1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Ý nghĩa của nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng trước Tòa án và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của nguyên tắc này

12 509 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 156,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Như vậy, có thể hiểu nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng trước Tòa án là những phương châm, định hướng thể hiện quan điểm của Nhà nước được BLTTHS ghi nhận điều chỉnh hoạt động tố tụng củ

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Nhìn nhận từ chức năng đặc biệt của Tòa án – là cơ quan duy nhất có quyền xét xử,

có quyền phán quyết một người có tội hay không và áp dụng hình phạt đối với họ Phán quyết của Tòa án có ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Chính vì vậy, nếu không thận trọng, hội đồng xét xử có thể không đảm bảo được tính khách quan, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật Nhằm hạn chế tới mức tối đa hậu quả

đó, Nhà nước đã có quy định pháp lý nhằm điều chỉnh hoạt động xét xử của Tòa án bằng việc ghi nhận các nguyên tắc cơ bản trong BLTTHS, trong đó có nguyên tắc đảm bảo quyền bình đẳng trước Tòa án Qua nội dung cũng như thực tiễn áp dụng nguyên tắc này còn một số hạn chế cần khắc phục nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện nguyên tắc trong

tố tụng hình sự, nhóm chúng em đã chọn đề tài: “Ý nghĩa của nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng trước Tòa án và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của nguyên tắc này”.

Đề tài được hoàn thành trong khoảng thời gian có hạn, nguồn tiếp cận tư liệu còn hạn chế chính vì vậy không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được sự góp ý của thầy cô giúp chúng em hoàn thiện được kiến thức của mình

Chúng em xin chân thành cảm ơn!

NỘI DUNG

I Khái niệm và nội dung của nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng trước Tòa án.

1 Khái niệm nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng trước Tòa án.

Trước hết, nguyên tắc của tố tụng hình sự là những phương châm, những định hướng chi phối tất cả hoặc một số hoạt động tố tụng hình sự, được các văn bản pháp luật quy định Nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng trước Tòa án là một trong những nguyên tắc có vai trò quan trọng như thế

Nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật được quy định tại Điều 52 của Hiến pháp năm 1992, đây là cơ sở pháp lý quan trọng của nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng trước Tòa án Bảo đảm quyền bình đẳng là làm cho có được sự ngang nhau về quyền và nghĩa vụ giữa những người được pháp luật quy định cho họ Quyền bình đẳng này được thực hiện trước Tòa án, trong giai đoạn xét xử Như vậy, có thể

hiểu nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng trước Tòa án là những phương châm, định hướng thể hiện quan điểm của Nhà nước được BLTTHS ghi nhận điều chỉnh hoạt động tố tụng của Tòa án khi xét xử vụ án hình sự phải bảo đảm cho Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người đại diện hợp pháp của họ, người bảo vệ quyền lợi của đương

Trang 2

sự thực hiện quyền bình đẳng trong việc đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, đưa ra yêu cầu

và tranh luận dân chủ trước Tòa án nhằm xác minh sự thật của vụ án và nâng cao tính công bằng trong tố tụng hình sự 1

2 Nội dung của nguyên tắc.

Nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng trước Tòa án được quy định trong Điều 19 BLTTHS Nội dung cơ bản của nguyên tắc này là sự bình đẳng giữa bên buộc tội và bên gỡ tội Sự bình đẳng đó thể hiện ở ba nội dung sau:

Quyền bình đẳng trong việc đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật:

Theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 37 BLTTHS thì Kiểm sát viên có quyền đưa

ra chứng cứ Theo các quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 50, điểm a khoản 2 Điều 52, điểm

b khoản 2 Điều 53, điểm a khoản 1 Điều 54, điểm đ khoản 2 Điều 58, điểm a khoản 3 Điều

59 BLTTHS thì bị cáo, người bào chữa, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người đại diện hợp pháp của họ, người bảo vệ quyền lợi của đương sự thực hiện quyền bình đẳng trong việc đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật Một trong những thuộc tính của chứng cứ là tính hợp pháp, nghĩa là chứng cứ phải được thu thập theo trình tự, thủ tục luật định Tại điểm a khoản 3 Điều 58 và điều 78 BLTTHS thì tài liệu, đồ vật có thật trên thực tế liên quan đến vụ án hình sự chỉ trở thành chứng cứ khi nó được các cơ quan tiến hành tố tụng thu thập theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định thể hiện qua hình thức văn bản và đưa vào hồ sơ vụ án Như vậy, theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự trong số các chủ thể có quyền được bình đẳng trước Tòa

án thì Kiểm sát viên có quyền đưa ra chứng cứ

Ngoài ra, theo khoản 2 Điều 65, thì các chủ thể không chỉ có quyền cung cấp tài liệu, đồ vật có liên quan mà có thể cung cấp thông tin qua việc trình bày những vấn đề có liên quan đến vụ án để bảo vệ lợi ích hợp pháp của mình, nên việc cung cấp thông tin của

họ cũng phải được đảm bảo bình đẳng

Các chủ thể được quy định tại Điều 19 đều có quyền đưa ra thông tin, đồ vật và tài liệu mới tại phiên tòa để bảo vệ quyền lợi cũng như quan điểm của mình Khi họ đưa ra thông tin, tài liệu, đồ vật mới thì HĐXX có trách nhiệm tiếp nhận và xem xét giá trị chứng minh của những tài liệu, đồ vật, thông tin của bất kì chủ thể nào

Bình đẳng trong việc đưa ra yêu cầu:

Bình đẳng trong việc đưa ra yêu cầu được hiểu là: bên gỡ tội và bên buộc tội đều có quyền và có thể đưa ra yêu cầu của mình về những vấn đề mà pháp luật quy định cho họ có quyền yêu cầu Tại các Điều 201, 205, 216 BLTTHS quy định viêc HĐXX phải giải quyết các yêu cầu của Kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng Các chủ thể tham gia

1 Nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng trước Tòa án trong tố tụng hình sự, Đặng Thanh Nga, chuyên ngành Luật hình sự, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội, 2011

Trang 3

phiên tòa có các yêu cầu sau: yêu cầu triệu tập thêm người làm chứng, yêu cầu đưa thêm vật chứng, tài liệu xem xét, yêu cầu hoãn phiên tòa khi có người tham gia tố tụng vắng mặt, yêu cầu xét hỏi thêm Tất cả các chủ thể này, khi bắt đầu cũng như kết thúc xét hỏi đều được HĐXX hỏi xem họ có yêu cầu nào trong các yêu cầu pháp luật quy định cho họ không và các chủ thể được hỏi có quyền đưa ra yêu cầu HĐXX phải có trách nhiệm tạo điều kiên cho họ thể hiện yêu cầu đó và xem xét, giải quyết các yêu cầu đó, không phân biệt đó là yêu cầu của ai, yêu cầu về vấn đề gì nhưng phải thuộc những quyền mà pháp luật

đã quy định cho họ

Bình đẳng trong việc tranh luận:

Tại Điều 37, Điều 50, 51,52,53,54,58,59 quy định các chủ thể ở Điều 19 BLTTHH

có quyền tranh luận dân chủ trước Tòa án Điều 217,218 quy định thủ tục cho việc thực hiện quyền tranh luận của các chủ thể này Bình đẳng trong việc tranh luận được hiểu là các chủ thể được pháp luật quy định tại phiên tòa có quyền phát biểu ý kiến của mình và đánh giá chứng cứ, qua tranh luận các bên buộc tội và gỡ tội sẽ bảo vệ được quyền lợi của mình hay đưa ra quan điểm của mình về việc giải quyết vụ án và phản bác ý kiến của người khác Qua các đánh giá khác nhau, phản biện khác nhau của các bên tham gia tố tụng tại Tòa sẽ giúp cho Tòa án có sự khách quan, thận trọng hơn khi giải quyết các vụ án hình sự

II Ý nghĩa của nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng trước Tòa án.

Hoạt động tố tụng hình sự là hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng nhằm ngăn ngừa, phát hiện và xử lý hành vi phạm tội Tính chất hoạt động của cơ quan và cá nhân có thẩm quyền này là hoạt động nhân danh Nhà nước và mang quyền lực Nhà nước Vì vậy, trong quan hệ của họ với cá nhân người phạm tội hay người tham gia tố tụng thường mang tính chất quyền uy Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, giảm thiểu các nguy cơ xâm phạm bất hợp pháp là mối quan tâm hàng đầu của pháp luật quốc tế về bảo vệ quyền con người trong hoạt động tố tụng hình sự Pháp luật quốc tế có những chuẩn mực tối thiểu đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân trong TTHS được áp dụng trong phạm vi toàn thế giới, không kể hệ thống chính trị, trình

độ phát triển kinh tế - xã hội Việc ghi nhận nguyên tắc đảm bảo quyền bình đẳng trước Tòa án vào bộ luật TTHS đã khẳng định một trong những chuẩn mực quốc tế và đảm bảo quyền con người trong hoạt động TTHS được nhà nước ta ghi nhận cụ thể và đảm bảo thực hiện bằng pháp luật Đồng thời, việc ghi nhận, sửa đổi bổ sung nội dung nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng trước Tòa án đã thể chế hóa quan điểm, đường lối của Đảng trong tiến trình cải cách tư pháp nhằm xây dựng nền tư pháp trong sạch, dân chủ, công bằng

Trang 4

Thêm vào đó, ta biết tố tụng tư pháp đặc biệt là tố tụng hình sự được phân thành các

hệ thống khác nhau đó là: hệ thống tranh tụng; hệ thống xét hỏi và hệ thống pha trộn Nếu như trong hệ thống tranh tụng thường sử dụng ở các nước có hệ thống luật án lệ, Tòa án không xét hỏi, không tranh luận và cũng không gợi ý tranh luận, mà chỉ là người trọng tài điều khiển phiên tòa, đóng vai trò thụ động trong quá trình chứng minh, nhưng lại toàn quyền phán quyết về vụ án Quyết định của tòa án dường như được thực hiện không phải trên cơ sở sự thật khách quan của vụ án mà là trên cơ sở sự thật được các bên chứng minh tại phiên tòa có tính thuyết phục cao hơn Hay hệ thống xét hỏi ( hay thẩm vấn) thường sử dụng ở các nước có hệ thống luật lục địa, Tòa án thực hiện việc chứng minh vụ án trên cơ

sở sử dụng kết quả đóng vai trò quyết định trong xác định sự thật khách quan tại phiên tòa Phán quyết của tòa án được đưa ra trên cơ sở niềm tin nội tâm của tòa án về sự thật khách quan của vụ án, chứ không phải là kết quả của việc ai thuyết phục tòa án tốt hơn tại phiên tòa…Thì với các nước có hệ thống pha trộn, trong đó có Việt Nam, vị trí và vai trò của tòa

án có sự kết hợp của cả hai hệ thống trên Tòa án không chỉ giữ vai trò thụ động, trọng tài

mà có trách nhiệm xét hỏi để là sáng tỏ các tình tiết vụ án, đồng thời Tòa án còn có trách nhiệm để các bên tham gia vào quá trình xét xử thực sự bình đẳng trong việc đưa ra tài liệu, đồ vật, đưa ra yêu cầu về tranh luận dân chủ tại phiên tòa góp phần đảm bảo cho các phán quyết của Tòa án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, đáp ứng yêu cầu của công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền hiện nay Đây là một ý nghĩa quan trọng của nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng trước Tòa mang lại

Quyền con người – đó là vấn đề mà bất kì một ngành luật nào cũng đều quan tâm khi có sự động chạm liên quan đến nó nhất là trong tố tụng hình sự Nếu như Tòa ra phán quyết sai, người phạm tội không phải chịu trách nhiệm, điều này đồng nghĩa với việc quyền lợi của người bị thiệt hại do tội phạm gây ra không được bảo vệ Lúc này, liệu còn cái gọi là pháp luật, sự bình đẳng và công bằng? Và ngược lại, nếu các phán quyết của Tòa

án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, thì quyền con người cũng như sự công bằng dân chủ sẽ được bảo đảm Mặt khác, việc xét xử của Tòa án diễn ra công khai, minh bạch, phán quyết dựa trên chứng cứ đã được thẩm tra công khai và kết quả tranh tụng tại phiên tòa sẽ đảm bảo được lòng tin của người dân vào tính khách quan của các phán quyết đó, từ đó củng cố lòng tin vào pháp luật và các cơ quan thực thi pháp luật, đảm bảo được sự nghiêm minh của pháp luật góp phần đảm bảo giữ gìn trật tự xã hội Đây chính là ý nghĩa xã hội

mà nội dung nguyên tắc chứa đựng nhưng nó chỉ phát huy tác dụng nếu được đảm bảo thực hiện trên thực tế

Trang 5

Việc ghi nhận các nguyên tắc cơ bản nói chung và nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng trước Tòa án trong TTHS nói riêng có ý nghĩa định hướng cho việc xây dựng, giải thích và áp dụng pháp luật TTHS Khi giải thích và áp dụng pháp luật, nguyên tắc đã được pháp điển hóa sẽ làm căn cứ pháp lý để các chủ thể viện dẫn cho quan điểm giải thích cũng

như áp dụng pháp luật của mình, chứng minh quan điểm đó là có cơ sở pháp lý “Các nguyên tắc nói chung và nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng trước Tòa án khi được pháp điển hóa không chỉ dừng lại ở việc ghi nhận nó trong luật mà mục đích đặt ra nó phải là phương châm, định hướng cho hoạt động thực tiễn, giúp cho hoạt động thực tiễn đạt hiệu quả cao vì mọi lý luận, quy định phải được rút ra từ thực tiễn và phục vụ hoạt động thực tiễn Vì vậy nguyên tắc này trước hết giúp cho hoạt động TTHS mà cụ thể là hoạt động xét

xử của Tòa án diễn ra thống nhất, đồng bộ và đạt hiệu quả, đảm bảo mọi phán quyết của Tòa án khách quan, toàn diện và đầy đủ, đúng pháp luật, hạn chế thấp nhất tình trạng làm oan người vô tội và bỏ lọt tội phạm”2 Đồng thời việc tuân thủ nguyên tắc trong hoạt động xét xử đã đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tạo điều kiện cho những người có quyền, lợi ích liên quan đến vụ án và người bảo vệ quyền lợi cho họ chủ động trong việc bảo vệ quyền lơi, quan điểm của mình trong phiên tòa Việc ghi nhận nguyên tắc

đã và đang phát huy hiệu lực trong thực tiễn của cuộc đấu tranh và phòng ngừa tội phạm,

nó là cho trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng ngày càng được nâng cao, phán quyết của Tòa án không chỉ khách quan, toàn diện, đầy đủ, đúng pháp luật mà còn có tính thuyết phục cao bởi các phiên tòa diễn ra bảo đảm tính dân chủ, khách quan và minh bạch hơn Hơn nữa, khi nguyên tắc được pháp điển hóa nghĩa là đòi hỏi phải triệt để tuân thủ trong hoạt động TTHS đã đẩy mạnh sự đổi mới của các cơ quan

tư pháp và tổ chức luật sư cả về tổ chức cũng như hoạt động

III Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện nguyên tắc

1 Thực tiễn thực hiện nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng trước Tòa án

1.1 Những thành tựu đạt được

Trong thời gian qua, việc áp dụng nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng trước Tòa án đạt được những thành tựu như sau:

Chất lượng công tố được nâng lên, việc tranh luận dân chủ giữa Kiểm sát viên với người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác ngày càng được đảm bảo

Việc sửa đổi bổ sung nguyên tắc đảm bảo quyền bình đẳng trước Tòa án trong Bộ luật

tố tụng hình sự 2003 dấn đến có sự điều chỉnh cơ bản đối với nhiều quy định có liên quan đến hoạt động điều tra, truy tố, xét xử để cho phù hợp với nguyên tắc cũng như đảm bảo

2 Nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng trước Tòa án trong tố tụng hình sự, Đặng Thanh Nga, chuyên ngành Luật hình sự, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội, 2011.

Trang 6

tính khả thi của nguyên tắc trong đó có việc quy định chặt chẽ đầy đủ hơn ở phần thủ tục phiên Tòa cụ thể là phần tranh luận cho phù hợp với nguyên tắc như là đòn bẩy khiến các

cơ quan tố tụng nói chung và viện kiểm sát nói riêng phát huy hết khả năng của mình trong việc phát hiện sử chữa những thiếu sót làm rõ sự thật khách quan đảm bảo việc điều tra truy tố có chất lượng đúng người đúng tội đúng pháp luật

Vị trí vai trò của luật sư được nâng cao, việc ghi nhận và tuân thủ nguyên tắc đảm bảo quyền bình đẳng trước Tòa án đã nâng cao vị trí vai trò của luật sư cả ở trong luật lẫn hoạt động thực tiễn

Quyền của người tham gia tố tụng được đảm bảo Việc tuân thủ nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng trước Tòa án, trong đó thực hiện tốt nội dung tranh luận tại phiên tòa sẽ khắc phục được những hoài nghi, băn khoăn về việc truy tố của Viện kiểm sát của những người tham gia phiên tòa và dư luận xã hội Với việc ghi nhận nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng trước Tòa án, BLTTHS năm 2003 đã mở rộng các quyền của những người tham gia tố tụng từ đó tạo điều kiện cho họ chủ động, tích cực hơn trong việc bảo vệ quyền lợi

và quan điểm của mình tại phiên tòa

Chất lượng công tác xét xử đã được nâng cao, hạn chế được việc vi phạm quyền và lợi ích của công dân trong tố tụng hình sự, trong báo cáo tổng kết hàng năng của Tòa án đã nhận định: phán quyết của Tòa án căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa và trên cơ sở xem xét một cách toàn diện, khách quan chứng cứ của vụ án nên về cơ bản đã đảm xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật

1.2 Một số hạn chế

1.2.1 Hạn chế trong quy định của pháp luật

phù hợp với thực tiễn và chưa thống nhất giữa các điều luật:

Điều 19 BLTTHS quy định KSV, bị cáo, người bào chữa, bị hại, nguyên đơn dân sự,

bị đơn dân sự, người có quyền, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người đại diện hợp pháp của

họ, người bảo vệ quyền lợi của đương sự đều có quyền bình đẳng trong việc đưa ra chứng

cứ, tài liệu đồ vật là chưa hợp lý nhưng theo quy định của BLTTHS về chứng cứ và nghĩa

vụ chứng minh thì trong số các chủ thể có quyền bình đẳng chỉ Kiểm sát viên là người có

quyền đưa ra chứng cứ, còn các chủ thể khác chỉ có quyền đưa ra thông tin, tài liệu, đồ vật liên quan tới vụ án.

Cũng tại Điều 19, Điều 43, Điều 54 BLTTHS chưa có sự thống nhất về quyền yêu cầu của các chủ thể, khi Điều 43 và Điều 54 người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan

không có các quyền như quy định ở Điều 19

Tại các Điều 50, 51, 52, 53, 54, 58, 59 BLTTHS còn quy định thiếu quyền đưa ra

thông tin, khi các điều luật đó mới chỉ dừng lại quy định việc đưa ra tài liệu, đồ vật…

Trang 7

BLTTHS năm 2003 chưa có quy định riêng về địa vị pháp lý của người đại diện hợp pháp của bị can, bị cáo, bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự mà các quyền và nghĩa

vụ của người đại diện hợp pháp được quy định rải rác trong các điều luật quy định về địa vị pháp lý của chủ thể được đại diện nên dẫn đến việc xác định sai tư cách cho người đại diện hợp pháp, gặp khó khăn cho họ thực hiện quyền

Chưa quy định rõ trách nhiệm của Tòa án trong việc đảm bảo tranh luận ở phần thủ tục tranh luận: Theo quy định tại Điều 218 BLTTHS, chủ tọa phiên tòa có quyền đề nghị

Kiểm sát viên phải đáp lại những ý kiến liên quan chưa được kiểm sát viên tranh luận, nhưng vì đây là quyền nên chủ tọa phiên tòa có thể thực hiện có thể không, dẫn đến tình trạng có phiên tòa Kiểm sát viên không tham gia tranh luân nhưng chủ tọa cũng không nhắc nhở làm hạn chế thực hiện tranh luận dân chủ tại phiên tòa

BLTTHS năm 2003 không quy định thủ tục về việc thông báo mở phiên tòa cho những người có quyền tham gia phiên tòa Theo luật quy định, người bị hại, nguyên đơn dân sự,

bị đơn dân sự, người có quyền, nghĩa vụ liên quan, người đại diện hợp pháp của họ, người bảo vệ quyền lợi của đương sự có quyền tham gia phiên tòa nhưng BLTTHS lại không quy định về thủ tục thông báo mở phiên tòa cho họ, như vậy dẫn đến tình trạng hạn chế quyền tham gia phiên tòa của họ cũng như quyền lợi của họ và thân chủ tại phiên tòa

BLTTHS năm 2003 không quy định cụ thể vấn đề bổ sung cáo trạng của Kiểm sát viên tại phiên tòa, điều này ảnh hưởng đến quyền lợi của những người có quyền và lợi ích liên quan đến phán quyết của tòa

BLTTHS năm 2003 không quy định việc công bố bài bào chữa nếu người bào chữa vắng mặt tại phiên tòa Chính việc này dẫn đến việc áp dụng tùy tiện, có phiên tòa chủ tọa công bố có phiên tòa chủ tọa không công bố nội dung nên làm ảnh hưởng đến chất lượng tranh luận tại phiên tòa

Điều 224 BLTTHS năm 2003 không quy định bản án phải ghi rõ những ý kiến tranh luận tại phiên tòa, lý do chấp nhận hay không chấp nhận những ý kiến đó nên nội dung tranh luận thường không được thể hiện trong bản án tạo sự nghi ngờ về tính pháp lý

1.2.2 Hạn chế trong thực hiện pháp luật

 Đội ngũ Thẩm phán, Hội thẩm, Kiểm sát viên hiện nay còn thiếu về số lượng, yếu

về trình độ, kỹ năng và một bộ phận bị suy giảm đạo đức Nguyên nhân của tình trạng này

là do nhiều yếu tố như chất lượng đầu vào của cán bộ tư pháp chưa cao, việc bổ nhiệm các chức danh tư pháp chưa chặt chẽ, nghiêm túc, công tác đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn vẫn còn mang tính hình thức từ nhận thức cho đến thực tiễn, đặc biệt chưa có quy chế

cụ thể cho việc xử lý vi phạm của cán bộ tư pháp

Trang 8

 Đội ngũ luật sư còn thiếu về số lượng, một bộ phận còn yếu về trình độ, kỹ năng hành nghề, đạo đức nghề nghiệp Điều này được lý giải bởi một số lý do: Các quy định về đào tạo luật sư còn nhiều bất cập, quy định về tập sự hành nghề luật sư chưa đảm bảo nâng cao kỹ năng nghề nghiệp cho người tập sự hành nghề luật sư, việc quản lý việc tập sự hành nghề luật sư chưa chặt chẽ

 Vẫn còn tình trạng Tòa án không triệu tập đủ thành phần tham gia phiên tòa theo quy định của pháp luật Trong thực tế, do vi phạm thủ tục tố tụng, trong đó có việc triệu tập thiếu người tham gia tố tụng hay xác định sai tư cách tố tụng làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của họ

 Việc xem xét, giải quyết các yêu cầu của người tham gia tố tụng chưa được đảm bảo đầy đủ và không đúng pháp luật vẫn còn xảy ra BLTTHS quy định những người tham gia

tố tụng có quyền yêu cầu triệu tập them người làm chứng , yêu cầu đưa ra them vật chứng, yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng, yêu cầu hoãn phiên tòa…và HĐXX có trách nhiệm xem xét các yêu cầu đó để chấp nhận hay không chấp nhận dựa trên quy định của pháp luật Tuy nhiên, trên thực tế việc xem xét và giải quyết của cơ quan tố tụng lại có sự máy móc, chưa được đảm bảo đầy đủ và đúng pháp luật dẫn đến sự phản ứng tiêu cực của

bị cáo, người bị hại…

 Việc xét hỏi chưa đảm bảo được hiệu quả Xét hỏi còn phiến diện, áp đặt ý chí chủ quan của HĐXX mà chưa mang tính khách quan, vô tư, dẫn đến các tình tiết của vụ án chưa được xem xét đầy đủ ảnh hưởng đến việc xác định sự thật vụ án

 Sự bình đẳng trong tranh luận còn chưa được đảm bảo, tình trạng tranh luận mang tính hình thức vẫn xảy ra, chưa coi trọng ý kiến của các bên tranh luận Kiểm sát viên chưa thực hiện tốt trách nhiệm tranh luận của mình, việc đối đáp của KSV đối với các ý kiến của những người tham gia tố tụng chưa được thực hiện nghiêm túc nhưng chủ tọa phiên tòa với

tư cách là người điều khiển phiên tòa lại không yêu cầu KSV đáp lại các ý kiến theo quy định tại Đ218 BLTTHS

 Số vụ án có sự tham gia của luật sư còn ít, trong khi đó luật sư là người bảo vệ quyền lợi cho đương sự một cách tốt nhất và có hiệu quả nhất bởi sự am hiểu pháp luật, kinh nghiệm nghề nghiệp và kinh nghiệm tham gia phiên tòa của họ

 Phán quyết của Tòa án chưa dựa vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, việc xem xét các chứng cứ, ý kiến của các bên đưa ra chưa đầy đủ toàn diện, chỉ nghiêng về các chứng

cứ buộc tội hay gỡ tội theo định kiến trước

2 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện nguyên tắc này.

2.1 Sửa đổi, bổ sung những quy định của pháp luật

2.1.1 Sửa đổi, bổ sung các quy định về quyền của những người tham gia tố tụng cũng như trách nhiệm và quyền hạn của những người tiến hành tố tụng:

Trang 9

 Tại Điều 19 BLTTHS nên sửa đổi theo hướng bỏ quyền bình đẳng trong việc đưa ra chứng cứ, bổ sung quyền bình đẳng trong việc đưa thông tin cho phù hợp với các quy định của BLTTHS về chứng cứ và đảm bảo quyền cung cấp tài liệu, đồ vật, trình bày những vấn đề có liên quan của đương sự

 Bổ sung các Điều 50, 51, 52, 53, 54, 58, 59 theo hướng thêm quyền đưa ra thông tin cho những người tham gia tố tụng để phù hợp với Điều 19 sau khi đã sửa đổi

 Bổ sung Điều 43, 54 BLTTHS theo hướng thêm quyền đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người đại diện hợp pháp của họ để phù hợp với quy định bình đẳng trong việc đưa ra yêu cầu tại Điều 19 BLTTHS và đảm bảo quyền chính đáng của người có quyền và nghĩa vụ liên quan

 Sửa đổi Điều 218 BLTTHS theo hướng quy định nghĩa vụ của Thẩm phán yêu cầu Kiểm sát viên đáp lại các ý kiến để đảm bảo cho việc tranh luận diễn ra bình đẳng

2.1.2 Sửa đổi, bổ sung một số quy định về thủ tục tố tụng nhằm khắc phục những vướng mắc khi áp dụng BLTTHS:

 Sửa đổi Điều 206 BLTTHS theo hướng quy định cụ thể việc bổ sung cáo trạng là làm rõ hơn cáo trạng để đảm bảo tính chặt chẽ của quy phạm pháp luật cũng như quyền bào chữa của bị cáo

 Bổ sung Điều 217 BLTTHS, quy định thêm thủ tục công bố bài bào chữa hay bài bảo vệ quyền lợi của đương sự để đảm bảo quyền được nhờ người khác bào chữa cũng như sự bình đẳng giữa người bào chữa và người bảo vệ quyền lợi của đương sự

 Điều 224 BLTTHS theo hướng quy định việc ghi các ý kiến tranh luận vào nội dung của bản án để thể hiện phán quyết của Tòa án chủ yếu dựa trên kết quả tranh tụng tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ các chứng cứ

2.2 Thực hiện pháp luật

Nâng cao chất lượng đội ngũ Thẩm phán, Hội thẩm, Kiểm sát viên, Luật sư:

 Nâng cao chuẩn đầu vào của cán bộ tư pháp, tuyển chọn dựa trên tiêu chí năng lực, trình độ nhằm đáp ứng được yêu cầu trong công cuộc cải cách tư pháp hiện nay

 Quy định cụ thể, đầy đủ các tiêu chuẩn bổ nhiệm cũng như quy trình bổ nhiệm, thay chế độ tuyển chọn bằng chế độ thi tuyển các chức danh tư pháp Trong nhiệm kỳ của Thẩm phán, Kiểm sát viên cần tổ chức thi sát hạch, kiểm tra trình độ…

 Thường xuyên tổ chức các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ cho Thẩm phán, Hội thẩm và Kiểm sát viên Những lớp này phải chú trọng đến chất lượng, phải giải quyết được những hạn chế, vướng mắc trong công tác qua việc tổng kết thực tiễn

 Xử lý nghiêm các trường hợp Thẩm phán, Kiểm sát viên có vi phạm Quy định cụ thể, hợp lý các tiêu chí bổ nhiệm lại và thực hiện nghiêm túc các quy định đó

Trang 10

 Nâng cao đạo đức nghề nghiệp của Thẩm phán, Kiểm sát viên Cá nhân thẩm phán, Kiểm sát viên phải có tinh thần tự giác, ý thức được trách nhiệm trước công việc, ý thức chấp hành pháp luật, tôn trọng mọi người, khắc phục mọi khó khăn, mọi cám

dỗ đời thường Nâng cao đạo đức nghề nghiệp cho Thẩm phán, KSV là việc làm thường xuyên mà trước hết phải là trách nhiệm của mỗi Thẩm phán, KSV và của cả

hệ thống chính trị và sự giúp đỡ giám sát của nhân dân

 Nâng cao chất lượng đào tạo luật sư, quy định thời gian đào tạo luật sư ít nhất phải bằng thời gian đào tạo các chức danh Thẩm phán, viện kiểm sát là 12 tháng Thời gian tập sự hành nghề luật sư tối thiểu là hai năm Tổ chức thi đầu vào các lớp đào tạo nghề luật sư, việc đào tạo phải nghiêm túc, chú trọng trách nhiệm đào tạo

Ngoài ra cần tăng cường công tác tuyên truyền pháp luật trong nhân dân, đảm bảo việc tuyên truyền thường xuyên, đồng bộ, có hiệu quả để nâng cao ý thức pháp luật của người dân như sử dụng nhiều phương pháp tuyên tuyền, tuyên tuyền trực tiếp, tuyên truyền qua phương tiện thông tin đại chúng; trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, những người tiến hành tố tụng cần có trách nhiệm trong việc phổ biến các quy định của pháp luật có liên quan chứ không chỉ dừng lại ở việc phổ biến quyền và nghĩa vụ trong luật TTHS

Tăng cường cơ sở vật chất cho cơ quan tư pháp, có chế độ chính sách hợp lý đối với cán bộ tư pháp Điều kiện cơ sở vật chất tốt, chế độ chính sách hợp lí sẽ thuận lợi cho hoạt động tư pháp góp phần nâng cao chất lượng công tác tư pháp hiện nay vì điều kiện cơ sở vật chất khó khăn, chế độ chính sách đối với cán bộ tư pháp chưa hợp lí Một trong những nguyên nhân không đảm bảo chất lượng xét xử cũng như sự thiếu hụt nguồn cán bộ tư pháp hiện nay Vậy cần có biện pháp tăng cường cơ sở vật chất, có chế độ đãi ngộ hợp lí đối với cán bộ tư pháp Những giải pháp cụ thể là:

 Đầu tư cơ sở vật chất: đảm bảo mỗi trụ sở tòa án có phòng sử án riêng biệt được bố trí hợp lí về không gian, đủ điều kiện cơ sở vật chất để tạo sự thuận lợi nhất cho việc theo dõi diễn biến phiên tòa cũng như ý kiến của những người liên quan

 Tăng cường kinh phí cho hoạt động của các cơ quan tư pháp để nâng cao chi phí cho mỗi hoạt động như: trả thù lao cho luật sư chỉ định, chi phí giám định, tổ chức phiên tòa lưu động

 Quy định chính sách chế độ đối với cán bộ hợp lí như: Nâng hệ số lượng đối với thẩm phán, kiểm sát viên cấp huyện nâng cấp phụ cấp phiên Tòa

Ngày đăng: 29/01/2016, 19:23

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w