Quyền nhân thân của tác giả Điều 24 Bộ luật dân sự BLDS 2005 quy định: “Quyền nhân thân được quy định trong Bộ luật này là quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân, không thể chuyển giao ch
Trang 1BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
- -MÔN: LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ
Đề bài số 06: Sưu tầm 02 vụ việc liên quan đến hành vi xâm phạm các quyền nhân thân của tác giả Vận dụng các kiến thức
đã học để phân tích và đưa ra quan điểm của nhóm về hướng giải quyết.
LỚP : NO2- NHÓM 06
Hà Nội, 2012
Trang 2MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 2
I Khái quát các quy định pháp luật về quyền nhân thân của tác giả. 2
1 Quyền nhân thân của tác giả 2
2 Phân loại quyền nhân thân của tác giả. 2
a Quyền nhân thân tuyệt đối 2
b Quyền nhân thân tương đối 3
II Vụ việc về hành vi xâm phạm các quyền nhân thân của tác giả. 3
1 Vụ việc số 01 3
a Nội dung vụ việc 3
b Phân tích vụ việc 4
c Quan điểm của nhóm về hướng giải quyết vụ việc. 6
2 Vụ việc số 02 7
a Nội dung vụ việc 7
b Phân tích vụ việc 8
c Quan điểm và hướng giải quyết vụ việc 11
III Những bất cập pháp luật và hướng hoàn thiện pháp luật về quyền nhân thân của tác giả. 12
1 Những bất cập của pháp luật về quyền nhân thân của tác giả. 12
2 Hướng hoàn thiện các quy định của pháp luật. 14
LỜI KẾT 15
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
Quyền tác giả là một vấn đề mới và đang rất được quan tâm hiện nay Quyền tác giả
là quyền lợi mà pháp luật quy định bảo vệ cho sản phẩm trí tuệ của mỗi cá nhân Tìm hiểu về quyền tác giả cụ thể là quyền nhân thân của tác giả, bài viết là 2 vụ việc liên quan đến hành vi xâm phạm quyền nhân thân của tác giả , đưa ra quan điểm, hướng giải quyết cho vụ việc qua đó kiến nghị biện pháp hoàn thiện quy định pháp luật về quyền nhân thân của tác giả
NỘI DUNG
I Khái quát các quy định pháp luật về quyền nhân thân của tác giả.
1 Quyền nhân thân của tác giả
Điều 24 Bộ luật dân sự (BLDS) 2005 quy định: “Quyền nhân thân được quy định
trong Bộ luật này là quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân, không thể chuyển giao cho người khác, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”
Quyền nhân thân của tác giả được quy định tại Điều 19 LSHTT gồm các quyền: Đặt tên cho tác phẩm; đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm, nêu tên thật hoặc bút danh khi tác phẩm được công bố, sử dụng; công bố, phổ biến hoặc cho người khác công bố, phổ biến tác phẩm của mình; bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm, không cho phép người khác sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả
2 Phân loại quyền nhân thân của tác giả.
a Quyền nhân thân tuyệt đối
Quyền nhân thân tuyệt đối là quyền chỉ thuộc về tác giả, gắn liền và không thể chuyển giao cho người khác Quyền nhân thân tuyệt đối được bảo hộ vĩnh viễn, vô thời hạn
- Quyền đứng tên tác giả trên bản gốc và bản sao tác phẩm Tác giả có quyền lựa chọn việc đứng tên thật, bút danh hoặc có thể chủ động không đứng tên, để tác phẩm của mình ở “tình trạng khuyết danh” Quyền này của tác giả là quyền yêu cầu
Trang 4được ghi tên tác giả trên bản gốc, bản sao tác phẩm, quyền được nêu tên khi biểu diễn, phát sóng tác phẩm
- Quyền đặt tên tác phẩm là quyền quan trọng của tác giả để “khai sinh” cho tác phẩm của mình Cùng với các yếu tố khác, quyền đặt tên là một yếu tố để cá biệt hóa tác phẩm Ngoại lệ : Không áp dụng với tác phẩm dịch
- Quyền bảo vệ sự toàn vẹn tác phẩm (khoản 4 Điều 19, Điều 22 Khoản 3 Nghị định 100/ 2006 NĐ-CP,) là quyền ngăn cấm hoặc cho phép người khác khai thác, sửa chữa tác phẩm của mình Quyền này còn ngăn chặn người khác xuyên tạc, xâm phạm tới uy tín, danh dự của mình Người biên tập có thể thực hiện việc sửa chữa tác phẩm, do sự thay đổi các chuẩn mực xã hội, ngôn từ và chính tả, nhưng phải được
sự đồng ý của tác giả Ngoại lệ : Trích dẫn tác phẩm để giảng dạy, trích để đưa tin tức; Làm tác phẩm phái sinh
b Quyền nhân thân tương đối
Quyền nhân thân tương đối là quyền có thể chuyển giao được, có thời hạn bảo hộ Quyền nhân thân tương đối gắn liền với quyền tài sản, việc chuyển giao quyền nhân thân tương đối sẽ dẫn đến nghĩa vụ thực hiện quyền tài sản Quyền nhân thân tương đối là quyền:
- Quyền công bố hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm của mình
Việc công bố hay chưa công bố tác phẩm tùy thuộc vào quyết định của tác giả
II Vụ việc về hành vi xâm phạm các quyền nhân thân của tác giả.
1 Vụ việc số 01
a Nội dung vụ việc
Đây là vụ việc liên quan đến hành vi xâm phạm quyền nhân thân của tác giả Nguyễn Đức Quyền được đăng trên mục Làng văn của báo điện tử VnExpress ngày 19/09/2005.1
Nội dung vụ việc như sau:
Trên tạp chí Tản Viên Sơn số 05/2005 của Hội Văn học Nghệ thuật (VHNT)
Hà Tây có bài “Đọc lại bài thơ Ngắm trăng…” của tác giả Thi Ái Đây là một bài
1 http://giaitri.vnexpress.net/tin-tuc/sach/lang-van/hoi-vhnt-ha-tay-co-vi-pham-quyen-tac-gia-2141778.html
Trang 5bình bài thơ Ngắm trăng của Hồ Chí Minh Khi tạp chí phát hành thì các hội viên Hội
VHNT Hà Tây cho rằng tác giả Thi Ái đã “đạo” nguyên xi bài bình thơ của tác giả Nguyễn Đức Quyền – nhà giáo từng nhiều năm giảng dạy tại trường Cao đẳng sư phạm 10+3 (Thường Tín, Hà Tây) và đã mất năm 1999
Bài bình thơ của tác giả Nguyễn Đức Quyền có tiêu đề “Ngắm trăng” (không
có ghi chú ngày viết) đã được đăng trong mục Sổ tay người yêu thơ trên báo Văn nghệ số 422 ngày 12/11/1971 Sau đó năm 1987, tác giả đã đưa nguyên văn bài viết vào tập tiểu luận Những vẻ đẹp thơ do Hội Văn nghệ Bình Nghĩa xuất bản Tác giả
vẫn giữ nguyên tiêu đề là “Ngắm trăng”, chỉ thêm vào cuối bài thơ con số 1970 – là
năm tác giả khởi thảo bài bình thơ này
Bài bình thơ của tác giả Thi Ái vẫn giữ nguyên nội dung bài bình thơ của tác giả Nguyễn Đức Quyền chỉ bỏ đi con số 1970 ở cuối tác phẩm và đổi tên tác phẩm
thành “Đọc lại bài thơ Ngắm trăng…”.
Sau khi phát hiện vụ việc, nhà thơ, nhà giáo Đặng Hiển – hội viên Hội nhà văn Việt Nam, hội viên Hội VHNT Hà Tây, cộng tác biên tập của tạp chí Tản Viên Sơn
đã làm đơn kiến nghị lên Ban kiểm tra của Hội VHNT Hà Tây, yêu cầu làm rõ vấn
đề Ông Đào Ngọc Chung - Ủy viên ban chấp hành Hội VHNT Hà Tây, cộng tác biên
tập của tạp chí, người trực tiếp xử lý bài viết “Đọc lại bài thơ Ngắm trăng…” đã trả
lời vấn đề này như sau: Hoàn toàn không có hành vi đạo nhái tác phẩm ở đây bởi tác giả Thi Ái và Nguyễn Đức Quyền thật ra là cùng một người Thi Ái là một trong những bút danh của tác giả Nguyễn Đức Quyền đã được tác giả sử dụng trong bài
bình tác phẩm thơ Nhớ (của Hồng Nguyên) được đăng trên một tờ nội san cũ của Sở
Giáo dục tỉnh Hà Tây Ở đây, người biên tập chỉ “làm mới” tác phẩm bằng cách thay đổi tiêu đề tác phẩm và sử dụng bút danh khác của tác giả để ghi vào tác phẩm Do đó trong biên bản Hội nghị Ban kiểm tra Hội VHNT Hà Tây ngày 31/8/2005 chỉ kết luận
hành vi vi phạm của người biên tập là đã “đổi tên bài bình thơ “Ngắm trăng” thành
tên “Đọc lại bài thơ Ngắm trăng…” và dùng tên tác giả Thi Ái (ít phổ biến hơn so với tên Nguyễn Đức Quyền) đã gây ra sự hiểu khác đi đối với bạn đọc tạp chí” và
hình thức xử lý chỉ là xem xét, rút kinh nghiệm đối với người biên tập bài viết
b Phân tích vụ việc
Trang 6Trước hết ta thấy rằng vụ việc trên xảy ra vào năm 2005, trước thời điểm BLDS 2005 và Luật SHTT 2005 có hiệu lực Tuy nhiên căn cứ vào khoản 1 Điều 220
Luật SHTT thì “Quyền tác giả, quyền liên quan được bảo hộ theo quy định của các
văn bản pháp luật có hiệu lực trước ngày Luật này có hiệu lực, nếu còn thời hạn bảo
hộ vào ngày luật này có hiệu lực thì được tiếp tục bảo hộ theo quy định của Luật này” và quy định tại mục 1 phần V thông tư liên tịch số
02/2008/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BVHTT&DL-BKH&CN-BTP về áp dụng pháp luật về SHTT để giải
quyết các tranh chấp về quyền tác giả, quyền liên quan thì “Đối với quyền tác giả,
quyền liên quan được bảo hộ theo quy định của các văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực trước ngày Luật Sở hữu trí tuệ có hiệu lực (01-7-2006), nếu còn thời hạn bảo hộ vào ngày 01-7-2006, thì tiếp tục được bảo hộ theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ Do đó, khi giải quyết loại tranh chấp này, thì Toà án áp dụng quy định của Luật Sở hữu trí tuệ.” Đối với các quyền nhân thân tuyệt đối của tác giả quy định tại
khoản 1, 2 và 4 Điều 19 Luật SHTT được bảo hộ vô thời hạn do đó khi xem xét tình huống này nhóm sẽ phân tích dựa trên các quy định của Luật SHTT
Trong vụ việc trên, có thể thấy Ban biên tập Tạp chí Tản Viên Sơn đã có hai hành vi vi phạm chính đó là:
Thứ nhất, hành vi tự ý đổi tên tác phẩm của tác giả Nguyễn Đức Quyền từ
“Ngắm trăng” thành “Đọc lại bài thơ Ngắm trăng…” Theo quy định tại khoản 1
Điều 19 Luật SHTT thì quyền đặt tên cho tác phẩm là một trong những quyền nhân thân tuyệt đối của tác giả Tức là quyền này chỉ thuộc về tác giả, ngoài tác giả của tác phẩm không ai có quyền đặt tên cho tác phẩm hoặc thay đổi tên của tác phẩm và tác giả cũng không được chuyển giao quyền này cho người khác Như vậy trong trường hợp này chỉ duy nhất tác giả Nguyễn Đức Quyền được phép thay đổi tên tác phẩm
bình thơ “Ngắm trăng”, người biên tập của tạp chí Tản Viên Sơn không có quyền tự
ý thay đổi tên tác phẩm của ông Như vậy hành vi tự ý thay đổi tên tác phẩm của người biên tập là hành vi sử dụng tác phẩm mà nêu không đúng tên tác phẩm, xâm phạm quyền đặt tên tác phẩm của tác giả
Thứ hai, hành vi tự ý sử dụng bút danh Thi Ái thay cho tên Nguyễn Đức
Quyền khi ghi tên tác giả tác phẩm Cũng giống như quyền đặt tên cho tác phẩm thì
Trang 7quyền đứng tên thật hoặc ghi danh trên tác phẩm cũng là quyền nhân thân tuyệt đối của tác giả theo quy định tại khoản 2 Điều 19 Luật SHTT Chỉ có tác giả mới có quyền đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm, được nêu tên thật hoặc bút danh khi tác phẩm được công bố, sử dụng Ở đây mặc dù Thi Ái là một trong những bút danh
của tác giả Nguyễn Đức Quyền tuy nhiên trong tác phẩm “Ngắm trăng” tác giả
không sử dụng bút danh này mà sử dụng tên thật của mình để ký tên trên tác phẩm Chưa kể Thi Ái là bút danh mà tác giả chỉ sử dụng một lần duy nhất, ký trong một tác phẩm khác, in trên tờ nội san cấp ngành của một tỉnh Rõ ràng đây là bút danh ít phổ biến hơn rất nhiều so với tên tác giả Nguyễn Đức Quyền và không thể sử dụng bút danh đó để ghi tên tác giả trong các tác phẩm khác của ông Việc người biên tập của Tạp chí Tản Viên Sơn tự ý đề bút danh Thi Ái cho tác phẩm là hành vi sử dụng tác phẩm mà nêu không đúng tên tác giả, đây là hành vi xâm phạm quyền đứng tên tác phẩm của tác giả
Từ đó có thể khẳng định rằng Ban biên tập Tạp chí Tản Viên Sơn đã có hành vi xâm phạm quyền nhân thân của tác giả Nguyễn Đức Quyền
c Quan điểm của nhóm về hướng giải quyết vụ việc.
Dù thực hiện với mục đích gì thì hành vi tự ý thay đổi tên tác phẩm và tên tác giả của người biên tập đã vi phạm đến những quyền nhân thân cơ bản của tác giả Vì vậy mà kết luận của Ban kiểm tra Hội VHNT Hà Tây với hình thức xử lý chỉ là “xem xét, rút kinh nghiệm” đối với người biên tập là chưa thỏa đáng
Trong trường hợp này tác giả đã mất từ năm 1999, vì vậy việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp liên quan đến quyền tác giả sẽ do người thừa kế hợp pháp của tác giả thực hiện Họ có thể áp dụng các biện pháp quy định tại Điều 198 Luật SHTT Theo đó:
- Trước hết là yêu cầu tạp chí Tản Viên Sơn phải chấm dứt hành vi xâm phạm,
xin lỗi, cải chính công khai, bồi thường thiệt hại
- Trong trường hợp Ban biên tập tạp chí không thực hiện theo yêu cầu của người
thừa kế quyền tác giả thì bước tiếp theo có thể yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý hành vi xâm phạm quyền tác giả hoặc trực tiếp khởi kiện ra tòa án
Trang 8Nếu yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý thì có thể gửi đơn yêu cầu UBND cấp xã nơi đóng trụ sở của tạp chí Tản Viên Sơn xử lý hành vi vi phạm UBND cấp xã sẽ áp dụng biện pháp hành chính để xử lý hành vi xâm phạm này Theo quy định tại khoản 2 Điều 14 Nghị định 47/2009/NĐ-CP về xử phạt thì hành vi
sử dụng tác phẩm mà không nêu tên thật hoặc bút danh tác giả, tên tác phẩm hoặc nêu không đúng tên thật hoặc bút danh của tác giả, tên tác phẩm theo quy định của pháp luật sẽ bị phạt tiền từ 500.000 đồng đến 2.000.000 đồng Tuy nhiên thời hiệu xử phạt
vi phạm hành chính về quyền tác giả chỉ là 2 năm kể từ ngày hành vi vi phạm được thực hiện (khoản 1 Điều 5 Nghị định 47/2009/NĐ-CP) Do đó nếu quá thời hạn 2 năm thì tạp chí Tản Viên Sơn sẽ không bị xử phạt vi phạm hành chính nhưng vẫn bị
áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả đó là buộc khôi phục lại quyền đứng tên, đặt tên cho tác phẩm
Nếu khởi kiện ra tòa án thì những người thừa kế phải chứng minh mình là chủ thể của quyền tác giả bằng một trong các chứng cứ quy định tại khoản 2 Điều 203 Luật SHTT và phải cung cấp các chứng cứ về hành vi xâm phạm quyền tác giả của mình Khi đó Tòa án sẽ áp dung các biện pháp dân sự quy định tại Điều 202 Luật SHTT để
xử lý như: Buộc chấm dứt hành vi xâm phạm; buộc xin lỗi, cải chính công khai; buộc bồi thường thiệt hại Tuy nhiên cần chú ý rằng việc khởi kiện ra tòa án chỉ có thể tiến hành nếu vẫn còn thời hiệu khởi kiện Theo Bộ luật Tố tụng dân sự 2004 thì thời hiệu khởi kiện trong trường hợp này là 2 năm kể từ ngày biết được quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm (khoản 3 Điều 159 Bộ luật Tố tụng dân sự)
2 Vụ việc số 02
a Nội dung vụ việc
Trong năm 2010, bộ phim “Cánh đồng bất tận” được phát hành ra công chúng
đã gây được ấn tượng mạnh với công chúng, trước tiên phải nói đến các bức ảnh quảng cáo rất đẹp của phim đã gây hiệu ứng tích cực đến người xem Tuy nhiên, những bức ảnh quảng cáo của phim lại bị xem là đã đạo tác phẩm của một tác giả khác
Trên các bức ảnh quảng cáo cho phim cánh đồng bất tận có đề tên “nhiếp ảnh: Trần Huy Hoan” Khi đó, nhiếp ảnh gia Đặng Minh Tùng đã có phản ánh về việc các
Trang 9bức ảnh trên bức hình quảng cáo cho phim là do mình chụp không phải do Trần Huy Hoan chụp nhưng lại không được đề tên trên đó mà lại đề tên Trần Huy Hoan;
- Hãng phim Việt là đơn vị sản xuất bộ phim Cánh đồng bất tận còn công ty BHD là đơn vị phát hành phim Hãng phim Việt có kí hai hợp đồng với hai người là Đặng Minh Tùng và Trần Huy Hoan Đối với Hợp đồng kí với Đặng Minh Tùng, Hãng phim Việt thuê Đặng Minh Tùng làm công việc ghi lại nhật kí đoàn làm phim bằng hình ảnh để cung cấp thông tin cho báo chí Hợp đồng thời vụ giữa Hãng phim Việt với Đặng Minh Tùng ký ngày 23/11/2009, sau đó hãng phim này đã thanh toán thù lao đúng thỏa thuận Còn Trần Huy Hoan có hợp đồng với Hãng phim Việt, theo
đó, Trần Huy Hoan được thuê để chụp ảnh và làm các bức hình quảng cáo cho phim cánh đồng bất tận
- Các bức ảnh quảng cáo của phim cánh đồng bất tận do nhiếp ảnh gia Đặng Minh Tùng chụp và giao cho Hãng phim Việt theo hợp đồng Trong quá trình Trần Huy Hoan làm các bức ảnh quảng cáo cho phim cánh đồng bất tận có đưa cho Trần Huy Hoan sử dụng các bức hình do Đặng Minh Tùng chụp để làm ảnh quảng cáo Nhiếp ảnh gia Trần Huy Hoan là người thiết kế lại các bức ảnh đó để tạo thành các bức ảnh quảng cáo cho bộ phim
Đặng Minh Tùng cho rằng quyền được đứng tên tác phẩm của mình bị xâm phạm khi tên Đặng Minh Tùng không được ghi trên các bức ảnh quảng cáo mà lại ghi tên Trần Huy Hoan
Trần Huy Hoan thì cho rằng các bức ảnh do Đặng Minh Tùng chụp chỉ là chép lại tác phẩm của người khác Cụ thể, theo Trần Huy Hoan, Đặng Minh Tùng chỉ là người chụp ảnh hiện trường không tham gia vào công tác makeup diễn viên, lo phục trang, chỉ đạo diễn xuất… Như vậy, cậu ta chỉ chép lại sáng tạo của người khác, không được gọi là có bản quyền Trần Huy Hoan khẳng định, việc thiết kế poster quan trọng nhất là ý tưởng, còn bức ảnh có thể lấy từ trên mạng hoặc của bất cứ ai mà không cần đề nguồn
b Phân tích vụ việc
- Các bức ảnh trong poster của phim cánh đồng bất tận đều do Đặng Minh Tùng chụp, các bức ảnh đó được tạo nên qua sức sáng tạo của Đặng Minh Tùng từ
Trang 10góc chụp, độ sáng, tối, khoảng cách chụp…để tạo nên các bức ảnh đẹp Theo quy
định tại điểm h khoản 1 điều 14 của Luật sở hữu trí tuệ thì tác phẩm nhiếp ảnh thuộc
loại tác phẩm nghệ thuật là loại hình tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả Tác phẩm
nhiếp ảnh theo nghị định số 100/2006/N Đ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của luật sở hữu trí tuệ về quyền tác giả và quyền liên quan tại điều 16 có quy
định tác phẩm nhiếp ảnh được hiểu là tác phẩm thể hiện hình ảnh của thể giới khách quan trên vật liệu bắt sáng hoặc trên phương tiện mà hình ảnh được tạo ra hay có thể được tạo ra bằng bất cứ phương pháp kĩ thuật nào
Như vậy, các bức ảnh do Đặng Minh Tùng chụp đã được thể hiện dưới một dạng vật chất nhất định đó là những tấm phim và sau đó được tráng rửa tạo nên những bức ảnh mà ta thấy trên các phương tiện thông tin đại chúng khi nhà sản xuất
thực hiện quảng bá cho phim Rõ ràng rằng, Đặng Minh Tùng là tác giả của các bức
ảnh đó, theo LSHTT thì tác giả của tác phẩm được bảo hộ được hưởng quyền nhân thân và quyền tài sản
Hãng phim Việt là chủ sở hữu quyền tác giả, theo quy định của LSHTT thì Hãng phim Việt có quyền tài sản đối với các tác phẩm nhiếp ảnh do Đặng Minh Tùng thực hiện theo hợp đồng kí kết
Trần Huy Hoan đã cắt sửa, ghép các bức ảnh do Đặng Minh Tùng chụp để thiết
kế thành các bức ảnh quảng cáo cho phim cánh đồng bất tận Thực chất của vấn đề là Hãng phim Việt đã sử dụng các bức ảnh do Đặng Minh Tùng chụp để giao cho Trần Huy Hoan thiết kế làm ảnh quảng cáo cho phim Nói cách khác, Hãng phim Việt có quyền làm tác phẩm phái sinh và đang thực hiện quyền cho người khác làm tác phẩm
phái sinh của mình Tuy nhiên, theo quy định tại khoản 2 Điều 45 LSHTT thì: “Tác
giả không được chuyển nhượng các quyền nhân thân quy định tại Điều 19, trừ quyền công bố tác phẩm…”.Như vậy, khi làm tác phẩm phái sinh Trần Duy Hoan phải hỏi ý
kiến của tác giả là Đặng Minh Tùng và không được phép làm tác phẩm phái sinh khi chưa có sự cho phép của tác giả Các hành vi xâm phạm quyền nhân thân của tác giả Đặng Minh Tùng trong vụ việc: