức, doanh nghiệp trong nước” - khoản
25 Điều 5 được đưa vào luật nhằm thực hiện chính sách xã hội đối với đối tượng là người có thu nhập thấp Tuy nhiên, việc quy định như vậy là không rõ căn cứ, rất khó xác định đâu là hàng hóa, dịch vụ của cá nhân có thu nhập thấp, cá nhân có thu nhập cao
Thứ ba, việc quy định đối tượng không thuộc diện chịu thuế quy định tại khoản
23 Điều 5: “sản phẩm xuất khẩu là tài nguyên, khoáng sản khai thác chưa chế biến
theo quy định của Chính phủ” còn nhiều bất cập, bởi lẽ, đây là loại sản phẩm đặc
thù, chịu sự điều chỉnh của luật chuyên ngành – luật khoáng sản Nếu nghị định của Chính phủ không theo quy định của luật này, có cách hướng dẫn khác, thì theo nguyên tắc áp dụng luật vẫn phải theo quy định của luật khoáng sản Nếu nghị định theo quy định của luật khoáng sản thì khi luật này sửa đổi, nghị định cũng phải sửa theo Việc luật thuế GTGT không quy định cụ thể về vấn đề trên mà lại trao thẩm quyền cho Chính phủ hướng dẫn sẽ dẫn tới tình trạng bất lợi về hiệu lực áp dụng, gây ra sự chậm trễ trong áp dụng pháp luật, ảnh hưởng tới quyền lợi của các chủ thể trong quan hệ thuế GTGT
2.2.Về thuế suất:
Hiện nay, luật thuế GTGT áp dụng các mức thuế suất là 0%, 5% và 10% Việc cùng lúc áp dụng nhiều mức thuế suất đã tạo ra sự không công bằng giữa hàng hóa, dịch vụ thuộc các mức thuế suất khác nhau Hơn nữa, việc quy định này lại dựa trên công dụng của hàng hóa hoặc nguyên vật liệu trong kết cấu nên rất khó xác định được hàng hóa chịu mức thuế suất là bao nhiêu (5% hay 10%)
Ví dụ: theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 8 Luật thuế GTGT quy định: thức
ăn gia súc, gia cầm và thức ăn cho vật nuôi khác thuộc diện áp dụng thuế suất 5%
Trang 9Thực tế, có những sản phẩm vừa sử dụng với mục đích làm thực phẩm cho con người, vừa làm thức ăn cho gia súc như ngô mảnh, sắn mảnh… thì áp dụng thuế suất
là bao nhiêu? (5% hay 10%) Điều này cho thấy, xét về hiệu quả quản lý và cả về mặt lý luận thì xu hướng chuyển dần sang áp dụng một mức thuế suất là phù hợp và cần thiết, hạn chế được những cách hiểu và vận dụng không thống nhất, gây bất bình đẳng
Ngoài ra, hiện nay việc xây dựng tiêu chí cơ bản nhằm xác định khi nào thì dịch
vụ xuất khẩu được hưởng mức thuế suất GTGT 0% là chưa rõ ràng, do đó, gây không ít khó khăn cho doanh nghiệp trong việc muốn hưởng lợi ích từ quy định này
Vì vậy, về thuế suất 0% đối với dịch vụ cần phải có quy định cụ thể trong luật thuế GTGT, bởi lẽ, việc xuất khẩu dịch vụ là khó kiểm soát, có thể lợi dụng để được hoàn thuế đầu vào khống, làm thất thu ngân sách nhà nước
2.3.Phương pháp tính thuế:
Hiện nay, có ý kiến cho rằng áp dụng hai phương pháp tính thuế không đảm bảo công bằng giữa các đối tượng nộp thuế Bởi lẽ, khi áp dụng nhiều phương pháp như quy định hiện hành sẽ dẫn đến sự không thống nhất về giá tính thuế Đối với phương pháp khấu trừ thì giá là giá chưa có thuế GTGT còn phương pháp trực tiếp là giá đã
có thuế GTGT, điều này làm cho tính liên hoàn của thuế GTGT bị đứt đoạn, không công bằng giữa địa bàn tỉnh Do quy định Cục thuế tỉnh xác định tỷ lệ % GTGT tính trên doanh thu làm căn cứ tính thuế, dẫn đến mỗi tỉnh ban hành một biểu tỷ lệ thuế suất riêng không thống nhất trong cả nước Điều này làm mất đi ý nghĩa của thuế GTGT vì đối tượng nộp thuế trong trường hợp này không quan tâm đến tỷ lệ GTGT trên doanh thu mà họ chỉ quan tâm đến doanh thu và số thuế phải nộp
Ngoài ra, tính thuế theo phương pháp trực tiếp không khắc phục được hiện tượng trùng thuế Theo công thức của phương pháp trực tiếp thì giá bán và giá vốn của hàng hoá đều đã là giá có thuế GTGT, trong trường hợp nếu doanh số bán ra lớn hơn giá vốn (thường phổ biến) thì phần chênh lệch đã bị đánh trùng thuế
2.4.Chế độ hoá đơn, chứng từ:
Đặc điểm của luật thuế GTGT là tăng cương hạch toán kinh tế và thực hiện chặt chẽ nguyên tắc dựa vào hoá đơn mua hàng để khấu trừ số thuế GTGT đã nộp ở khâu trước Tuy nhiên, hiện nay việc mua bán ở nước ta được thanh toán chủ yếu bằng tiền mặt, một số lượng lớn các giao dịch không cần tới hoá đơn nên những khó khắn khi áp dụng thuế GTGT là điều khó tránh khỏi Trong bối cảnh đó, luật thuế GTGT lại quy định quá nhiều loại hoá đơn Các hoá đơn đều có tính pháp lý như nhau do Luật thuế quy định Nhưng điểm đáng chú ý là việc khấu trừ thuế lại khác nhau, chỉ
có hoá đơn GTGT hoặc hoá đơn đặc tại các đơn vị nộp thuế theo phương pháp khấu trừ mới được khấu trừ thuế theo quy định
Chính phủ đã ban hành rất nhiều quy định về hoá đơn, chứng từ như Nghị định 89/2002/NĐ – CP quy định về việc in, phát hành, quản lý hoá đơn nhưng vẫn nảy sinh hiện tượng lợi dụng trong mua bán, sử dụng hoá đơn bất hợp pháp để khai man thuế GTGT đầu vào để khấu trừ hoặc gian lận trong hoàn thuế
2.5 Cơ chế quản lý và công tác thực hiện cơ chế quản lý của các cơ quan thuế:
Trang 10- Cơ chế quản lý: hệ thống cơ quán hành thu còn quá cồng kềnh, số lượng cán
bộ thuế nhiều mà tỷ lệ thanh tra thuế lại không đáng kể…các khâu hành thu phức tạp, một số trường hợp còn xảy ra hiện tượng chồng chéo Khi áp dụng cơ chế hành thu tự khai, tự nốp do các điều kiện cần thiết chưa xuất hiện một cách đồng bộ nên vẫn xảy ra hiện tượng trốn lậu gây thất thoát thuế Công tác quản lý mặc dù đã đạt được một số thành tựu nhưng vẫn còn tồn tại nhiều bất cấp trên các lĩnh vực từ thể chế đến cách thức quản lý vì quản lý thuế hầu hết dựa trên kinh nghiệm, chưa khoá học, hợp lý
- Bộ máy tổ chức ngành thuế: hiện nay bộ máy quản lý thuế của nước ta được
tổ chức theo ngành dọc từ Trung ương đến cấp huyện Hệ thống này của nước ta được phân chia theo sắc thuế lại vừa theo đối tượng nộp thuế Một cán bộ thuế phải đảm nhiệm nhiều chức năng từ thông báo thuế, thu thuế, kiểm tra thuế do đó không
có điều kiện chuyên sâu và một nghiệp vụ nhất định, trình độ của một số cán bộ còn thấp do đo không đáp ứng được yêu cầu của công việc Bên cạnh đó, vẫn còn tồn tại một số bất cập trong quản lý và tổ chức như: chức năng, nhiệm vụ điều tra khởi tố, cưỡng chế thu nợ thuế chưa đủ cơ sở pháp lý…công tác tổ chức cán bộ còn nhiều khiếm khuyết, chưa rõ ràng và thiếu nhất quán Công tác quy hoạch, luân chuyển cán bộ còn hạn chế Do truyền thống thanh toán trong giao dịch chủ yếu là tiền mặt nên đã hạn chế rất nhiều đối với cơ quan thuế trong việc kiểm soát hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Sự thống nhất trong hoạt động giữa các cơ quan chức năng còn chưa cao, một số còn chưa nhiệt tình trong việc cung cấp các thông tin để cơ quan thuế tổng hợp nhằm đưa ra những giải pháp bổ sung kịp thời cho các sắc thuế
3 Nguyên nhân của những hạn chế:
IV Một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật:
Trong điều kiện hội nhập kinh tế, thuế Giá trị gia tăng càng có vai trò trong việc
bù đắp các khoản hụt thu do các điều kiện của hội nhập yêu cầu Chính vì vậy, nhóm
em xin đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật như sau:
Thứ nhất, đổi mới cơ chế chính sách thuế GTGT
Nhìn chung, hệ thống cơ chế chính sách thuế GTGT hiện hành là tương đối đầy
đủ, ngày càng phù hợp với tình hình thực tế của VN và phần nào phù hợp với thông
lệ quốc tế Tuy nhiên, để đạt được mục tiêu yêu cầu và xu hướng hoàn thiện, kiến nghị cần thiết phải đổi mới chính sách thuế GTGT ở nước ta như sau:
Về phạm vi, đối tượng chịu thuế:
Ở nước ta, Luật thuế GTGT hiện hành việc quy định đối tượng không chịu thuế
và chịu thuế cần phải có những văn bản hướng dẫn cụ thể và rõ ràng hơn nữa, và mang tính khoa học chính xác Do đó, trong thời gian tới, việc điều chỉnh đối tượng chịu thuế, đối tượng không chịu thuế là thật sự cần thiết với đà phát triển và hội nhập kinh tế quốc tế như hiện nay
- Xây dựng mức ngưỡng thuế trên doanh thu thay cho ngưỡng miễn thuế tính theo thu nhập tối thiểu hiện hành đối với các hộ, cá nhân kinh doanh nhỏ Mục tiêu là đảm bảo phù hợp với thông lệ quốc tế và nâng cao hiệu quả quản lý thu