Vai trò của thuế tiêu thụ đặc biệt Thứ nhất, thuế tiêu thụ đặc biệt là một trong những công cụ giúp Nhà nước thực hiện chính sách quản lý đối với các cơ sở kinh doanh và nhập khẩu hàng
Trang 1A LỜI MỞ ĐẦU
Thuế tiêu thụ đặc biệt là loại thuế gián thu, Luật thuế tiêu thụ đặc biệt được chính thức ban hành ở nước ta từ năm 1990, sau đó trải qua nhiều lần sửa đổi, bổ sung để phù hợp với tiến trình phát triển của xã hội Thông qua đó, giúp chúng ta nhận thấy nhiều ưu điểm và hạn chế trong việc áp dụng các quy định của luật thuế tiêu thụ đặc biệt vào thực tiễn cuộc sống Vậy trong quá trình áp dụng, những quy định đó bộc lộ những ưu điểm
và hạn chế gì, thái độ của người dân đối với những quy định đó ra sao, hiệu quả áp dụng ở mức độ nào cũng như hướng hoàn thiện ra sao…? Để giải quyết những thắc mắc
đó, nhóm chúng em xin nghiên cứu đề tài: “Thực tiễn áp dụng pháp luật thuế tiêu thụ đặc biệt và ý kiến pháp lý của nhóm nhằm khắc phục’ với hy vọng giúp mọi người
thấy được, hiểu được bức tranh toàn cảnh về thuế tiêu thụ đặc biệt dưới góc độ thực tiễn!
B NỘI DUNG
I KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THUẾ TIÊU THỤ ĐẶC BIỆT
1 Khái niệm thuế tiêu thụ đặc biệt
Định nghĩa thuế tiêu thụ đặc biệt
Thuế tiêu thụ đặc biệt là loại thuế gián thu đánh vào một số hàng hóa dịch vu đặc biệt, cần điều tiết mạnh nhằm định hướng sản xuất và tiêu dùng đồng thời tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước.
Đặc điểm của thuế tiêu thụ đặc biệt
Thuế tiêu thụ đặc biệt có những đặc điểm chung của thuế như: là khoản thu nộp bắt buộc vào ngân sách nhà nước; gắn với yếu tố quyền lực; không mang tính đối giá, không mang tính hoàn trả trực tiếp Ngoài ra, thuế tiêu thụ đặc biệt còn có những đặc điểm riêng sau:
Thứ nhất, thuế TTĐB là loại thuế gián thu, bởi vì nộp thuế là nhà sản xuất, nhà nhập khẩu, nhà cung ứng dịch vụ thuộc đối tượng chịu thuế nhưng người chịu thuế lại
là khách hành – người tiêu dùng Người sản xuất, nhà nhập khẩu, nhà cung ứng dịch vụ nộp thuế cho cơ quan nhà nước nhưng họ sẽ tính số tiền thuế đó vào giá cả của hàng hóa bán ra và chính người mua hàng mới là người gánh chịu số tiền thuế đó
Thứ hai, thuế tiêu thụ đặc biệt có diện đánh thuế hẹp Đối tượng chịu thuế không bao quát hầu hết các mặt hàng và dịch vụ được tiêu thụ trong nền kinh tế mà chỉ tập trung điều tiết một số mặt hàng, dịch vụ nhất định, không được nhà nước khuyến khích tiêu dùng Đó là những loại hàng hóa, dịch vụ có giá bán cao, một số loại có hại cho sức khỏe như thuốc lá, rượu hay có hại cho môi trường như xăng dầu
Thứ ba, thuế suất của thuế tiêu thụ đặc biệt thường cao hơn so với các loại thuế gián thu khác Thuế suất cao nhằm thực hiện vai trò điều tiết mạnh sản xuất và hướng dẫn tiêu dùng hợp lí thông qua đó tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước
Trang 2Thứ tư, thuế tiêu thụ đặc biệt thường chỉ được thu một lần ở khâu sản xuất hoặc nhập khẩu Cùng một mặt hàng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt, khi luân chuyển qua khâu lưu thông sẽ không bị đánh thuế tiêu thụ đặc biệt Đây là đặc điểm khác với thuế giá trị gia tăng khi thuế giá trị gia tăng đánh trên giá trị tăng thêm của hàng hóa ở mỗi khâu trong lưu thông
2 Vai trò của thuế tiêu thụ đặc biệt
Thứ nhất, thuế tiêu thụ đặc biệt là một trong những công cụ giúp Nhà nước thực hiện chính sách quản lý đối với các cơ sở kinh doanh và nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ; góp phần thúc đẩy sản xuất, kinh doanh đối với một số hành hóa, dịch vụ
Thứ hai, thuế tiêu thụ đặc biệt là một trong những công cụ kinh tế để Nhà nước điều tiết thu nhập của các tầng lớp dân cư có thu nhập cao, hướng dẫn tiêu dùng hợp lí Thứ ba, thuế tiêu thụ đặc biệt là công cụ quan trọng được sử dụng nhằm ổn định
và tăng cường nguồn thu cho ngân sách nhà nước
II KHÁI QUÁT NỘI DUNG PHÁP LUẬT THUẾ TIÊU THỤ ĐẶC BIỆT
Các nội dung cơ bản của pháp luật thuế tiêu thu đặc biệt được quy định tại Luật thuế tiêu thụ đặc biệt năm 2008; Nghị định số 26/2009/NĐ-CP Quy định chi tiết hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thuế tiêu thụ đặc biệt; Nghị định số 113/2011/NĐ-CP Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 26/2009/NĐ-CP của chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật thuế tiêu thụ đặc biệt; Thông tư 05/2011/TT-BTC Hướng dẫn thi hành Nghị định số 26/2009/NĐ-CP ngày 16 tháng 3 năm 2009 và Nghị định số 113 /2011/NĐ-CP ngày 8 tháng 12 năm 2011 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 26/2009/NĐ-CP ngày 16 tháng 3 năm 2009 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật thuế tiêu thụ đặc biệt Có thể tóm tắt một số nội dung
cơ bản như sau:
1 Đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt
Theo Điều 2 Luật thuế tiêu thụ đặc biệt, Điều 2 Nghị định số 26/2009/NĐ-CP, Điều 2 Thông tư 05/2012/TT-BTC thì đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt được chia làm 2 nhóm là hàng hóa và dịch vụ
- Nhóm hàng hóa bao gồm 10 loại hàng hóa sau:
+ Thuốc lá điếu, xì gà và chế phẩm khác từ cây thuốc lá dùng để hút, hít, nhai, ngửi, ngậm
+ Rượu
+ Bia
+ Xe ô tô dưới 24 chỗ, kể cả xe ô tô vừa chở người, vừa chở hàng loại có từ hai hàng ghế trở lên, có thiết kế vách ngăn cố định giữa khoang chở người và khoang chở hàng
Trang 3+ Xe mô tô hai bánh, xe mô tô ba bánh có dung tích xi lanh trên 125cm3
+ Tàu bay, du thuyền (loại sử sụng cho mục đích dân dụng)
+ Xăng các loại, nap-ta (naphtha), chế phẩm tái hợp (reformade component) và các chế phẩm khác để pha chế xăng bao gồm cả condensate Tuy nhiên không bao gồm nap-ta (naphtha), condensate, chế phẩm tái hợp (reformade component) và các chế phẩm khác dùng làm nguyên liệu để sản xuất sản phẩm (trừ sản xuất xăng) do cơ sở kinh doanh trực tiếp nhập khẩu hoặc mua trực tiếp của cơ sở sản xuất bán ra Bộ Tài chính hướng dẫn hồ sơ, thủ tục để xác định đối tượng không chịu thuế quy định tại điểm này
+ Điều hoà nhiệt độ công suất từ 90.000 BTU trở xuống Trường hợp cơ sở sản xuất bán hoặc cơ sở nhập khẩu nhập tách riêng từng bộ phận là cục nóng hoặc cục lạnh thì hàng hóa bán ra hoặc nhập khẩu (cục nóng, cục lạnh) vẫn thuộc đối tượng chịu thuế TTĐB như đối với sản phẩm hoàn chỉnh (máy điều hòa nhiệt độ hoàn chỉnh)
+ Bài lá
+ Vàng mã, hàng mã (không bao gồm hàng mã là đồ chơi trẻ em, đồ dùng dạy học
và dùng để trang trí)
- Nhóm dịch vụ bao gồm 6 loại hình dịch vụ sau:
+ Kinh doanh vũ trường
+ Kinh doanh mát-xa (massage), ka-ra-ô-kê (karaoke)
+ Kinh doanh ca-si-nô (casino); trò chơi điện tử có thưởng bao gồm trò chơi bằng máy giắc-pót (jackpot), máy sờ-lot (slot) và các loại máy tương tự
+ Kinh doanh đặt cược bao gồm: đặt cược thể thao, giải trí và các hình thức đặt cược khác theo quy định của pháp luật
+ Kinh doanh gôn (golf) bao gồm bán thẻ hội viên, vé chơi gôn
+ Kinh doanh xổ số
2 Đối tượng không chịu thuế tiêu thụ đặc biệt
Hàng hóa thuộc các đối tượng chịu thuế trên sẽ không thuộc diện chịu thuế tiêu thụ đặc biệt trong các trường hợp sau:
- Hàng hóa do cơ sở sản xuất, gia công trực tiếp xuất khẩu hoặc bán, ủy thác cho
cơ sở kinh doanh khác để xuất khẩu;
- Hàng hóa nhập khẩu bao gồm:
Trang 4+ Hàng viện trợ nhân đạo, viện trợ không hoàn lại; quà tặng cho cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân, quà biếu, quà tặng cho cá nhân tại Việt Nam theo mức quy định của Chính phủ;
+ Hàng hóa vận chuyển quá cảnh hoặc mượn đường qua cửa khẩu, biên giới Việt Nam, hàng hóa chuyển khẩu theo quy định của Chính phủ;
+ Hàng tạm nhập khẩu, tái xuất khẩu và tạm xuất khẩu, tái nhập khẩu không phải nộp thuế nhập khẩu, thuế xuất khẩu trong thời hạn theo quy định của pháp luật về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu;
+ Đồ dùng của tổ chức, cá nhân nước ngoài theo tiêu chuẩn miễn trừ ngoại giao; hàng mang theo người trong tiêu chuẩn hành lý miễn thuế; hàng nhập khẩu để bán miễn thuế theo quy định của pháp luật;
- Tàu bay, du thuyền sử dụng cho mục đích kinh doanh vận chuyển hàng hoá, hành khách, khách du lịch;
- Xe ô tô cứu thương; xe ô tô chở phạm nhân; xe ô tô tang lễ; xe ô tô thiết kế vừa
có chỗ ngồi, vừa có chỗ đứng chở được từ 24 người trở lên; xe ô tô chạy trong khu vui chơi, giải trí, thể thao không đăng ký lưu hành và không tham gia giao thông;
- Hàng hoá nhập khẩu từ nước ngoài vào khu phi thuế quan, hàng hoá từ nội địa bán vào khu phi thuế quan và chỉ sử dụng trong khu phi thuế quan, hàng hoá được mua bán giữa các khu phi thuế quan với nhau, trừ xe ô tô chở người dưới 24 chỗ.
3 Người nộp thuế tiêu thụ đặc biệt
Người nộp thuế tiêu thụ đặc biệt là tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu hàng hóa
và kinh doanh dịch vụ thuộc đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt
Trường hợp tổ chức, cá nhân có hoạt động kinh doanh xuất khẩu mua hàng hoá thuộc diện chịu thuế tiêu thụ đặc biệt của cơ sở sản xuất để xuất khẩu nhưng không xuất khẩu mà tiêu thụ trong nước thì tổ chức, cá nhân có hoạt động kinh doanh xuất khẩu là người nộp thuế tiêu thụ đặc biệt (Điều 4 Luật thuế TTĐB năm 2008)
4 Căn cứ tính thuế tiêu thụ đặc biệt
Căn cứ tính thuế tiêu thụ đặc biệt là giá tính thuế của hàng hóa, dịch vụ chịu thuế
và thuế suất Số thuế tiêu thụ đặc biệt bằng giá tính thuế tiêu thu đặc biệt nhân với thuế suất thuế tiêu thụ đặc biệt (điều 5 Luật thuế tiêu thụ đặc biệt)
Giá tính thuế
Trang 5Giá tính thuế thuế tiêu thụ đặc biệt đối với hàng hoá, dịch vụ là giá bán ra, giá cung ứng dịch vụ chưa có thuế tiêu thụ đặc biệt và chưa có thuế giá trị gia tăng Cụ thể như sau:
-Đối với hàng hóa sản xuất trong nước là giá do cơ sở sản xuất bán ra:
Giá tính
thuế tiêu
thụ đặc biệt
= Giá bán chưa có thuế giá trị gia tăng - Thuế bảo vệ môi trường (nếu có)
1 + Thuế suất thuế tiêu thụ đặc biệt Trong đó, giá bán chưa có thuế giá trị gia tăng được xác định theo quy định của pháp luật về thuế giá trị gia tăng, thuế bảo vệ môi trường xác định theo pháp luật về thuế bảo vệ môi trường
-Đối với hàng hóa nhập khẩu:
Giá tính thuế tiêu thụ đặc biệt = Giá tính thuế nhập khẩu + Thuế nhập khẩu
(Giá tính thuế nhập khẩu được xác định theo các quy định của pháp luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu Trường hợp hàng hóa nhập khẩu được miễn, giảm thuế nhập khẩu thì giá tính thuế không bao gồm số thu nh p kh u ế ậ ẩ đượ c mi n, gi m) ễ ả
- Đối với hàng hóa gia công là giá tính thuế của hàng hóa bán ra của cơ sở giao gia công hoặc giá bán của sản phẩm cùng loại hoặc tương đương tại cùng thời điểm bán hàng
- Đố ớ à i v i h ng hóa bán theo ph ươ ng th c tr góp, tr ch m l giá bán theo ph ứ ả ả ậ à ươ ng th c bán ứ
tr ti n m t l n c a h ng hóa ó không bao g m kho n lãi tr góp, lãi tr ch m ả ề ộ ầ ủ à đ ồ ả ả ả ậ
- Đối với dịch vụ là giá cung ứng dịch vụ của cơ sở kinh doanh Giá cung ứng dịch vụ đối với một số trường hợp được quy định như sau:
+ Đối với kinh doanh gôn là giá bán thẻ hội viên, giá bán vé chơi gôn bao gồm cả tiền phí chơi gôn và tiền ký quỹ (nếu có) Trường hợp có kinh doanh các loại hàng hóa, dịch vụ khác không thuộc đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt thì các hàng hóa, dịch vụ
đó không phải chịu thuế tiêu thụ đặc biệt
+ Đối với kinh doanh ca-si-nô, trò chơi điện tử có thưởng, kinh doanh đặt cược là doanh thu từ hoạt động này trừ số tiền đã trả thưởng cho khách;
+ Đố ớ i v i kinh doanh v tr ũ ườ ng, mát-xa, ka-ra-ô-kê l doanh thu c a các ho t à ủ ạ độ ng kinh doanh trong v tr ũ ườ ng, c s kinh doanh mát-xa, ka-ra-ô-kê ơ ở bao gồm cả doanh thu của dịch vụ
ăn uống và các dịch vụ khác đi kèm
+ Đối với kinh doanh xổ số giá tính thuế tiêu thụ đặc biệt là doanh thu bán vé các loại hình xổ số được phép kinh doanh theo quy định của pháp luật
Trang 6-Đối với hàng hóa, dịch vụ dùng để trao đổi hoặc tiêu dùng nội bộ, biếu, tặng cho
là giá tính thuế tiêu thụ đặc biệt của hàng hóa, dịch vụ cùng loại hoặc tương đương tại thời điểm phát sinh các hoạt động này
Giá tính thuế tiêu thụ đặc biệt đối với hàng hóa, dịch vụ bao gồm cả khoản thu thêm, được thu (nếu có) mà cơ sở kinh doanh được hưởng
Giá tính thuế được tính bằng Đồng Việt Nam Trường hợp người nộp thuế có doanh thu bằng ngoại tệ thì phải quy đổi ngoại tệ ra Đồng Việt Nam theo tỷ giá giao dịch bình quân trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng do Ngân hàng nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm phát sinh doanh thu để xác định giá tính thuế
Thuế suất
Theo biểu thuế hiện hành, thuế suất thuế tiêu thụ đặc biệt là ‘thuế suất tỉ lệ’ gồm
nhiều bậc, áp dụng cho từng nhóm mặt hàng, dịch vụ chịu thuế, với mức thuế cao nhất là 70% (áp dụng đối với mặt hàng vàng mã, hàng mã) và thấp nhất là 10% Thuế suất 10% được áp dụng với các mặt hàng như: ô tô chạy bằng điện vừa chở người vừa chở hàng; xăng các loại và các chế phẩm khác từ xăng; điều hòa nhiệt độ có công suất từ 90.000 BTU trở xuống
Nhìn một cách tông thể thì biểu thuế hiện hành không phân biệt xuất xứ của hàng hóa (bất kể là hàng hóa sản xuất trong nước hay nhập khẩu) và biểu thuế còn phản ánh rõ chính sách định hướng tiêu dùng của Nhà nước Điều đó thể hiện ở thuế suất cao áp dụng đối với các mặt hàng và dịch vụ không thực sự cần thiết cho đời sống, cần hạn chế tiêu dùng hay loại hình dịch vụ nhạy cảm
5 Hoàn thuế, khấu trừ thuế, giảm thuế tiêu thụ đặc biệt
Hoàn thuế
Người nộp thuế tiêu thụ đặc biệt được hoàn thuế đã nộp trong các trường hợp sau:
- Hàng tạm nhập khẩu, tái xuất khẩu (chỉ thực hiện đối với hàng hoá thực tế xuất khẩu)
- Hàng hóa là nguyên liệu nhập khẩu để sản xuất, gia công hàng xuất khẩu (chỉ thực hiện đối với hàng hoá thực tế xuất khẩu)
- Quyết toán thuế khi sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, giải thể, phá sản, chuyển đổi
sở hữu, chuyển đổi doanh nghiệp, chấm dứt hoạt động có số thuế nộp thừa
- Có quyết định hoàn thuế của cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật
và trường hợp hoàn thuế tiêu thụ đặc biệt theo điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên
Khấu trừ thuế
Trang 7Người nộp thuế sản xuất hàng hóa thuộc đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt bằng các nguyên liệu chịu thuế tiêu thụ đặc biệt được khấu trừ số thuế tiêu thụ đặc biệt
đã nộp đối với nguyên liệu nhập khẩu hoặc đã trả đối với nguyên liệu mua trực tiếp từ
cơ sở sản xuất trong nước khi xác định số thuế tiêu thụ đặc biệt phải nộp Số thuế tiêu thụ đặc biệt được khấu trừ tương ứng với số thuế tiêu thụ đặc biệt của nguyên liệu đã sử dụng để sản xuất hàng hóa bán ra Bộ Tài chính hướng dẫn cụ thể việc khấu trừ thuế tiêu thụ đặc biệt đã nộp đối với nguyên liệu mua trực tiếp từ cơ sở sản xuất trong nước
Việc khấu trừ tiền thuế tiêu thụ đặc biệt được thực hiện khi kê khai nộp thuế tiêu thụ đặc biệt
Giảm thuế
Người nộp thuế sản xuất hàng hoá thuộc diện chịu thuế tiêu thụ đặc biệt gặp khó khăn do thiên tai, tai nạn bất ngờ được giảm thuế Mức giảm thuế được xác định trên cơ
sở tổn thất thực tế do thiên tai, tai nạn bất ngờ gây ra nhưng không quá 30% số thuế phải nộp của năm xảy ra thiệt hại và không vượt quá giá trị tài sản bị thiệt hại sau khi được bồi thường (nếu có).
6 Quản lý, thu, nộp thuế tiêu thụ đặc biệt
Việc quản lý, thu, nộp thuế TTĐB được thực hiện theo quy định của pháp luật thuế TTĐB nói riêng và Luật quản lý thuế nói chung với các quy định như đăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế; quản lý hóa đơn, chứng từ; thủ tục hoàn thuế, khấu trừ thuế, giảm thuế…trong Luật quản lý thuế năm 2006 và các văn bản hướng dẫn thi hành
III THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT THUẾ TIÊU THỤ ĐẶC BIỆT
1 Những mặt tích cực của pháp luật thuế tiêu thụ đặc biệt đã được ‘hiện thực hóa’ trong thực tiễn xã hội
Về cơ bản, pháp luật thuế TTĐB khi được áp dụng vào cuộc sống đã đạt được mục tiêu đặt ra là hướng dẫn sản xuất, tiêu dùng của xã hội, điều tiết thu nhập của người tiêu dùng một cách hợp lý; tăng cường quản lý sản xuất, kinh doanh đối với một số hàng hoá và dịch vụ Thuế suất cao áp dụng đối với nhiều mặt hàng như thuốc lá, rượu, bia, ôtô du lịch, kinh doanh vũ trường, không chỉ nhằm mục tiêu động viên nguồn thu cho NSNN mà còn thực hiện vai trò định hướng tiêu dùng Chính sách miễn, giảm thuế TTĐB được công bố trước theo lộ trình giảm dần bảo hộ đối với doanh nghiệp sản xuất bia hơi; sản xuất, lắp ráp ôtô trong nước, tạo điều kiện thuận lợi cho việc sắp xếp lại sản xuất, kinh doanh trong nước và cùng với thuế nhập khẩu đã góp phần vào việc hình thành nên một ngành công nghiệp mới Cụ thể như sau:
Thứ nhất, Thuế TTĐB đã góp phần hướng dẫn tiêu dùng xã hội
Trang 8Kể từ khi áp dụng, thuế TTĐB đã phát huy vai trò góp phần hướng dẫn tiêu dùng
xã hội Pháp luật về thuế TTĐB quy định đối tượng hàng hoá và dịch vụ chịu thuế chủ yếu là những loại mà Nhà nước không khuyến khích tiêu dùng (thuốc lá, rượu, bia ) hoặc việc tiêu dùng được tập trung vào những bộ phận có thu nhập cao (như ô tô, chơi golf ) hay những dịch vụ mang tính nhạy cảm về mặt xã hội (kinh doanh vũ trường, mát xa, karaoke, casino ) Quy định này là phù hợp với thông lệ quốc tế, góp phần tích cực trong việc hình thành một xu thế tiêu dùng xã hội lành mạnh; Khuyến khích sản xuất và tiêu dùng các mặt hàng phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh kinh tế của đất nước trong từng giai đoạn
Đối với mặt hàng ô tô, mô tô có dung tích xilanh lớn, ngoài việc điều tiết thu nhập của những người có thu nhập cao thì thuế TTĐB cũng có tác dụng trong việc góp phần hạn chế sử dụng xe du lịch, xe cá nhân trong điều kiện cơ sở hạ tầng giao thông của ta còn yếu kém, chưa theo kịp với tốc độ gia tăng các phương tiện giao thông; đồng thời góp phần giảm thiểu được lượng khí thải độc hại của ô tô, mô tô thải ra môi trường giúp hạn chế được phần nào tình trạng ô nhiễm môi trường đang trở nên nhức nhối hiện nay
Thứ hai, Thuế TTĐB góp phần vào việc hội nhập kinh tế quốc tế
Để thực hiện các cam kết hội nhập, việc quy định lộ trình từng bước tăng thuế đối với một số mặt hàng như ô tô sản xuất lắp ráp trong nước (2004-2005), thuốc lá, bia hơi (2006-2007) có ý nghĩa quan trọng đối với sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Một mặt, bảo đảm thực hiện nguyên tắc không phân biệt đối xử giữa hàng sản xuất trong nước với hàng nhập khẩu theo đúng các nguyên tắc của WTO Mặt khác, đã hạn chế những tác động tiêu cực đến hoạt động sản xuất kinh doanh mặt hàng thuốc lá, bia hơi khi phải thực hiện các cam kết hội nhập, giúp các doanh nghiệp có thời gian phục hồi và ổn định sản xuất, kinh doanh
Ngoài ra, với việc quy định thống nhất áp dụng một mức thuế suất đối với các mặt hàng thuốc lá, bia hơi, bia tươi đã góp phần vào thành công của quá trình đàm phán gia nhập WTO của Việt Nam
Thứ ba, Thuế TTĐB góp phần thúc đẩy sản xuất, kinh doanh đối với một số hàng hóa, dịch vụ
Theo cam kết, trong vòng 3 năm kể từ ngày gia nhập Tổ chức thương mại Thế giới - WTO (tức là từ năm 2010), tại Việt Nam tất cả các loại rượu được chưng cất có nồng độ từ 20 độ cồn trở lên sẽ áp dụng một mức thuế tuyệt đối tính theo lít rượu cồn nguyên chất hoặc một mức thuế phần trăm Tương tự như rượu, theo cam kết, trong vòng 3 năm kể từ khi gia nhập WTO, Việt Nam sẽ áp dụng một mức thuế suất phần trăm (%) chung đối với các loại bia, không phân biệt hình thức đóng gói bao bì
Trang 9Trong thời gian Việt Nam chưa phải thực hiện các cam kết quốc tế, việc duy trì một số ưu đãi về thuế suất đối với một số mặt hàng như bia hơi, rượu có nồng độ dưới
40 độ cồn, thuốc lá sử dụng nguyên liệu trong nước là chủ yếu, ô tô sản xuất, lắp ráp trong nước đã tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp có thời gian đầu tư, phát triển sản xuất kinh doanh, khuyến khích sử dụng nguyên liệu trong nước, góp phần đảm bảo việc làm, ổn định thu nhập cho người lao động, tạo cho các doanh nghiệp trong nước có điều kiện để tích luỹ, đầu tư và nâng cao năng lực cạnh tranh trước khi bước vào hội nhập kinh tế quốc tế
Thứ tư, Thuế TTĐB góp phần ổn định và tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước
Thuế TTĐB là nguồn thu ổn định của ngân sách nhà nước Tỷ trọng thu ngân sách từ thuế TTĐB trong tổng thu ngân sách từ thuế, phí và lệ phí đã không ngừng tăng trong những năm qua Tổng thu thuế tiêu thụ đặc biệt tăng qua các năm, năm 2003 là 11.046 tỷ đồng, năm 2004 là 14.861 tỷ đồng - tăng 35% so với năm 2003; năm 2005 là 18.326 tỷ đồng - tăng 23% so với năm 2004; năm 2006 là 20.835 tỷ đồng - tăng 14% so với năm 2005 và năm 2007 là 26.564 tỷ đồng - tăng 27% so với năm 2006 Trong tổng thu từ thuế TTĐB thì số thu từ các mặt hàng ô tô, thuốc lá và rượu, bia chiếm tỷ trọng lớn nhất Dự báo thuế TTĐB tiếp tục là nguồn thu ổn định trong những năm tới của ngân sách nhà nước Thuế tiêu thụ đặc biệt góp phần bảo đảm nguồn thu cho ngân sách Nhà nước
2 Những tồn tại, hạn chế của pháp luật thuế tiêu thụ đặc biệt đã bộc lộ trong thực tiễn xã hội
Mặc dù có rất nhiều ưu điểm, nhưng khi áp dụng pháp luật thuế tiêu thụ đặc biệt vào thực tiễn cũng có những mặt hạn chế nhất định được bộc lộ rõ Hạn chế chủ yếu nảy sinh từ việc áp dụng hệ thống thuế suất cao dẫn đến:
Thứ nhất, nguy cơ thâm hụt nguồn thu từ thuế tiêu thụ đặc biệt do thủ đoạn chuyển giá
Chuyển giá là hành vi do các cơ sở kinh doanh thực hiện nhằm thay đổi giá hàng hóa, dịch vụ trong các giao dịch mua, bán giữa các cơ sở kinh doanh có mối liên hệ đặc biệt, với mục đích giảm thiểu tới mức có thể nghĩa vụ thuế của các bên trong giao dịch đối với nhà nước Giá được chuyển thông qua việc giao hàng hóa hoặc cung ứng dịch
vụ giữa các doanh nghiệp có liên quan không phản ánh giá thị trường một cách trung
Trang 10thực, bình thường, tự nhiên và đúng với thực tế Hành vi chuyển giá thường diễn ra giữa các chi nhánh trong cùng một công ty đa quốc gia hoặc giữa những công ty trong cùng một tập đoàn, giữa các công ty có mối quan hệ đặc biệt hoạt động trong phạm vi biên giới một quốc gia
Thứ hai, về đối tượng chịu thuế
Theo quy định hiện hành, thuế TTĐB hiện chỉ đánh vào một số loại hàng hóa và dịch vụ (10 loại hàng hóa và 6 loại dịch vụ) Nhìn chung, đối tượng chịu thuế thuế TTĐB hiện nay ở nước ta còn khá hẹp, trong khi có nhiều loại hàng hóa, dịch vụ lẽ ra phải được điều chỉnh bởi thuế TTĐB nhưng lại không phải chịu thuế tiêu thụ đặc biệt
Thứ ba, về thuế suất
Hiện nay, thuế suất đối với một số loại hàng hóa, dịch vụ chưa thực sự hợp lí Có loại hàng hóa dịch vụ bị đánh quá cao trong khi đó có loại hàng hóa, dịch vụ mức đánh thuế lại thấp, chưa phù hợp
Thứ tư, đối với mặt hàng là thuốc lào – một loại thuốc lá sợi, tuy là đối tượng chịu thuế nhưng trên thực tế lại rất khó đánh thuế
Thuốc lào là một mặt hàng được sử dụng khá phổ biến nhưng trên thực tế chưa bị đánh thuế TTĐB ở Việt Nam Thuốc lào chủ yếu được sản xuất tại nhà nên việc thu thuế rất khó khăn Lĩnh vực này cũng rất manh mún, không có hình thức và đóng gói chuẩn Chính thị trường manh mún và giá thuốc lào thấp làm cho việc thu thuế không chỉ khó khăn mà còn tốn kém.
Thứ năm, về vấn đề giảm thuế
Theo quy định của pháp luật thuế giá trị gia tăng hiện hành thì người nộp thuế sản
xuất hàng hoá thuộc diện chịu thuế tiêu thụ đặc biệt gặp khó khăn do thiên tai, tai nạn bất ngờ được giảm thuế Mức giảm thuế được xác định trên cơ sở tổn thất thực tế do thiên tai, tai nạn bất ngờ gây ra nhưng không quá 30% số thuế phải nộp của năm xảy ra thiệt hại và không vượt quá giá trị tài sản bị thiệt hại sau khi được bồi thường (nếu có) Theo quy định trên, người nộp thuế chỉ được miễn giảm khi gặp khó khăn do gặp thiên tai, gặp tai nạn như bão lũ, hỏa hoạn, bị hành vi hủy hoại tài sản của người khác gây thiệt hại Như vậy, không tính đến các trường hợp khó khăn khác mà trên thực tế có rất nhiều cơ sở sản xuất hay người kinh doanh bị lỗ nặng trong quá trình sản xuất, kinh doanh do nhiều lý do khác (như bị lừa đảo, làm ăn thua lỗ do những người lãnh đạo chủ chốt bị tai nạn bất ngờ hay mắc bệnh đột suất nên không có người lãnh đạo…) nhưng vẫn phải nộp thuế Như vậy sẽ không đảm bảo được tính công bằng cho mọi chủ thể, không phù hợp với nguyên tắc nhân đạo của pháp luật nói chung Mặt khác, để xác định