A.LỜI MỞ ĐẦUTạm giữ là những biện pháp ngăn chặn được quy định trong BLTTHS do cơ quan có thẩm quyền áp dụng nhằm buộc những người bị tạm giữ cách li khỏi xã hội trong một thời gian nhất
Trang 1MỤC LỤC
B NỘI DUNG
I TẠM GIỮ TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ
II HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT NHẰM NÂNG CAO HIỆU
QUẢ ÁP DỤNG CỦA BIỆN PHÁP TẠM GIỮ
Trang 2A.LỜI MỞ ĐẦU
Tạm giữ là những biện pháp ngăn chặn được quy định trong BLTTHS do cơ quan có thẩm quyền áp dụng nhằm buộc những người bị tạm giữ cách li khỏi xã hội trong một thời gian nhất định để ngăn chặn hành vi phạm tội, hành vi gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử Chính vì vậy, tạm giữ là những biện pháp ngăn chặn có ý nghĩa rất quan trọng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, ngăn chặn hành vi phạm tội, tạo điều kiện cho cơ quan điều tra thu thập chứng cứ, tài liệu, bước đầu xác định hành vi, tính chất của hành vi phạm tội Biện pháp tạm giữ được quy định tại các Điều 86, Điều 87, Điều 48, Điều 303, Điều 88 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 và một số luật liên quan như: Luật tổ chức Quốc hội năm
2001, Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003
B.NỘI DUNG
I TẠM GIỮ TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ
1 Khái niệm
Điều 79 BLTTHS 2003 các biện pháp ngăn chặn bao gồm các biện pháp sau: Bắt, tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh đặt tiền hoặc tài sản để bảo đảm, theo đó tạm giữ là một trong những biện pháp ngăn chặn được quy định trong BLTTHS hiện hành Khoản 1 Điều 86 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 cũng quy
định: “Tạm giữ có thể được áp dụng đối với người bị bắt trong trường hợp khẩn
cấp, phạm tội quả tang, người phạm tội tự thú, đầu thú hoặc đối với người bị bắt theo quyết định truy nã”.
Như vậy, Tạm giữ là biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự do cơ quan và
những người có thẩm quyền áp dụng đối với người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, phạm tội quả tang, người phạm tội tự thú, đầu thú hoặc đối với người bị bắt theo lệnh truy nã
Trang 32 Mục đích và ý nghĩa của biện pháp tạm giữ
Tạm giữ là một trong các biện pháp ngăn chặn được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam do vậy tạm giữ cũng có ý nghĩa như các biện pháp ngăn chặn khác khi áp dụng Biện pháp ngăn chặn không phải là một dạng trách nhiệm pháp lý được áp dụng với ý nghĩa phòng ngừa tội phạm Tạm giữ không phải được
áp dụng với ý nghĩa trừng trị với đối tượng bị áp dụng mà chỉ là sự phòng ngừa của toàn xã hội đối với đối tượng đó
Tạm giữ có ý ngĩa trong việc đấu tranh và phòng ngừa tội phạm Việc áp dụng biện pháp này đảm bảo cho việc hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng được thuận lợi Đối tượng bị tạm giữ bị cách li khỏi xã hội và không có khả năng thực hiện hành vi phạm tội cũng như cản trở hoạt động điều tra, truy tố, xét xử hoặc bỏ trốn Việc áp dụng biện pháp tạm giữ thể hiện sự chuyên chính của nhà nước đối với hành vi phạm tội, xâm phạm lợi ích chung của toàn xã hội Ngoài ra việc áp dụng biện pháp tạm giữ còn có ý nghĩa trong việc bảo đảm sự dân chủ, tôn trọng các quyền cơ bản của công dân Việc pháp luật quy định một cách đầy đủ và chặt chẽ về tạm giữ là cơ sở pháp lí để cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình Bên cạnh đó các quy định trên cũng giúp công dân bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình
3 Đối tượng và căn cứ áp dụng
Tại khoản 1 Điều 48 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy định: “Người bị tạm
giữ là người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, phạm tội quả tang, người bị bắt theo quyết định truy nã hoặc người phạm tội tự thú, đầu thú và đối vơi họ đã có quyết định tạm giữ” Khoản 1 Điều 86 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 cũng quy
định: “Tạm giữ có thể được áp dụng đối với người bị bắt trong trường hợp khẩn
cấp, phạm tội quả tang, người phạm tội tự thú, đầu thú hoặc đối với người bị bắt
Trang 4theo quyết định truy nã”.Như vậy, đối tượng có thể áp dụng biện pháp ngăn chặn
tạm giữ là:
- Tạm giữ đối với người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp: Bắt người trong trường hợp khẩn cấp là bắt người khi người đó đang chuẩn bị thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biết nghiêm trọng nhằm ngăn chặn kịp thời hành vi phạm tội của họ hay bắt người sau khi thực hiện tội phạm mà người đó bỏ trốn, cản trở việc điều tra, khám phá tội phạm Người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp thường phải bị tạm giữ, vì hầu hết trong các trường hợp khi quyết định bắt khẩn cấp, Cơ quan điều tra đã xác định cần phải ngăn chặn việc người đó bỏ trốn hoặc cản trở điều tra
- Tạm giữ đối với người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang: Bắt người phạm tội quả tang là bắt người khi người đó đang thực hiện tội phạm hoặc ngay sau khi thực hiện tội phạm thì bị phát hiện hoặc bị đuổi bắt Người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang nhưng sự việc phạm tội nhỏ, tính chất ít nghiêm trọng, người bị bắt có nơi cư trú rõ ràng và không có hành động, biểu hiện sẽ cản trở việc điều tra thì không cần phải tạm giữ
- Tạm giữ với người bị bắt khi đang truy nã: Người đang bị truy nã là người thực hiện hành vi phạm tội đã có lệnh bắt hoặc đã bị bắt, tạm giữ, tạm giam hoặc đang thi hành án phạt tù tại trại giam thì bỏ trốn Trong thực tế người đang bị truy
nã có thể đã bị khởi tố về hình sự, đã có tư cách tố tụng là bị can, bị cáo hoặc mới
là người bị bắt đang trong quá trình xác minh lý do bắt Hoặc người bị kết án về hình sự chưa thi hành án hoặc đang thì hành án thì bỏ trốn Đối với người bị bắt theo lệnh truy nã, ngay sau khi lấy lời khai, Cơ quan điều tra nhận người bị bắt phải thông báo cho cơ quan đã ra lệnh truy nã để cơ quan này đến nhận người bị bắt Việc tạm giữ đối với người này chỉ đặt ra khi xét thấy cơ quan đã ra lệnh truy
nã không thể đến ngay để nhận người bị bắt
Trang 5- Tạm giữ đối với người phạm tội tự thú, đầu thú: Người tự thú, đầu thú mà tội phạm họ thực hiện rất nghiêm trọng, đặc biết nghiêm trọng, tính chất phức tạp, lên quan đến nhiều người, nhiều địa phường thì phải áp dụng biện pháp tạm giữ; trường hợp họ thực hiện tội phạm ít nghiêm trọng hoặc nghiêm trọng nhưng sự việc phạm tội đơn giản, có chứng cứ rõ ràng, người phạm tội có lí lịch, căn cước rõ ràng thì không nhất thiết phải áp dụng biện pháp tạm giữ
Như vậy, có thể thấy rằng: Điều 86 BLTTHS 2003 cũng không quy định cụ thể
các căn cứ áp dụng BPNC tạm giữ, mà căn cứ để tạm giữ được hiểu là nếu việc bắt khẩn cấp hoặc bắt quả tang khi có đủ căn cứ quy định tại Điều 81 và 82 BLTTHS năm 2003 thì đó cũng chính là căn cứ để áp dụng biện pháp tạm giữ
Điều 48 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy định về quyền và nghĩa vụ của người bị tạm giữ như sau:
“2 Người bị tạm giữ có quyền:
a) Được biết lý do mình bị tạm giữ;
b) Được giải thích về quyền và nghĩa vụ;
c) Trình bày lời khai;
d) Tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa;
đ) Đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu;
e) Khiếu nại về việc tạm giữ, quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
3 Người bị tạm giữ có nghĩa vụ thực hiện các quy định về tạm giữ theo quy định của pháp luật.”
Người thi hành quyết định tạm giữ phải giải thích quyền và nghĩa vụ của người
bị tạm giữ tại khoản 2, khoản 3 Điều 48 Bộ luật tố tụng hình sự
4 Thẩm quyền ra lệnh tạm giữ
Trang 6Theo khoản 2 Điều 86 quy định về thẩm quyền ra lệnh bắt người trong trường hợp khẩn cấp thì có bốn nhóm người có quyền ra lệnh bắt khẩn cấp, gồm nhóm người sau đây:
- Thủ trưởng, phó thủ trưởng cơ quan điều tra các cấp ( cơ quan điều tra trong công an nhân dân, cơ quan điều tra trong quân đội nhân dân, cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân tối cao… )
- Người chỉ huy đơn vị quân đội độc lập cấp trung đoàn và tương đương ; người chỉ huy đồn biên phòng ở hải đảo và biên giới
- Người chỉ huy tàu bay, sân bay, tàu biển khi tàu bay, tàu biển đã rời sân bay, bến cảng
- Chỉ huy trưởng vùng cảnh sát biển
Theo quy định BLTTHS 2003 thì cơ quan điều tra cấp huyện trở lên có quyền
ra quyết định tạm giữ Thực hiện quyết định này, khi nhận người bị bắt trong từng trường hợp phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã thì UBND phường, xã, thị trấn phải tiến hành lập biên bản phạm tội quả tang, biên bản bắt người đang bị truy nã
và giải quyết ngay tới cơ quan thẩm quyền
Như vậy, những người có quyền ra quyết định tạm giữ không hoàn toàn là
những người đại diện của các cơ quan tiến hành tố tụng mà bao gồm cả những người của các cơ quan Nhà nước khác hoặc trong lực lượng vũ trang
5 Thủ tục tạm giữ
Được quy định tại khoản 3 Điều 86 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 Việc tạm giữ phải có lệnh viết của người có thẩm quyền Lệnh tạm giữ phải ghi rõ lí do tạm
Trang 7giữ, thời hạn tạm giữ ngày hết hạn tạm giữ và giao cho người bị tạm giữ một bản Nếu việc tạm giữ không có lệnh của người có thẩm quyền, người bị tạm giữ có quyền yêu cầu trả tự do cho họ
Trong thời hạn 12 giờ, kể từ khi ra lệnh tạm giữ, lệnh tạm giữ phải được gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp để kiểm sát việc áp dụng biện pháp ngăn chặn Khi kiểm sát việc tạm giữ, nếu thấy việc tạm giữ không đúng pháp luật hoặc không cần thiết phải tạm giữ thì Viện kiểm sát ra lệnh hủy bỏ lệnh tạm giữ và cơ quan đã ra lệnh tạm giữ phải trả tự do ngay cho người bị tạm giữ
Viện kiểm sát ra quyết định hủy bỏ lệnh tạm giữ trong những trường hợp sau đây:
- Người bị tạm giữ không phải là người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, trường hợp phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã và không phải là người phạm tội tự thú, đầu thú
- Người bị tạm giữ chỉ có những vi phạm nhỏ, tính chất nguy hiểm cho xã hội không có gì đáng kể, chưa đến mức pohair truy cứu trách nhiệm hình sự;
- Người bị tạm giữ trong trường hợp phạm tội quả tang nhưng sự việc phạm tội nhỏ, tính chất it nghiêm trọng, người bị tạm giữ có nơi cư trú rõ ràng và không
có biểu hiện sẽ trốn hoặc cản trở việc điều tra
6 Thời hạn tạm giữ
Điều 87 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy định:
- Thời hạn tạm giữ không được quá ba ngày, kể từ khi Cơ quan điều tra nhận người bị bắt
Để đạt được mục đích của tạm giữ, thời điểm tính thời hạn tạm giữ không phải
là thời điểm bắt người Mặt khác, để hạn chế việc giữ người trái pháp luật thời điểm tính thời hạn tạm giữ cũng không được tính từ khi ra lệnh tạm giữ mà được tính từ khi Cơ quan điều tra nhận người bị bắt Thời điểm cơ quan điều tra nhận
Trang 8người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp tính từ khi người bị bắt được giải tới trụ sở
Cơ quan điều tra Trong trường hợp bắt người phạm tội quả tang hoặc người bị truy nã thời điểm tính từ khi công dân hoặc tổ chức giao người bị bắt cho Cơ quan điều tra
- Trong trường hợp cần thiết người đã ra lệnh tạm giữ có thể gia hạn tạm giữ nhưng không quá ba ngày Những trường hợp cần thiết là những trường hợp sự việc xảy ra có nhiều tình tiết phức tạp, việc xác minh phải thực hiện ở nhiều địa phương khác nhau hoặc cần phải có thêm thời gian để làm rõ về hành vi, làm rõ căn cước, lý lịch của người bị tạm giữ
- Trong trường hợp đặc biệt, người đã ra lệnh tạm giữ có thể gia hạn lần thứ hai và cũng không được quá ba ngày
Đây thông thường là trường hợp đối với vụ án xâm phạm an ninh quốc gia và một số vụ án hình sự khác có nhiều người tham gia, sự việc cần phát minh rất phức tạp mặc dù đã ra hạn tạm giữ lần thứ nhất nhưng vẫn chưa làm rõ sự việc
- Mọi trường hợp gia hạn tạm giữ đều phải được Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn
Việc gia hạn tạm giữ chỉ có giá trị khi được Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn Nếu viện kiểm sát không phê chuẩn thì cơ quan đã ra lệnh tạm giữ phải trả tự do ngay cho người bị tạm giữ sau khi hết hạn tạm giữ trước đó Trong thời hạn 12 giờ
kể từ khi nhận được đề nghị gia hạn và tài liệu liên quan đến việc gia hạn tạm giữ, Viện kiểm sát phải ra quyết định phê chuẩn hoặc không phê chuẩn
- Khi hết hạn tạm giữ, nếu không đủ căn cứ khởi tố bị can thì phải trả tự do ngay cho người bị tạm giữ
Đây là trường hợp không cần gia hạn tạm giữ hoặc đã ra hạn tạm giữ lần thứ nhất hoặc lần thứ hai nhưng vẫn không đủ căn cứ để xác định người bị tạm giữ đã thực hiện tội phạm thì phải trả tự do ngay cho người bị tạm giữ
Trang 9- Thời hạn tạm giữ được tính vào thời hạn tạm giam.
Thời hạn tạm giữ dù ngắn nhưng lại hạn chế quyền tự do thân thể, tự do đi lại của công dân nên thời hạn tạm giữ được tính trừ vào thời hạn tạm giam theo nguyên tắc một ngày tạm giữ bằng một ngày tạm giam Trường hợp người bị tạm giữ sau đó không bị tạm giam thì Tòa án quyết định hình phạt tù đối với bị cáo, thời hạn đã tạm giữ được trừ vào thời hạn phải chấp hành hình phạt tù theo nguyên tắc một ngày tạm giữ được tính bằng một ngày tù
7 Một số vấn đề khác liên quan đến tạm giữ
a Tạm giữ với một số đối tượng đặc biệt
- Với đại biểu quốc hội: “Nếu phạm tội quả tang mà đại biểu Quốc hội bị
tạm giữ thì cơ quan tạm giữ phải lập tức báo cáo để Quốc hội hoặc Ủy ban thường
vụ xét và quyết định”(Điều 58 Luật tổ chức Quốc hội năm 2001).
- Với đại biểu Hội đồng nhân dân: “Trong thời gian họp hội đồng nhân dân( )Nếu vi phạm tội quả tang hoặc trường hợp khẩn cấp mà đại biểu Hội đồng nhân dân bị tạm giữ thì cơ quan ra lệnh tạm giữ phải báo cáo ngay với Chủ tọa kì họp Giữa hai kỳ họp hội đồng nhân dân, nếu cơ quan có thẩm quyền ra lệnh tạm giữ đại biểu hội đồng nhân dân thì phải thông báo cho đại biểu hội đồng nhân dân cùng cấp.” (Điều 44 Luật tổ chức hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân năm
2003)
- Đối với người chưa thành niên: Theo quy định tại Điều 303 Bộ luật tố tụng hình sự thì: Người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi có thể bị tạm giữ theo trong trường hợp phạm tội nghiêm trọng do cố ý hoặc phạm tội đặc biệt nghiêm trọng Người từ
đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi có thể bị tạm giữ trong trường hợp phạm tội nghiêm trọng do cố ý, phạm tội rất nghiêm trọng hoặc phạm tội đặc biệt nghiêm trọng Cơ quan ra lệnh tạm giữ người chưa thành niên phải thông báo cho gia đình, người đại diện hợp pháp người đại diện hợp pháp của họ biết ngay sau khi tạm giữ
Trang 10b Chế độ tạm giữ
Chế độ tạm giữ được quy định tại Điều 88 Bộ luật tố tụng hình sự Tạm giữ không phải là một hình phạt mà là một biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự
Vì vậy, chế độ tạm giữ cũng khác với chế độ đối với người chấp hành hình phạt tù Nơi tạm giữ, chế độ sinh hoạt, nhận quà, liên hệ với gia đình và các chế độ khác được thực hiện theo quy định của Chính phủ Nghị định số 89/CP ban hành ngày 7/11/1998 về quy chế tạm giữ, tạm giam và Nghị định 98/2002/NĐ-CP sửa dổi, bổ sung một số điều của quy chế về tạm giữ, tạm giam ban hành kèm theo Nghị định
89 đã góp phần đảm bảo quyền lợi của người bị tạm giữ
c Những biện pháp bảo hộ của pháp luật đối với nhân thân và tài sản của người bị tạm giữ
Điều 90 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy định khi áp dụng biện pháp tạm giữ nếu người bị tạm giữ có con chưa thành niên dưới 14 tuổi hoặc có người thân thích là người tàn tật già yếu mà không có người chăm sóc thì cơ quan ra quyết định tạm giữ giao những người đó cho người thân thích khác chăm sóc, trong trường hợp không có người thân thích khác thì cơ quan ra quyết định tạm giữ giao những người đó cho chính quyền sở tại chăm nom Đối với tài sản của người bị tạm giữ không có người trông nom, bảo quản thì cơ quan ra quyết định tạm giữ phải áp dụng những biện pháp trông nom,bảo quản thích đáng Sau khi áp dụng các biện bảo hộ đối với nhân thân và tài sản của người bị tạm giữ, cơ quan ra quyết định tạm giữ phải thông báo ngay cho người bị tạm giữ biết những biện pháp đã được áp dụng Quy định này thể hiện tính chất nhân đạo của nhà nước ta, bảo đảm những quyền lợi chính đáng của người bị tạm giữ
d Vấn đề bồi thường thiệt hại cho người bị tạm giữ oan sai.
Việc tạm giữ người không đúng theo quy định của pháp luật vẫn đã còn xảy ra
ở nhiều nơi Vấn đề bồi thường thiệt hại cho người bị tạm giữ oan sai được quy