đích của chi hành chính, hệ thống pháp luật điều chỉnh chi hành chính nhà nước khá phong phú và đa dạng, trong đó phải kể tới các văn bản như: - Luật Ngân sách nhà nước năm 2002 và các v
Trang 1MỞ ĐẦU
Như chúng ta đã biết, các cơ quan hành chính nhà nước là bộ phận cấu thành
bộ máy nhà nước, có chức năng thực thi công tác quản lý nhà nước, hoạch định và thực hiện các chính sách phát triển kinh tế xã hội Một trong những điều kiện tiên quyết để các cơ quan này có thể duy trì, vận hành được là phải có nguồn kinh phí, mà
ta gọi là chi tiêu hành chính Mà cụ thể là chế độ chi tiêu hành chính tại các đơn vị hành chính diễn ra như thế nào, có hợp lý hay không? Trong phạm vi bài tập học kì
của mình em xin tìm hiểu về vấn đề: “Tìm hiểu chế độ chi tiêu hành chính ở Việt Nam
và những nhận xét đánh giá về thực hiện chế độ chi tiêu hành chính ở một đơn vị mà
em lựa chọn- Trường Đại học Hà Nội”
NỘI DUNG
I Tìm hiểu về chế độ chi tiêu hành chính ở Việt Nam:
1 Khái niệm
Chi tiêu hành chính vốn dĩ là một bộ phận của chi thường xuyên ngân sách Nhà nước
_ Chi ngân sách nhà nước: là hoạt động nhằm sử dụng quỹ ngân sách, là quá trình
phân phối nguồi tiền tệ nằm trong quỹ ngân sách nhà nước để chi dùng vào những mục đích khác nhau Nó bao gồm việc phân phối và sử dụng quỹ ngân sách nhà nước theo dự toán ngân sách đã được chủ thể quyền lực nhằm duy trì sự hoạt động của bộ máy nhà nước và bảo đảm nhà nước thực hiện được các chức năng của mình Chi ngân sách nhà nước là hoạt động được tiến hành bởi hai nhóm chủ thể: nhóm chủ thể đại diện cho Nhà nước thực hiện việc quản lý, phân cấp, thanh toán các khoản chi ngân sách nhà nước; nhóm chủ thể sử dụng ngân sách
Nhóm thứ nhất bao gồm Bộ tài chính, sở tài chính, phòng tài chính, sở kế hoạch và đầu tư và kho bạc nhà nước Nhóm thứ hai gồm các chủ thể sử dụng ngân
sách, nhóm này rất đa dạng nhưng có thể khái quát thành ba loại: các cơ quan nhà nước, kể các các cơ quan hành chính thực hiến khóa biên chế và kinh phí quản lí hành
Trang 2chính; các đơn vị, kể cả sự nghiệp có thu; các chủ dự án sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước
- Chi tiêu hành chính: có thể hiểu là việc sử dụng ngân sách nhà nước của các
đơn vị hành chính để thực hiện nhiệm vụ, chức năng của mình theo đúng quy định của pháp luật Vì vậy chi hành chính là một bộ phận cấu thành quan trọng trong chi tiêu công Nếu như chi tiêu công là các khoản chi tiêu của Nhà nước nhằm thực hiện các chức năng vốn có của Nhà nước thì chi tiêu hành chính là một bộ phận của chi tiêu công nhằm duy trì hoạt động của bộ máy nhà nước trong quá trình thực hiện các chức năng của mình Đây là khoản chi tiêu mang tính thường xuyên, duy trì hoạt động hàng ngày của toàn bộ hệ thống bộ máy nhà nước được thành lập từ trung ương đến địa phương, trên tất cả các ngành, lĩnh vực của đời sống xã hội và là một bộ phận của chi thường xuyên ngân sách nhà nước
Ở Việt Nam, việc quản lý và quy định vấn đề chi tiêu của các cơ quan hành chính do Bộ tài chính chịu trách nhiệm là chủ yếu Bộ tài chính đã ban hành rất nhiều văn bản và liên tịch ban hành cùng với các cơ quan quản lý nhà nước khác Và các cơ quan hành chính ở địa phương các cấp cũng ban hành quy định cụ thể cho bộ phận của mình về việc chi tiêu hành chính
Các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp thuộc bộ máy nhà nước là những đơn vị có nhiệm vụ cung cấp các dịch vụ công cộng cho xã hội Nguồn tài chính cho các đơn vị này hoạt động chủ yếu dựa vào những khoản cấp phát theo chế độ từ Ngân sách nhà nước Ngoài ra, còn một số khoản chi khác có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước, các khoản thu do đơn vị tự khai thác, hoặc quyên góp, tặng biếu không phải nộp ngân sách nhà nước
2 Cơ sở pháp lí của chế độ chi tiêu hành chính:
Pháp luật điều chỉnh chế độ chi tiêu hành chính là hệ thống các quy phạm pháp luật do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành quy định về nguyên tắc, chế độ, chính sách, định mức và cơ chế chi hành chính nhà nước Xuất phát từ nội dung, mục
Trang 3đích của chi hành chính, hệ thống pháp luật điều chỉnh chi hành chính nhà nước khá phong phú và đa dạng, trong đó phải kể tới các văn bản như:
- Luật Ngân sách nhà nước năm 2002 và các văn bản hướng dẫn thi hành;
- Các văn bản quy phạm pháp luật quy định về hệ thống mục lục ngân sách nhà nước gồm: Quyết định số 33/2008/QĐ-BTC ngày 02/6/2008 của Bộ trưởng Bộ Tài chính về việc ban hành Hệ thống Mục lục ngân sách nhà nước và các Thông tư của Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung hệ thống mục lục ngân sách nhà nước;
- Hệ thống các văn bản quy định về chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về biên chế và kinh phí quản lý hành chính tại các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp như: Nghị định số 130/2005/NĐ-CP ngày 17/10/2005 của Chính phủ quy định chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về sử dụng biên chế và kinh phí quản lý hành chính đối với các cơ quan nhà nước và các văn bản hướng dẫn thi hành; Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25 tháng 4 năm 2006 của Chính phủ quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm
về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập và các văn bản hướng dẫn thi hành;
- Hệ thống các văn bản quy định về các chế độ, định mức cụ thể trong chi hành chính như: Quyết định số 59/2007/QĐ-TTg ngày 07 tháng 5 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy định tiêu chuẩn, định mức và chế độ quản lý sử dụng phương tiện
đi lại trong các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập, công ty nhà nước (đã được sửa đổi, bổ sung tại Quyết định số 184/2007/QĐ-TTg); Thông tư số 01/2010/TT-BTC ngày 06/01/2010 của Bộ Tài chính Quy định chế độ chi tiêu đón tiếp khách nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam, chi tiêu tổ chức các hội nghị, hội thảo quốc tế tại Việt Nam và chi tiêu tiếp khách trong nước; Thông tư số 97/2010/TT-BTC ngày 06/7/2010 của Bộ Tài chính Quy định chế độ công tác phí, chế độ chi tổ chức các cuộc hội nghị đối với các cơ quan nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập;
- Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật quy định về kiểm soát chi hành chính như: Thông tư số 18/2006/TT-BTC ngày 13/3/2006 của Bộ Tài chính Hướng dẫn kiểm soát chi đối với cơ quan nhà nước thực hiện chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về biên chế
Trang 4và kinh phí quản lý hành chính; Thông tư số 81/2006/TT-BTC ngày 06/09/2006 của
Bộ Tài chính hướng dẫn chế độ kiểm soát chi đối với các đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính (đã được sửa đổi, bổ sung tại Thông tư số 172/2009/TT-BTC ngày 26/8/2009)
3 Nội dung chi tiêu hành chính Việt Nam hiện nay:
Trên cơ sở hệ thống mục lục chi ngân sách nhà nước ban hành kèm theo Quyết định
số 33/2008/QĐ-BTC ngày 02/6/2008 của Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành hệ thống mục lục ngân sách nhà nước, nội dung chi hành chính gồm các nhóm cơ bản sau:
- Nhóm chi thanh toán cho cá nhân như: Tiền lương, tiền công trả cho lao động thường xuyên theo hợp đồng; phụ cấp lương; sinh hoạt phí cho cán bộ đi học; tiền thưởng; phúc lợi tập thể, các khoản đóng góp trong đó, chi cho tiền lương là khoản chi chiếm tỷ lệ đáng kể trong tổng chi ngân sách Nhà nước
- Nhóm chi về hàng hóa, dịch vụ gồm các mục chi: Thanh toán dịch vụ công cộng (tiền điện, tiền nước, tiền điện thoại, tiền vệ sinh, môi trường; tiền khoán phương tiện theo chế độ, tiền khác); Vật tư văn phòng (văn phòng phẩm, vật tư, công cụ văn phòng, khoán văn phòng phẩm, vật tư văn phòng khác); Thông tin, tuyên truyền, liên lạc (cước phí điện thoại trong nước, cước phí điện thoại quốc tế, cước bưu chính, Fax, sách, báo, tạp chí v.v ); Hội nghị; Công tác phí (tiền vé máy bay, tàu xe, phụ cấp công tác phí, tiền thuê phòng nghỉ v.v ); Chi thuê mướn; chi đoàn ra; chi đoàn vào; Sửa chữa tài sản phục vụ công tác chuyên môn và duy tu, bảo dưỡng các công trình cơ sở hạ tầng từ kinh phí thường xuyên;
- Nhóm Chi nghiệp vụ chuyên môn của từng ngành
- Nhóm chi khác: là những mục chi có thời hạn tác động ngắn và phục vụ trực tiếp cho hoạt động của bộ máy nhà nước
Trang 54 Thực trạng pháp luật điều chỉnh chế độ chi tiêu hành chính ở Việt Nam hiện nay:
Thứ nhất, hệ thống pháp luật đang từng bước được hoàn thiện
- Hệ thống mục lục ngân sách nhà nước trong đó có hệ thống mục, tiểu mục chi hành chính đã được ban hành, sửa đổi, bổ sung trên cơ sở thống các khoản chi hành chính, tạo cơ sở pháp lý thống nhất cho quá trình lập, thực hiện, kiểm soát chi cũng như quyết toán các khoản chi hành chính, giải quyết tình trạng rải rác các văn bản
Ngày 02/6/2008, Bộ Tài chính đã ban hành Quyết định số 33/2008/QĐ-BTC về việc ban hành hệ thống mục lục ngân sách nhà nước thay thế toàn bộ hệ thống mục lục ngân sách Nhà nước ban hành kèm theo Quyết định số 280 TC/QĐ/NSNN ngày 15/4/1997 của Bộ trưởng Bộ Tài chính và 23 Quyết định, Thông tư của Bộ Tài chính liên quan đến việc sửa đổi, bổ sung hệ thống mục lục ngân sách nhà nước
- Hệ thống các quy định pháp luật về nội dung, định mức, tiêu chuẩn chi hành chính được quy định cụ thể, tạo cơ sở pháp lý thống nhất cho quá trình áp dụng trên thực tiễn
Theo phân cấp của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội và Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và Bộ Tài chính đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật quy định cụ thể về tiêu chuẩn, định mức chi tiêu hành chính trong các cơ quan Nhà nước như: tiêu chuẩn, định mức trang bị, sử dụng ô tô; tiêu chuẩn, định mức trang bị thiết bị phục vụ công tác; tiêu chuẩn, định mức sử dụng điện thoại, chế độ công tác phí, chế
độ chi hội nghị, tiếp khách v.v
Để phù hợp với điều kiện thực tế của các Bộ, ngành và địa phương, nhìn chung các định mức chi tiêu được ban hành ở dạng khung, trên cơ sở đó phân cấp cho
Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và Hội đồng nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương căn cứ vào điều kiện thực tế của ngành, địa phương mình quy định mức chi cụ thể trên cơ sở phù hợp với định mức khung chung đã được ban hành Như vậy, hệ thống các văn bản về chi hành chính nhà nước một mặt bảo đảm tính thống nhất chung có tính đến điều kiện thực tiễn của mỗi Bộ, ngành và địa phương trên nguyên tắc bảo đảm chi hành chính tiết kiệm, hiệu quả
Trang 6Việc quy định khá đầy đủ về nội dung và định mức chi hành chính trong hệ thống pháp luật hiện nay đã và đang góp phần vào việc:
+ Tạo điều kiện cho các đơn vị được giao ngân sách chủ động trong chi tiêu dựa trên quy định chung của nhà nước, phục vụ đắc lực cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị được giao
+ Làm cơ sở cho cơ quan tài chính các cấp tham mưu cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định định mức chi, định mức giao ngân sách trên biên chế được giao tại các đơn vị dự toán Đồng thời là cơ sở để cơ quan tài chính cũng như kho bạc nhà nước kiểm soát, thẩm tra cũng như quyết toán các khoản chi hành chính của các cơ quan, đơn vị
+ Là cơ sở cho việc thực hiện chế độ công khai, minh bạch chế độ tài chính trong đó có chế độ chi tiêu quản lý hành chính tại các cơ quan, đơn vị
Thứ hai, tổ chức thực hiện chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về biên chế và kinh phí hành chính
Trong những năm qua, kinh phí chi hành chính ngày càng tăng, nhưng vẫn còn khoảng cách so với nhu cầu chi tiêu thực tế phát sinh tại các cơ quan nhà nước Để giải quyết mâu thuẫn này là phải xây dựng được cơ chế quản lý và sử dụng hợp lý để đảm bảo mục tiêu, yêu cầu tăng cường hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước, đồng thời thực hiện tiết kiệm, chống lãng phí Nhà nước đã tiến hành rà soát các khoản chi hành chính trên tinh thần đảm bảo chi tiết kiệm, hiệu quả, chống lãng phí
Năm 2001, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 136/2001/QĐ-TTg ngày 17/9/2001 ban hành Chương trình tổng thể cải cách hành chính Nhà nước giai đoạn
2001 -2010, theo Chương trình này, cải cách hành chính nhà nước được tiến hành đồng bộ, toàn diện trên cả bốn bộ phận cấu thành của nền hành chính nhà nước gồm: Cải cách thể chế hành chính, cải cách tổ chức bộ máy hành chính nhà nước; đổi mới, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức và cải cách tài chính công Trong nội
dung về cải cách tài chính công, chương trình đổi mới cơ chế quản lý tài chính đối với
cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp được đề ra, trong đó thực hiện chế độ khoán
Trang 7chi trong cơ quan hành chính và chế độ tự chủ về kinh phí đối với đơn vị sự nghiệp
nhằm giảm dần chi từ ngân sách nhà nước tiến tới thực hiện chế độ tự quản tài chính
là những nội dung mang tính giải pháp quan trọng
Để tạo cơ sở pháp lý cho việc thực hiện từng bước chế độ tự chủ tài chính, ngày 17/12/2001, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 192/QĐ-TTg về mở rộng thí điểm khoán biên chế và kinh phí quản lý hành chính đối với các cơ quan hành chính nhà nước
Trên cơ sở kết quả áp dụng thí điểm chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm tại một
số cơ quan, đơn vị, Chính phủ đã ban hành:
- Nghị định số 10/2002/NĐ-CP ngày 16/1/2002 về chế độ tài chính áp dụng cho đơn
vị sự nghiệp có thu;
- Nghị định số 130/2005/NĐ-CP ngày 17/10/2005 của Chính phủ quy định chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về sử dụng biên chế và kinh phí quản lý hành chính đối với các cơ quan nhà nước
Theo Nghị định này, các cơ quan thực hiện chế độ tự chủ được giao kinh phí hàng năm trên cơ sở biên chế được cấp có thẩm quyền giao Căn cứ vào tình hình thực hiện nhiệm vụ được giao, Thủ trưởng cơ quan thực hiện chế độ tự chủ tự quyết định bố trí số kinh phí được giao vào các mục chi cho phù hợp; được quyền điều chỉnh giữa các mục chi nếu xét thấy cần thiết Kinh phí tiết kiệm được từ nguồn kinh phí tự chủ, cơ quan, đơn vị được quyền sử dụng để bổ sung thu nhập tăng thêm cho cán bộ, công chức, người lao động của cơ quan, đơn vị và chi khen thưởng hoặc phúc lợi xã hội Trong trường hợp xét thấy khả năng tiết kiệm kinh phí không ổn định, cơ quan thực hiện chế độ tự chủ có thể trích lập quỹ dự phòng
để ổn định thu nhập cho cán bộ, công chức Số kinh phí tiết kiệm được, cuối năm chưa sử dụng hết được chuyển sang năm sau tiếp tục sử dụng Như vậy, thực hiện chế độ tự chủ về kinh phí hành chính trong các cơ quan theo Nghị định 130/2005/ NĐ-CP đã góp phần quan trọng vào việc:
Trang 8+ Xóa bỏ cơ chế ‘Xin – cho” trong cấp kinh phí hành chính, việc cấp kinh phí hành chính bảo đảm tính khách quan trên cơ sở số lượng biên chế của cơ quan, đơn vị được duyệt và định mức phân bổ kinh phí trên một đầu biên chế do cơ quan có thẩm quyền quy định
+Tạo ra tính chủ động trong quản lý, sử dụng kinh phí khoán chi trong các cơ quan, đơn vị, thông qua đó nguồn kinh phí hành chính được sử dụng một cách tiết kiệm, hiệu quả, tạo nguồn thu nhập tăng thêm cho cán bộ, công chức, người lao động
- Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25 tháng 4 năm 2006 của Chính phủ quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập
Đứng ở góc độ quản lý tài chính công trong đó có nội dung chi kinh phí hành chính, việc thực hiện chế độ tự chủ về tài chính đối với đơn vị sự nghiệp góp phần quan trọng vào việc giảm bao cấp từ nguồn ngân sách nhà nước cho các đơn vị sự nghiệp công lập Về cơ bản đơn vị sự nghiệp công lập hiện nay được phân thành
03 loại: Đơn vị sự nghiệp tự chủ toàn bộ về kinh phí; đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động và đơn vị sự nghiệp do ngân sách nhà nước bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt động Tương ứng với mỗi loại hình sẽ có cơ chế quản lý tài chính phù hợp, song nhìn chung cơ chế tự chủ về tài chính tại các đơn vị sự nghiệp đã tạo điều kiện cho đơn vị chủ động sử dụng nguồn lực tài chính, chủ động phân bổ nguồn lực tài chính của đơn vị theo nhu cầu chi tiêu đối với từng lĩnh vực trên tinh thần tiết kiệm, thiết thực, hiệu quả Bên cạnh đó thu nhập bình quân của công chức, viên chức, người lao động trong đơn vị sự nghiệp được cải thiện, việc chi trả lương được gắn với hiệu suất công tác của từng cá nhân, hạn chế việc chi trả bình quân, góp phần thu hút được lao động có trình độ vào làm việc tại các đơn vị, hạn chế nạn ‘chảy máu” chất xám của các đơn vị sự nghiệp công
Bên cạnh chế độ khoán chi hành chính, mỗi cơ quan, đơn vị hành chính sử dụng ngân sách phải xây dựng một quy chế chi tiêu nội bộ phù hợp với quy định của pháp
Trang 9luật về chi tiêu ngân sách Căn cứ vảo bản quy chế chi tiêu nội bộ này sẽ đảm bảo cho các đơn vị hành chính hoạt động hoàn thành nhiệm vụ chức năng của mình, nhưng đồng thời vẫn phải sử dụng có hiệu quả kinh phí, đúng theo chủ trương của nhà nước Quy chế chi tiêu thường bao gồm các quy định về chế độ, tiêu chuẩn, định mức áp dụng thống nhất trong toàn cơ quan, đơn vị hành chính, được xây dựng nhằm quản lý nguồn ngân sách nhà nước của đơn vị sử dụng trên nguyên tắc dân chủ, công bằng, công khai, phân phối theo lao động và trắc nhiệm Thủ trưởng cơ quan sẽ căn cứ vào những quy định của pháp luật và điều kiện cụ thể để đưa ra các định mức cho việc thực hiện chi tiêu
Bản chi tiêu nội bộ quy định rõ ràng cụ thể về các vấn đề sau: tiền lương, công tác phí, kinh phí công đoàn, chi tiêu hội nghị, sử dụng thông tin phương tiện liên lạc, trang bị và sử dụng văn phòng phẩm, công cụ văn phòng phẩm, thanh toán chi phí nghiệp vụ thường xuyên, trích quỹ và sử dụng quỹ…
- Mục đích của bản quy chế chi tiêu nội bộ được xác định là:
+Tạo điều kiện để cơ quan chủ động trong quản lý và sử dụng kinh phí quản lý hành chính được nhà nước giao, thúc đẩy việc sắp xếp tổ chức bộ máy có hiệu quả, đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ, thực hiện phù hợp với hoạt động của cơ quan và góp phần nâng cao thu nhập chính đáng cho cán bộ, công chức
+ Đảm bảo cho việc sử dụng taì sản công đúng mục đích, hiệu quả
+Thực hiện tốt chủ trương của Nhà nước về thực hành tiết kiệm, chống lãnh phí trong chi tiêu ngân sách
- Nguyên tắc xây dựng quy chế được pháp luật quy đinh như sau:
+ Quy chế xây dựng trên cơ sỏ các quy định chi tiêu hiện hành do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành và phù hợp với hoạt động của cơ quan
+Tạo điều kiện để cơ quan và cán bộ, công chức hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao; bảo đảm quyền lợi hợp pháp cho người lao động
+Những nội dung không quy định trong Quy chế này thì thực hiện chế độ, tiêu chuẩn, định mức theo quy định hiện hành của Nhà nước
Trang 10Quá trình triển khai thực hiện chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về biên chế và kinh phí tại các cơ quan nhà nước và đơn vị sự nghiệp hiện nay đã đạt được những kết quả khả quan trong việc quản lý, sử dụng tiết kiệm, hiệu quả nguồn chi tài chính công trong đó có nguồn chi kinh phí quản lý hành chính
5 Những mặt hạn chế và phương hướng hoàn thiện pháp luật về chế độ chi tiêu hành chính
5.1 Hạn chế
Hệ thống các văn bản điều chỉnh chưa mang tính ổn định, còn phải sửa đổi, bổ sung nhiều; hệ thống các định mức, tiêu chuẩn được ban hành khi triển khai thực hiện thường lạc hậu hoặc không phù hợp với thực tiễn cuộc sống; chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về về kinh phí quản lý hành chính vẫn còn những bất cập cần tiếp tục được khắc phục Cụ thể như sau:
Thứ nhất, hệ thống mục lục ngân sách nhà nước về cơ bản đã khắc phục được tình
trạng quy định rải rác ở quá nhiều văn bản Tuy nhiên, hệ thống mục lục ngân sách nhà nước ban hành kèm theo Quyết định số 33/2008/QĐ-BTC của Bộ Tài chính tính đến thời điểm hiện nay vẫn chưa ổn định do liên tục sửa đổi Điều này gây những khó khăn nhất định trong quá trình lập, chấp hành và quyết toán ngân sách nhà nước trong
đó có nguồn chi kinh phí quản lý hành chính
Thứ hai, hệ thống chế độ, định mức, tiêu chuẩn chi kinh phí quản lý hành chính mặc
dù đã được hoàn thiện theo hướng phù hợp với thực tiễn cuộc sống, song nhìn chung chế độ, định mức, tiêu chuẩn được ban hành thường lạc hậu so với thực tiễn hoặc không phù hợp với thực tiễn Điều này dẫn đến những tác động tiêu cực như:
- Văn bản thường xuyên phải sửa đổi, bổ sung, gây khó khăn cho quá trình lập, chấp hành dự toán cũng như quyết toán kinh phí chi hành chính;
- Để bảo đảm phù hợp với định mức chi theo quy định của pháp luật, trong khi mức chi thực tế thường chênh lệch cao hơn so với mức chi quy định, các cơ quan, đơn vị phải ‘chế biến” hóa đơn, chứng từ để hợp lý hóa các khoản chi trên thực tế;