“Tiền” trong chu trình rửa tiền là “tiền bẩn” - tiền có nguồn gốc tội phạm như tham nhũng, buôn bán ma tuý, vũ khí, khủng bố, tống tiền, làm giả thẻ tín dụng… Hiện nay, do tác động và ản
Trang 1Bộ t pháp trờng đại học luật hà nội
-Bài TậP lớn cuối kỳ
MÔN: tội phạm quốc tế
Đề bài 04:
1 Phõn tớch khỏi niệm, đặc điểm của tội phạm rửa tiền theo phỏp luật quốc tế và Việt Nam?
Cụng ước của Liờn Hợp quốc?
Lớp : NO3
Hà Nội – 2012 LỜI NểI ĐẦU
Tội phạm rửa tiền và tội phạm ma tỳy là một trong những tội phạm nguy hiểm đó được ghi nhận trong nhiều cụng ước quốc tế và quy định trong phỏp luật Việt Nam
Trang 2Để hiểu rõ hơn về 2 loại tội phạm này, trong phạm vi bài tiểu luận cuối kỳ, người viết chọn đề tài “Phân tích khái niệm, đặc điểm của tội phạm rửa tiền theo pháp luật quốc tế và Việt Nam? Phân tích nội dung cơ bản về quy định tội phạm
ma túy trong các Công ước của Liên Hợp quốc?”
NỘI DUNG
1 Phân tích khái niệm, đặc điểm của tội phạm rửa tiền theo pháp luật quốc tế và Việt Nam?
1.1 Khái niệm, đặc điểm của tội phạm rửa tiền theo pháp luật quốc tế.
Trong đời sống kinh tế - xã hội hiện nay, “rửa tiền” không còn là một thuật ngữ mới mẻ ở các quốc gia Khái niệm rửa tiền (money laundering) đã xuất hiện
từ thế kỷ XVIII, trong những vụ án hình sự tại Hoa Kỳ Sớm hơn, theo các sử gia, khoảng hơn ba nghìn năm trước, tại Trung Quốc đã có những hoạt động này của các thương nhân nhằm tránh thuế của triều đình
Tuy nhiên, phải đến thế kỷ XIX, người ta mới chính thức nhắc đến “rửa
tiền” như là một hành vi phạm tội và chính thức bị coi là bất hợp pháp tại Mỹ từ
năm 1986 Cùng với toàn cầu hoá, rửa tiền đã bùng nổ ở nhiều quốc gia, gây những hậu quả nghiêm trọng về kinh tế - xã hội, đặc biệt ở các nước đang phát triển hoặc các nền kinh tế đang trong quá trình chuyển đổi
Đến nay, “rửa tiền” đã được hầu hết các quốc gia quy định là hành vi phạm
tội, đồng thời đưa ra các biện pháp phòng, chống nạn rửa tiền song song với các hình phạt thích đáng Bên cạnh đó các quốc gia trên thế giới đã có những hành động hợp tác song phương và đa phương trong cuộc chiến chống nạn rửa tiền Một trong những tổ chức quốc tế đầu tiên được thành lập nhằm hạn chế, ngăn ngừa loại tội phạm này là Lực lượng đặc nhiệm tài chính chống rửa tiền, hay còn gọi là FATF vào năm 1989 Tổ chức này do các ngân hàng, các tổ chức tài chính quốc tế và các nhà lãnh đạo của nhóm G7 thành lập nên Tổ chức hoạch định chính sách liên chính phủ này có trách nhiệm kiểm soát những mánh khoé và xu hướng rửa tiền, giám sát hoạt động quốc nội và quốc tế, xác định các nguyên nhân phát sinh và đưa ra các biện pháp ngăn ngừa tệ nạn này Hiện nay, với nỗ
Trang 3lực tạo sức mạnh đồng bộ của cả cộng đồng quốc tế, Liên hợp quốc đã có Chương trình Chống Rửa Tiền Toàn Cầu (The Global Programme against Money Laundering - GPML) đặt trụ sở tại Bỉ Tuy nhiên số quốc gia là thành viên của Chương trình này không nhiều
Tiếp cận theo hướng chung nhất, “rửa tiền” là một quy trình mà nhờ đó
nguồn gốc bất hợp pháp của đồng tiền được che đậy “Tiền” trong chu trình rửa tiền là “tiền bẩn” - tiền có nguồn gốc tội phạm như tham nhũng, buôn bán ma tuý, vũ khí, khủng bố, tống tiền, làm giả thẻ tín dụng… Hiện nay, do tác động và
ảnh hưởng xấu của “rửa tiền” đối với nền kinh tế xã hội của mỗi quốc gia, khu vực và quốc tế, “rửa tiền” được khẳng định là một hành vi phạm tội Hầu hết các quốc gia quy định, “rửa tiền là một hành vi phạm tội mà thông qua đó, cá
nhân hay một nhóm người sử dụng các công cụ và phương tiện để che giấu, nguỵ trang hay tìm cách xoá bỏ nguồn gốc thật sự của khoản thu nhập bất hợp pháp như buôn lậu, tham nhũng, trốn thuế…” Công ước Kiểm soát ma tuý của
Liên hợp quốc năm 1988 lần đầu tiên đưa ra khái niệm về rửa tiền và có quy định bắt buộc các quốc gia thành viên quy định là hành vi tội phạm trong pháp luật nước mình Khái niệm này được đưa ra dưới dạng liệt kê các hành vi cấu
thành Theo đó, rửa tiền là “Hành vi chuyển đổi hoặc chuyển giao tài sản khi
biết rằng tài sản đó thu được từ buôn bán ma tuý hoặc từ việc tham gia vào hoạt động phạm tội với mục đích che dấu nguồn gốc tài sản hoặc giúp người thực hiện các hành vi trên trốn tránh trách nhiệm pháp lý các hành vi của mình; Hành vi che dấu hoặc nguỵ trang hình thái tự nhiên, nguồn gốc, địa điểm, việc định đoạt, chuyển nhượng quyền sở hữu tài sản hoặc các quyền liên quan đến tài sản mà biết rõ là tài sản do phạm tội buôn bán ma tuý mà có; Hành vi mua, tàng trữ hoặc sử dụng tài sản” Tại Công ước Chống tham nhũng của Liên hợp
quốc, tội tẩy rửa tiền do phạm tội mà có được quy định tại Điều 3 Theo đó, rửa
tiền được quy định là hành vi: “(i) Chuyển đổi hay chuyển nhượng tài sản, cho
dù biết đó là tài sản do phạm tội mà có, nhằm che dấu hoặc nguỵ trang ngồn gốc bất hợp pháp của tài sản đó hoặc nhằm giúp đỡ bất kỳ ai có liên quan đến
Trang 4việc thực hiện tội phạm gốc để lẩn tránh trách nhiệm pháp lý do hành vi của người này mang lại; (ii) Che dấu hoặc ngụy trang bản chất thực sự, nguồn gốc, địa điểm sự chuyển nhượng, sự vận chuyển hoặc sở hữu hoặc các quyền liên quan đến tài sản, dù biết tài sản đó do phạm tội mà có; (iii) Phụ thuộc vào các khái niệm căn bản của hệ thống pháp luật quốc gia: Nhận, sở hữu hoặc sử dụng tài sản, mà tại thời điểm nhận đã biết rằng tài sản đó do phạm tội mà có; Tham gia, phối hợp hoặc có âm mưu thực hiện hành vi, cố gắng thực hiện hành vi hay giúp sức, xúi giục, tạo điều kiện thuận lợi và bầy mưu để thực hiện bất kỳ một tội phạm nào tương ứng với quy định tại điều này khi biết rõ là tài sản do phạm tội buôn bán ma tuý mà có”.
Rửa tiền là hành vi rất nguy hiểm Nó không chỉ gây thiệt hại nghiêm trọng cho các nền kinh tế mà còn có những ảnh hưởng đến an ninh từng quốc gia, tác động nghiêm trọng đến sự trong sạch và hoàn chỉnh của hệ thống tài chính toàn thế giới Hành vi rửa tiền được xem là một tội phạm “không biên giới” - một tội
phạm quốc tế điển hình vì hành vi này mang 2 đặc trưng chính:
- Có thể xảy ra từ khi bắt đầu đến kết thúc liên quan đến nhiều quốc gia
- Muốn chống lại hành vi rửa tiền hiệu quả, phải có sự hợp tác quốc tế chặt chẽ giữa các quốc gia
1.2 Khái niệm, đặc điểm của tội phạm rửa tiền theo pháp luật Việt Nam.
Ở Việt Nam, cho đến trước khi có Nghị định 74/2005/NĐ-CP của chính phủ, chưa có một đạo luật độc lập quy định về vấn đề này Tuy nhiên hành vi này đã được nhận thức và ghi nhận tại Điều 251 của Bộ luật Hình sự cùng các văn bản pháp luật khác như Luật ngân hàng, Luật các tổ chức tín dụng… Điều luật đã nêu bật lên được nội hàm cơ bản của hành vi rửa tiền, cụ thể đã nêu lên nguồn gốc của
khoản tiền được coi là bất hợp pháp là tiền do phạm tội mà có và các phương thức phạm tội của hành vi rửa tiền, đó là thông qua các hoạt động tài chính, ngân hàng
hoặc các giao dịch khác để hợp pháp hoá tiền, tài sản do phạm tội mà có hoặc sử dụng tiền tiến hành các hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động kinh tế khác Quy
Trang 5định này có thể coi như tiếp cận đầu tiên của Việt Nam về vấn đề này và ghi nhận
nó là một hành vi phạm tội Ngày 7 tháng 6 năm 2005, Nghị định 74/2005/NĐ-CP
ra đời tạo một bước nhấn quan trọng trong việc hoàn thiện pháp luật về vấn đề này, cùng với các thiết chế hình sự và tài chính, ngân hàng khác kiểm soát chặt chẽ hơn các hành vi nhằm hợp pháp hoá tiền, tài sản do phạm tội mà có Nghị định đã đưa
ra một khái niệm toàn diện hơn về hành vi rửa tiền, phù hợp hơn với cách tiếp cận
về vấn đề này của pháp luật quốc tế Theo quy định tại Khoản 1 Điều 3 của Nghị
định, “rửa tiền là hành vi của cá nhân, tổ chức tìm cách hợp pháp hoá tiền, tài sản
do phạm tội mà có thông qua các hoạt động cụ thể sau đây:
Tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào mọi giao dịch liên quan đến tiền, tài sản do phạm tội mà có;
Thu nhận, chiếm giữ, chuyển dịch, chuyển đổi, chuyển nhượng, vận chuyển,
sử dụng, vận chuyển qua biên giới tiền, tài sản do phạm tội mà có;
Đầu tư vào một dự án, một công trình, góp vốn vào một doanh nghiệp hoặc tìm cách khác che đậy, nguỵ trang hoặc cản trở việc xác minh nguồn gốc, bản chất thật sự hoặc vị trí, quá trình di chuyển hoặc quyền sở hữu đối với tiền, tài sản do phạm tội mà có”.
Tiếp đó, luật Phòng, chống rửa tiền được Quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ 3 vừa qua (có hiệu lực từ ngày 1/1/2013) được kỳ vọng sẽ ngăn chặn hành vi rửa tiền - vốn đang bị cảnh báo biến tướng tinh vi ở Việt Nam hiện nay, tại Điều
4 đã đưa ra định nghĩa khái quát theo kiểu liệt kê”:
“Rửa tiền là hành vi của tổ chức, cá nhân nhằm hợp pháp hóa nguồn gốc của tài sản do phạm tội mà có, bao gồm:
a) Hành vi được quy định trong Bộ luật Hình sự;
b) Trợ giúp cho tổ chức, cá nhân có liên quan đến tội phạm nhằm trốn tránh trách nhiệm pháp lý bằng việc hợp pháp hóa nguồn gốc tài sản do phạm tội mà có;
c) Chiếm hữu tài sản mà tại thời điểm nhận tài sản đã biết rõ tài sản đó do phạm tội mà có nhằm hợp pháp hóa nguồn gốc tài sản”.
Trang 61.3 Chu trình “rửa tiền” của tội phạm.
Việc rửa tiền thường được tiến hành theo một chu trình cơ bản bao gồm 3 giai đoạn: phân phối, dàn trải, hội nhập
- Giai đoạn phân phối (placement): Phân phối nguồn tiền từ các hoạt động phi pháp vào các định chế tài chính mà không bị phát hiện bởi các cơ quan luật pháp Các tội phạm rửa tiền thực hiện đầu tư phân tán bằng cách chia các khoản
“tiền bẩn” thành nhiều khoản tiền nhỏ dưới mức quy định
- Giai đoạn dàn trải (layering): Tiền được chuyển từ tổ chức tài chính nầy sang tổ chức tài chính khác để che giấu nguồn gốc và chủ sở hữu của tiền Thực chất đây là quy trình tạo ra một chuỗi các giao dịch nhằm mục đích che đậy các nguồn tiền từ các hoạt động phi pháp và làm cho chúng ngày càng xa nguồn gốc ban đầu
- Giai đoạn hội nhập (integration): Tiền được đầu tư vào những hoạt động kinh doanh hợp pháp
2 Phân tích nội dung cơ bản về quy định tội phạm ma túy trong các Công ước của Liên Hợp quốc.
Chính phủ Việt Nam rất coi trọng hợp tác quốc tế trong phòng, chống ma tuý, bằng việc tăng cường, mở rộng quan hệ hợp tác song phương, đa phương trong lĩnh vực phòng, chống ma tuý với các nước, các tổ chức phi Chính phủ, đặc biệt với sự hỗ trợ của Tổ chức phòng, chống tội phạm và ma tuý của Liên hợp quốc (UNODC), với các nước tiểu vùng sông Mêkông và với các quốc gia
có chung đường biên giới Ngày 01/9/1997, Chủ tịch Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ra Quyết định số 798/QĐ-CTN về việc tham gia 3 Công ước quốc tế về kiểm soát ma tuý đó là: Công ước thống nhất về các chất ma tuý năm 1961; Công ước về các chất hướng thần năm 1971 và Công ước của Liên hợp quốc về chống buôn bán bất hợp pháp các chất ma tuý và các chất hướng thần năm 1988
2.1 Sơ lược về các Công ước của Liên hợp quốc.
2.1.1 Công ước thống nhất về các chất ma tuý năm 1961.
Trang 7- Hoàn cảnh ra đời: được thông qua 1961, có hiệu lực 1964 (sau được bổ sung bằng nghị định thư 1972) do tình hình buôn bán và sử dụng các chất ma túy trong những năm 1960 đã trở nên phức tạp
- Mục đích chủ yếu:
+ Hệ thống hóa, tuyên bố lại và tập hợp tất cả các nguyên tắc trong văn bản
đa phương có hiệu lực về kiểm soát đấu tranh chống ma túy
+ Củng cố và tăng cường một cách hài hòa các cố gắng của cộng đồng quốc tế trong kiểm soát ma túy
- Nội dung chủ yếu:
+ Quy định việc hạn chế trồng trọt, chế biến, buôn bán xuất, nhập khẩu, phân bố và sử dụng các chất ma túy tự nhiên sử dụng phù hợp trong y học và nghiên cứu khoa học
+ Nhấn mạnh việc ngăn chặn, lạm dụng ma túy, tìm các biện pháp phòng ngừa và đấu tranh chống nạn nghiện ma túy bằng cách yêu cầu các chính phủ cung cấp các điều kiện, phương tiện điều trị, chăm sóc và phục hồi đối với người
bị phụ thuộc vào các chất ma túy
+ Quy định 116 chất có ma túy phải kiểm soát, chia thành 4 loại bị kiểm soát tùy theo tính chất nguy hiểm và tiềm năng bị lạm dụng do phải điều chỉnh việc sử dụng Đây là các chất chiết suất từ ma túy tự nhiên (như thuốc phiện) và các chất dẫn xuất nó (như morphin )
- Nghị định thư 1972 bổ sung công ước 1961
+ Hợp lý hóa và mở rộng sự giám sát, kiểm soát của ban kiểm soát ma túy quốc tế
+ Yêu cầu các quốc gia thành viên báo cáo đầy đủ và tập trung hơn vào điều trị, săn sóc, tạo điều kiện cho người nghiện ma túy tái hòa nhập cộng đồng sau cai nghiện
+ Nhấn mạnh yêu cầu chống lạm dụng ma túy thông qua các hoạt động hợp tác quốc tế
- Hai hình thức kiểm soát ma túy được thực hiện song song là:
Trang 8+ Nghiêm cấm các hoạt động tàng trữ, sử dụng, mua bán,
+ Điều tra, khám phá các vụ buôn bán trái phép chất ma túy có tính chất xuyên quốc gia
2.1.2 Công ước về các chất hướng thần năm 1971.
- Hoàn cảnh ra đời: Đầu những năm 1970, mối lo lắng ngày càng tăng do hậu quả sử dụng các chất kích thích, chất gây hại thần kinh, cách chất gây ảo giác
Công ước được thông qua 1971 và có hiệu lực từ 1976
- Mục đích chủ yếu: Đặt ra việc kiểm soát ở tầm quốc gia và quốc tế những chất hướng thần đang bị lạm dụng hoặc có thể bị lạm dụng trong tương lai, có hại cho sức khỏe con người
- Nội dung chủ yếu: quy định 105 chất hướng thần và tiền chất (chất dẫn xuất) cần kiểm soát chia thành 4 bảng, tùy thuộc mức độ nguy hiểm, tiềm năng
bị lạm dụng và tác động gây bệnh nếu có, với các yêu cầu khác nhau về chỉ tiêu sản xuất, lưu giữ hồ sơ và hạn chế khai báo xuất nhập khẩu Đây là các chất gây
ảo giác, chất kích thích và một số chất khác
2.1.3 Công ước của Liên hợp quốc về chống buôn bán bất hợp pháp các chất ma tuý và các chất hướng thần năm 1988.
- Mục đích: Thúc đẩy sự hợp tác giữa các quốc gia thành viên để đối phó một cách hữu hiệu hơn với việc buôn bán bất hợp pháp ma túy và các chất hướng thần
- Nội dung:
+ Quy định một số tội danh và hình phạt tương đối thống nhất trong buôn bán ma túy
+ Thiết lập những biện pháp xác định, theo dõi ngăn chặn, bắt giữ, tịch thu những khoản thu nhập do buôn bán ma túy
+ Xác định các biện pháp tương trợ pháp lý trong việc điều tra, khởi tố, xét
xử tội phạm ma túy
+ Các biện pháp chống cung và giảm cầu tiêu thụ
Trang 9- Ý nghĩa:
+ Khắc phục được những điểm còn khiếm khuyết về kiểm soát các chất ma túy và các chất hướng thần chưa được nêu trong các công ước trước đó
+ Lần đầu tiên các khái niệm về tội phạm, hành vi phạm tội về ma túy được quy định chi tiết (Điều 3) Đảm bảo cho Công ước có tình toàn diện, có hiệu quả
và đủ hiệu lực để tiến hành những biện pháp cụ thể phòng, chống các hoạt động buôn bán bất hợp pháp các chất ma túy là mối nguy hại có tính toàn cầu
2.2 Quy định liên quan đến tội phạm ma túy trong 3 công ước.
- Căn cứ pháp lý:
+ Điều 36: Công ước thống nhất về các chất ma túy năm 1961
+ Điều 22: Công ước về các chất hướng thần năm 1971
+ Điều 3: Công ước của Liên hợp quốc về chống buôn bán bất hợp pháp các chất ma tuý và các chất hướng thần năm 1988
- Nội dung cơ bản:
(1) Quy định về tội phạm (Điều 3 Công ước 1988)
“1 Theo nội luật của mình, mỗi bên của Công ước sẽ áp dụng những biện pháp cần thiết để coi là tội phạm hình sự những hành vi dưới đây nếu chúng được cố ý thực hiện:
a) i) Sản xuất, điều chế, chiết xuất, pha chế, chào hàng, phân phối, bán, trao đổi dưới bất cứ hình thức nào như môi giới, gửi, quá cảnh, vận chuyển, nhập khẩu, xuất khẩu ma tuý và các chất hưởng thần trái với các quy định của Công ước 1961, Công ước 1961 sửa đổi hoặc Công ước 1971;
ii) Trồng cây thuốc phiện, cây côca hay cây cần sa với mục đích sản xuất trái phép ma tuý, trái phép với các quy định của Công ước 1961 và Công ước
1961 sửa đổi;
iii) Tàng trữ hoặc mua bán bất kỳ chất ma tuý hoặc chất hướng thần nào với mục đích thực hiện bất kỳ hoạt động nào quy định tại điểm (i) nói trên; iv) Điều chế, vận chuyển hay cung cấp phương tiện, nguyên liệu hoặc các chất trong các Bảng I và Bảng II mà biết rõ những chất đó được sử dụng để
Trang 10trồng trọt, sản xuất, điều chế trái phép các chất ma tuý hoặc các chất hướng thần;
v) Tổ chức, chỉ đạo hoặc tài trợ cho bất kỳ hành động phạm tội nào quy định tại các điểm (i), (ii), (iii) hoặc (iv) nói trên;
b) i) Chuyển đổi hoặc chuyển giao tài sản khi biết rằng tài sản đó thu được
từ bất kỳ hành vi phạm tội nào được quy định tại điểm (a) của khoản này hoặc
từ việc tham gia vào hoạt động phạm tội đó với mục đích che giấu hoặc ngụy trang nguồn gốc bất hợp pháp của tài sản hoặc giúp bất kỳ người nào có dính líu vào hành vi phạm tội như vậy trốn tránh trách nhiệm hình sự của hành vi đó; ii) Che giấu hoặc ngụy trang bản chất thực sự nguồn gốc, địa điểm, chuyển nhượng, chuyển quyển sở hữu tài sản mà biết rõ tài sản đó thu được từ hoạt động phạm tội đã được quy định tại điểm (a) được quy định tại điểm này;
c) Dựa theo những quy định của Hiến pháp và những khái niệm cơ bản của
hệ thống pháp luật của từng nước;
i) Việc có được sở hữu, hoặc sử dụng tài sản mà vào thời điểm đó biết rõ đấy là tài sản do phạm tội quy định tại điểm (a) khoản này hoặc do tham gia vào những hoạt động phạm tội đó mà có;
ii) Tàng trữ những phương tiện, nguyên liệu hoặc các chất liệt kê trong Bảng I và Bảng II mà biết rõ những thứ đó đang hoặc sẽ được sử dụng trái phép cho các mục đích trồng, sản xuất hoặc điều chế các chất ma tuý và các chất hướng thần;
iii) Bằng mọi cách kích động hoặc xúi giục người khác phạm tội quy định tại Điều này hoặc sử dụng trái phép các chất ma tuý và các chất hướng thần; iv) Tham gia, cấu kết hoặc có âm mưu phạm các tội quy định tại Điều này, cũng như có hành vi giúp sức, xúc giục, thúc đẩy hoặc dụ dỗ người khác phạm bất kỳ tội nào quy định tại Điều này.
2 Dựa theo những quy định của Hiến pháp và những khái niệm cơ bản của
hệ thống pháp luật của mình, mỗi bên có những biện pháp cần thiết để coi là tội phạm hình sự theo luật riêng của mình, khi hành vi đó là cố ý sử dụng, tàng trữ