- ASEAN cũng đã thiết lập được quan hệ hợp tác nhiều mặt với các Đối tác trong và ngoài khu vực thông qua các tiến trình như ASEAN+1 hợp tác ASEAN với từng Đối tác; ASEAN+3 với 3 nước Tr
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Hơn 40 năm là cả một chặng đường dài của hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á – ASEAN, trải qua nhiều thăng trầm, vượt lên tất cả thách thức Asean đã xây dựng Đông Nam Á trở thành một khu vực hòa bình – tự do – trung lập, không vũ khí hạt nhân, một cộng đồng của các dân tộc đoàn kết, gắn bó với nhau vì vận mệnh chung, vượt qua đói nghèo, tiến tới phồn vinh, thịnh vượng Asean đã trở thành một thực thể chính trị - kinh
tế quan trọng ở Châu Á – Thái Bình Dương và là đối tác không thể thiếu trong chính sách khu vực của các nước lớn và các tổ chức quan trong thế giới So với EU thì Asean còn phải nỗ lực và cố gắng nhiều hơn để có thể đuổi kịp thị trường kinh tế chung đứng đầu thế giới Để đạt được mục tiêu đó Asean cần có cách thức tổ chức quản lí phù hợp
và các chương trình hành động cụ thể, thông qua hoạt động của các hệ thống cơ quan, tổ chức của Asean và các nước thành viên, điều này đã được cụ thể hóa tại bản hiến chương Asean 2007, có hiệu lực năm 2008
Trong đề tài lần này nhóm 11 xin được trình bày những hiểu biết của mình về hệ thống thiết chế pháp lý của ASEAN theo hiến chương, dưới đây là nội dung chi tiết
NỘI DUNG CHÍNH
I Khái quát về hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á - Asean
1 Quá trình hình thành và phát triển của Asean
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (Association of Southeast Asian Nations, viết tắt
là ASEAN) là tổ chức liên chính phủ được thành lập ngày 8/8/1967 tại Băng-cốc, Thái Lan trên cơ sở Tuyên bố Băng-cốc với 5 thành viên ban đầu (Thái Lan, Malaisia, Philipin, Singapor và Indonexia) Nhưng đến nay, số lượng thành viên Asean đã chính thức lên đến 10 thành viên với sự gia nhập của các quốc gia: Brunei Darusalam (1984), Việt Nam (1995), Lào và Myanma (1997), Campuchia (1999) Với mục tiêu tăng cường hợp tác chính trị, an ninh, kinh tế và văn hoá - xã hội giữa các nước thành viên, tạo điều kiện hội nhập sâu hơn với khu vực và thế giới
- Qua quá trình phát triển, ASEAN đã mở rộng bao gồm 10 quốc gia ở Đông Nam Á
là In-đô-nê-xia, Ma-lai-xi-a, Phi-lip-pin, Xinh-ga-po, Thái Lan, Bru-nây, Việt Nam, Lào, Mi-an-ma và Căm-pu-chia
- Tổng diện tích các nước ASEAN vào khoảng 4,43 triệu km2, với dân số gần 592 triệu người Tổng thu nhập quốc dân của các nước ASEAN năm 2009 đạt 1.492 tỷ đô-la Mỹ
- Hợp tác ASEAN ngày càng được mở rộng và đi vào chiều sâu, bao gồm nhiều lĩnh vực từ chính trị - an ninh đến kinh tế thương mại, đầu tư, văn hóa, giáo dục, y tế, môi trường, khoa học-công nghệ…
Trang 2- ASEAN cũng đã thiết lập được quan hệ hợp tác nhiều mặt với các Đối tác trong và ngoài khu vực thông qua các tiến trình như ASEAN+1 (hợp tác ASEAN với từng Đối tác); ASEAN+3 (với 3 nước Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc); Cấp cao Đông Á (với 3 nước Đông Bắc Á và Ấn Độ, Ôx-trây-lia, Niu Di-lân); Diễn đàn Khu vực ASEAN (ARF)…
Sau 4 thập kỷ tồn tại và phát triển, ASEAN đã lớn mạnh thành một trở thành một thực thể chính trị - kinh tế gắn kết, có vai trò quan trọng đóng góp cho hòa bình, ổn định
và
hợp tác ở khu vực và là đối tác không thể thiếu của các nước và các tổ chức lớn trên thế giới Trên nền tảng đó, ASEAN đã nhất trí đẩy mạnh hợp tác và tăng cường liên kết nhằm hướng tới xây dựng một Cộng đồng ASEAN vững mạnh dựa trên ba trụ cột là Chính trị-An ninh, Kinh tế và Văn hóa-Xã hội vào năm 2015
- Cộng đồng Chính trị-An ninh ASEAN nhằm mục tiêu tạo dựng một môi trường hòa bình và an ninh cho phát triển ở khu vực Đông Nam Á thông qua việc nâng hợp tác chính trị-an ninh ASEAN lên tầm cao mới, với sự tham gia và đóng góp xây dựng của cả các đối tác bên ngoài
- Cộng đồng Kinh tế ASEAN nhằm mục tiêu tạo ra một thị trường chung duy nhất và
cơ sở sản xuất thống nhất, trong đó có sự lưu chuyển tự do của hàng hóa, dịch vụ, đầu
tư, vốn và lao động; từ đó nâng cao tính cạnh tranh và thúc đẩy sự thịnh vượng chung cho cả khu vực; tạo ra sự hấp dẫn với đầu tư-kinh doanh từ bên ngoài
- Cộng đồng Văn hóa-Xã hội ASEAN với mục tiêu tổng quát là phục vụ và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân ASEAN, tập trung xử lý các vấn đề liên quan đến bình đẳng và công bằng xã hội, bản sắc văn hóa, môi trường, tác động của toàn cầu hóa
và cách mạng khoa học công nghệ
2 Sự ra đời và ý nghĩa Hiến chương Asean 2007.
Sau khi ra đời, ASEAN đã khẳng định sự cần thiết xây dựng một Hiến chương ASEAN làm văn kiện pháp lý tổng thể tạo khung pháp lý và khuôn khổ thể chế nhằm thúc đẩy hơn nữa các hoạt động hợp tác của Hiệp hội Ý tưởng về việc xây dựng bản Hiến chương ASEAN được nhất trí từ Hội nghị Cấp cao ASEAN-10 (Vientiane, Lào, 2004) và sau đó, được chính thức hóa bằng các Tuyên bố Kuala Lumpur và Cebu về xây dựng Hiến chương ASEAN tại Hội nghị Cấp cao 11 (Malaysia, 2005) và 12 (Philippines, 1/2007) Tại Hội nghị Cấp cao ASEAN 13 (Singapore, tháng 11/2007), các Lãnh đạo ASEAN đã ký thông qua Hiến chương, và đến ngày 15/12/2008 sau 30 ngày được cả 10 nước thành viên nộp lưu chiểu văn kiện phê chuẩn, Hiến chương Asean chính thức có hiệu lực1 Có thể nói, việc ra đời bản Hiến chương là một sự kiện pháp lý đặc biệt quan trọng đối với Hiệp hội, bởi ngoài việc thiết lập nên một khung pháp lý
1 Nguồn: http://www.mofahcm.gov.vn/tintuc_sk/nr060726152438/ns081219170828/newsitem_print_preview
Trang 3vững vàng, cung cấp tư cách pháp nhân cho tổ chức này trong quan hệ với các đối tác, Hiến chương còn tạo nên nhiều chuyển biến đáng kể trong bộ máy tổ chức và phương hướng hoạt động của Asean
II Hệ thống các thiết chế pháp lý của Asean
1 Cấp cao Asean (Asean summit)
Cấp cao Asean là cơ quan quyền lực cao nhất ở Asean, bao gồm các nguyên thủ quốc gia hoặc những người đứng đầu chính phủ của các quốc gia thành viên Đây là cơ quan hoạch định chính sách tối cao của Asean, quyết định các vấn đề then chốt của Hiệp hội liên quan đến việc thực hiện các mục tiêu của Asean và lợi ích của các quốc gia thành viên; xử lý các tình huống khẩn cấp; kết nạp thêm thành viên mới,…cùng một số chức năng khác như quy định tại khoản 2 Điều 1 Hiến chương Asean
Hội nghị cấp cao ASEAN, hay còn gọi là hội nghị thượng đỉnh ASEA (ASEAN Summit), theo khoản 3 Điều 7 Hiến chương, sẽ tiến hành 2 năm một lần do thành viên quốc gia giữ chức chủ tịch chủ trì và tổ chức; hoặc nhóm họp bất thường khi cần thiết Thông thường, một Hội nghị cấp cao Asean bao gồm các phiên họp nội bộ giữa các nhà lãnh đạo mười nước thành viên, phiên hội nghị giữa các nhà lãnh đạo với các ngoại trưởng của các nước thành viên trong Diễn đàn an ninh ASEAN, phiên họp giữa các nhà lãnh đạo ASEAN+3… Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ nhất được tổ chức vào năm
1976, đến nay đã có đến 19 kì hội nghị
2 Hội đồng điều phối Asean (Coordinating council)
Theo Điều 8 Hiến chương Asean, Hội đồng điều phối Asean bao gồm các Bộ trưởng ngoại giao Asean và họp ít nhất hai lần một năm Hội đồng điều phối thực hiện nhiệm vụ trong việc chuẩn bị các cuộc họp cho Cấp cao Asean; phối hợp hoạt động cho các Hội đồng cộng đồng; xem xét báo cáo hàng năm của Tổng thư ký về hoạt động của Asean,…
và các nhiệm vụ khác mà Hiến chương quy định
3 Các hội đồng Cộng đồng (Community Council)
Các hội đồng cộng đồng được quy định tại điều 9 Hiến chương, theo đó bao gồm Hội đồng cộng đồng chính trị - an ninh, Hội đồng cộng đồng kinh tế, Hội đồng cộng đồng văn hóa – xã hội ASEAN (khoản 1) Mỗi quốc gia thành viên sẽ chỉ định một đại diện quốc gia tham dự cuộc họp của Hội đồng cộng đồng ASEAN (khoản 3), và trực thuộc mỗi Hội đồng Cộng đồng là các cơ quan chuyên ngành cấp bộ trưởng (khoản 2)
Mỗi Hội đồng cộng đồng, trong phạm vi chức năng của mình, chịu trách nhiệm triển khai các quyết định của Cấp cao Asean; điều phối các công việc cũng như khuyến nghị những vấn đề thuộc phạm vi mình phụ trách lên cơ quan hoạch định chính sách của
Trang 4Asean2 Mỗi Hội đồng cộng đồng Asean sẽ họp ít nhất hai lần một năm và do Bộ trưởng
có liên quan của quốc gia thành viên giữ cương vị Chủ tịch Asean chủ trì
4 Các cơ quan chuyên ngành cấp Bộ trưởng Asean (Sectoral Ministerial Bodies)
Các cơ quan chuyên ngành cấp Bộ trưởng là các thiết chế trực thuộc các Hội đồng Cộng đồng, như: Ủy ban về Khu vực Đông Nam Á không có vũ khí hạt nhân (SEANWFZ),… (thuộc APSC); Hội đồng khu vực thương mại tự do ASEAN (AFTA), Hội đồng đầu tư Asean (AIA),… (thuộc AEC); Hội nghị bộ trưởng ASEAN phụ trách thông tin (AMRI),…(thuộc ASCC)
Trong Hiến chương 2007, nhiệm vụ, chức năng của các cơ quan này đã được ghi nhận khá rõ ràng tại khoản 1 Điều 10, đó là: thực hiện các thỏa thuận và các quyết định của cấp cao Asean trong phạm vi mình phụ trách; tăng cường hợp tác trong các lĩnh vực thuộc phạm vi chức trách của mình để hỗ trợ cho việc liên kết và xây dựng Cộng đồng Asean; đệ trình các báo cáo và khuyến nghị lên các Hội đồng cộng đồng liên quan và các hoạt động khác theo chức năng, quyền hạn đã được xác định
Bên cạnh đó, theo khoản 2 Điều 10, mỗi cơ quan chuyên ngành cấp Bộ trưởng Asean, trong phạm vi chức trách của mình có thể giao cho các quan chức cao cấp và các
cơ quan trực thuộc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ cần thiết (như trong Phụ lục 1 của Hiến chương)
5 Tổng thư kí và ban thư kí
Điều 11 Hiến chương ASEAN quy định: Ban thư ký ASEAN do Tổng thư ký ASEAN đứng đầu Tổng thư kí ASEAN được các nước thành viên bổ nhiệm luân phiên theo nhiệm kỳ 5 năm (không được tái bổ nhiệm), có tính đến sự liêm khiết, năng lực làm việc, kinh nghiệm chuyên môn và cả sự cân bằng về giới Tổng thư ký là quan chức Hành chính đứng đầu của ASEAN (Chief Administrative Officer), với những nhiệm vụ chính như: tham gia và hỗ trợ các cuộc họp; giám sát việc thực hiện các thỏa thuận của Asean; thể hiện tiếng nói của Asean với bên ngoài;… (Khoản 2 Điều 11) Tổng thư ký ASEAN đương nhiệm là Tiến sĩ Surin Pitsuwan, từng là Bộ trưởng Ngoại giao của Thái Lan, nhiệm kỳ từ tháng 1/2008 - 1/2013
Giúp việc cho Tổng thư ký ASEAN có 4 Phó Tổng thư ký với hàm thứ trưởng, trong đó: 2 Phó do các nước thành viên bổ nhiệm luân phiên theo nhiệm kỳ 3 năm, không gia hạn, và 2 Phó được tuyển dụng tự do, có nhiệm kỷ 3 năm và có thể gia hạn 3 Phó Tổng thư ký phụ trách 3 trụ cột Cộng đồng của ASEAN và Phó Tổng thư ký thứ 4 phụ trách hành chính, tổng hợp, nghiên cứu và pháp lý
Ban thư kí ASEAN bao gồm Tổng thư kí và các nhân viên khác, tùy theo yêu cầu đặt
ra, thực thi nhiệm vụ vì lợi ích của ASEAN mà không nhân danh bất kì chính phủ nào
Cơ cấu tổ chức của Ban thư ký ASEAN cũng được bố trí theo mô hình của Tổng thư ký
2 Tr.257, Giao trình Luật quốc tế < ThS Nguyễn Thị Kim Ngân – ThS Chu Mạnh Hùng>
Trang 5Bên cạnh đó, mỗi quốc gia thành viên ASEAN thành lập một ban Thư kí ASEAN quốc gia, theo quy định tại điều 13 Hiến chương, với nhiệm vụ: là đầu mối và nơi lưu trữ các thông tin về Asean ở cấp quốc gia; hỗ trợ mỗi quốc gia trong công tác chuẩn bị các cuộc họp ở Asean;…
6 Uỷ ban các đại diện thường trực bên cạnh Asean (Committee of permanent representatives to Asean)
Theo Điều 12 Hiến chương, các quốc gia thành viên sẽ bổ nhiệm một Đại diện thường trực có hàm đại sứ bên cạnh Asean đặt tại Jakarta Các đại diện này sẽ hợp thành
Uỷ ban đại diện thường trực bên cạnh Asean, với các chức năng chính là: hỗ trợ các Hội đồng cộng đồng và các Cơ quan chuyên ngành cấp Bộ trưởng; hỗ trợ hoạt động hợp tác của Asean với đối tác bên ngoài; phối hợp với ban thư ký,…và các nhiệm vụ khác do Hội đồng Điều phối Asean quyết định
7 Ủy ban Asean tại nước thứ ba và các tổ chức quốc tế
Theo Điều 43 Hiến chương Asean: tại các nước ngoài khu vực Asean hay tại các tổ chức quốc tế có thể thành lập Uỷ ban Asean tại các nước thức ba và các ủy ban tương tự, với cơ cấu gồm người đứng đầu cơ quan đại diện ngoại giao các quốc gia thành viên Hiện nay có 11 Uỷ ban ASEAN tại: Bon (CHLB Đức), Bru-xen (Bỉ), Can-be-ra (Ô-xtrây-li-a), Ge-ne-vơ (Thuỵ Sĩ), Lơn-dơn (Anh), Ot-ta-oa (Ca-na-da), Pa-ri (Pháp),
Xơ-un (Hàn quốc), Oa-sing-tơn (Mỹ) và Oen-ling-tơn (Niu-di-lơn)
Chức năng chủ yếu của các Ủy ban này là: thúc đẩy lợi ích và bản sắc ASEAN tại nước chủ nhà và các tổ chức quốc tế; thúc đẩy hợp tác giữa Asean với đối tác bên ngoài,
… Ngoài các cơ quan chính nêu trên, trong cơ cấu tổ chức của Asean theo Hiến chương còn có Quỹ Asean, Cơ quan nhân quyền Asean,…
III Liên hệ với các thiết chế pháp lý của liên minh Châu Âu – EU
1 Khái quát về các thiết chế pháp lý của Liên minh Châu Âu.
Cơ cấu tổ chức của Liên minh Châu Âu được quy định tại Hiệp ước Lisbon năm
2009, theo đó bao gồm bảy cơ quan chính sau:
- Hội đồng châu âu: gồm người đứng đầu các nhà nước hoặc chính phủ quốc gia
thành viên, chủ tịch hội đồng bộ trưởng, chủ tịch ủy ban thành viên, Các cuộc họp của Hội đồng châu Âu về bản chất là một hội nghị thượng đỉnh của các nhà lãnh đạo EU nhằm đưa ra một định hướng chính trị chung và quyết định các vấn đề được ưu tiên thực hiện và thường được họp họp 4 lần trong 1 năm Hội đồng châu Âu không có quyền thông qua luật
- Nghị viện châu âu: gồm 736 nghị sĩ, được bầu từ các quốc gia thành vien, có
nhiệm kỳ 5 năm và được bầu theo nguyên tắc phổ thông đầu phiếu Theo Hiệp ước Lisbon, số lượng nghị sĩ cho mỗi quốc gia tương ứng với tỷ lệ dân số, ít nhất là 6 và
Trang 6nhiều nhất là 96 nghị sĩ Nghị viện có các nhiệm vụ như: cùng Hội đồng bộ trưởng châu
Âu thảo luận và thông qua luật châu Âu, ngân sách châu Âu; rà soát các tổ chức khác của EU, đặc biệt là ủy ban châu âu để đảm bảo rằng họ đang làm việc dân chủ
- Hội đồng bộ trưởng châu âu (hội đồng liên minh châu âu): là cơ quan có thẩm
quyền ra quyết định trong liên minh châu âu (Hội đồng sẽ thông qua pháp luật châu âu; điều phối các chính sách kinh tế của các nước thành viên EU; Phê chuẩn ngân sách EU hàng năm; phát triển chính sách đối ngoại và quốc phòng của EU) Hội đồng bao gồm 27
bộ trưởng đại diện cho 27 quốc gia thành viên của liên minh châu âu Tuy nhiên, hội đồng này không có thành viên cố định mà tại mỗi cuộc họp Hội đồng, mỗi quốc gia cử một bộ trưởng cho các lĩnh vực chính sách đang được thảo luận (Ví dụ như: trong cuộc họp đối phó với vấn đề môi trường thì mỗi quốc gia sẽ cử Bộ trưởng phụ trách vấn đề
môi trường tham gia cuộc họp sau đó và sẽ được gọi là Hội đồng Môi trường).
- Ủy ban châu âu: là cơ quan điều hành của EU Thực hiện các nhiệm vụ như: đưa
ra dự thảo luật mới để Nghị viện và Hội đồng bộ trưởng thông qua; quản lý và phân bổ ngân sách của châu Âu; thực hiện pháp luật châu âu (cùng với Tòa án Tư pháp); đại diện cho EU tham gia quan hệ quốc tế, ví dụ, bằng cách đàm phán hiệp định giữa EU và các nước khác
Thành viên của ủy ban hoạt động độc lập với quốc gia, chỉ phục vụ lợi ích của cộng đồng
- Tòa công lý châu âu: bao gồm 27 thẩm phán và 8 công tố viên, nhiệm kỳ 6 năm, có
nhiệm vụ đảm bảo cho pháp luật châu Âu được thực hiện đầy đủ trong các nước thành viên và đồng thời nó cũng giải quyết các tranh chấp giữa các tổ chức của EU với chính phủ quốc gia thanh viên hoặc giữa tổ chức của EU với các chủ thể khác nếu họ cho rằng quyền và lợi ích của họ bị tổ chức của EU xâm hại
- Tòa kiểm toán châu âu: cũng bao gồm 27 thẩm phán và cũng có nhiệm kỳ 6 năm
nhưng có nghĩa vụ thực hiện việc kiểm toán, nhằm đảm bảo việc quản lý tài chính và sử dụng công quỹ đúng mục đích
- Các cơ quan chuyên ngành gồm: ủy ban kinh tế - xã hội châu âu, ủy ban vùng,
ngân hàng đầu tư châu âu, thanh tra châu Âu, giám sát, bảo vệ dữ liệu châu âu,…
2 Điểm khác biệt giữa thiết chế pháp lý của Asean với EU
Thứ nhất, trong mô hình tổ chức: ASEAN được thiết lập theo mô hình hình chóp quyền lực: bên cạnh hội nghị cấp cao là cơ quan quyền lực cao nhất còn có các cơ quan
điều phối như: Hội đồng điều phối để phối hợp một cách thống nhất và đồng bộ tất cả các hoạt động của ASEAN trong mọi lĩnh vực, thành lập 3 hội đồng cộng đồng chịu trách nhiệm vừa triển khai, vừa điều phối các hoạt động của các ngành chuyên môn trong 3 trụ cột của ASEAN Đồng thời, trong mỗi hội đồng lại có các cơ quan chuyên ngành cấp bộ trưởng trực thuộc, mỗi cơ quan chuyên ngành lại có một có quan chuyên
Trang 7trách cấp dưới giúp việc Mô hình đó đảm bảo cho ASEAN hoạt động một cách tập trung nhất nhưng đồng thời cũng đảm bảo được sự chuyên sâu, chuyên trách; hiệu quả
mà lại không chồng chéo
Trong khi đó, cơ cấu tổ chức của Liên minh châu Âu lại không giống như thế mà nó bao gồm có 7 cơ quan và một số các cơ quan khác Không có một có quan điều phối chung, mỗi một cơ quan trong Liên minh châu âu có chức năng, nhiệm vụ riêng, hoạt động độc lập với nhau Mặc dù vậy, trong quá trình hoạt động, các cơ quan này vẫn có
sự tương tác, hỗ trợ lẫn nhau và hoạt động trong một thể thống nhất Sở dĩ, liên minh châu âu thiết chế theo mô hình đó là bởi hầu hết các quốc gia thành viên của nó đều theo thuyết tam quyền phân lập Theo đó, ba nhánh quyền lực: Lập pháp – Hành pháp và Tư pháp do 3 cơ quan khác nhau đảm nhiệm
Như vậy, ưu điểm của mô hình tổ chức của liên minh châu âu là sự độc lập và riêng
rẽ cần thiết, không chịu sự ảnh hưởng của bên ngoài Nhưng bên cạnh đó, mô hình của ASEAN lại đem lại sự thống nhất trong tổ chức và nhịp nhàng trong hoạt động
Bên cạnh đó, một điểm khác biệt nữa trong mô hình tổ chức của hai tổ chức này đó là: Trong khi hệ thống tổ chức của Asean gồm những thiết chế có sự tham gia của mỗi nước thành viên đại diện cho quyền lợi của nước mình thì hệ thống tổ chức của EU không chỉ có vậy mà EU có những thiết chế mang tính chất siêu quốc gia, tiêu biểu là ủy ban châu âu mà ở đó đại diện của mỗi nước thành viên hoạt động độc lập với quốc gia
và chỉ hoạt động vì lợi ích chung của cả cộng đồng
Thứ hai, ở Liên minh châu âu có sự xuất hiện của các cơ quan tư pháp còn ở ASEAN thì không có.
Tòa án châu âu là một thể chế rất đặc thù và quan trọng của EU, nó vừa có tính chất như tòa án quốc tế, vừa có tính chất như tòa án quốc gia
Trong khi Asean không có tòa án tư pháp để theo dõi và thực thi pháp luật chung của hiệp hội, chưa có 1 cơ quan hành chính độc lập, đủ mạnh để giám sát việc thực thi chính sách Hiện nay Asean vẫn duy trì sự lỏng lẻo về mặt thể chế, một bộ máy điều hành phi tập trung
Thứ ba, so với liên minh châu âu thì ASEAN vẫn chưa có nhiều các hoạt động thường kỳ.
So với EU thì các cơ quan của Asean vẫn chưa có nhiều cơ quan hoạt động thường kì (chỉ có 2 cơ quan là ủy ban thường trực và ban thư kí, còn các cơ quan còn lại chỉ tiến hành họp theo định kỳ hoặc khi cần thiết) Chính điều này khiến cho mối liên kết giữa các cơ quan còn lỏng lẻo và khiến cho các có quan này trở nên thụ động khi giải quyết các vẫn đề biến động, khó khăn bất thường
Trang 8Thứ tư, Liên minh châu âu còn có một ngân hàng chung đó là ngân hành trưng ương châu âu.
Mục đích đầu tiên của các quốc gia khi thành lập liên minh châu âu đó là mục đích
về kinh tế Vì vậy, phát triển kinh tế luôn được ưu tiên hàng đầu trong tất cả các lĩnh vực
và nền kinh tế của 27 nước thành viên EU cũng có nhiều điểm tương đồng, ngang bằng nhau Trong khi đó, các nước này đã thiết lập được một đồng tiền chung đó là Euro Vì vậy, việc thành lập một ngân hàng chung đối với Liên minh châu âu là điều tất yếu Còn đối với các quốc gia ASEAN, mục đích thành lập trước tiên không phải là vì lý
do kinh tế và do yếu tố chính trị Trong khi đó, mặt bằng phát triển kinh tế của các quốc gia là không đồng đều Bên cạnh Singgapo – một con rồng của châu á còn có các quốc gia thuộc vùng trũng trong phát triển kinh tế thế giới như: Campuchia, Mianma, Lào, Việt Nam Do vậy, việc thiết lập một ngân hàng chung là khá khó khă và còn rất xa vời Tuy vậy, đây cũng không hẳn là một điểm yếu của ASEAN so với liên minh châu âu Bởi lẽ, việc hình thành một nền kinh tế với đồng tiền chung euro như EU chưa hẳn là một giải pháp tối ưu, bởi mặt trái của nó là việc suy giảm kinh tế ở một quốc gia thành viên cũng dễ kéo theo sự khủng hoảng nền kinh tế ở cả thị trường chung Châu Âu Do
đó, xây dựng cơ cấu này như ở Asean vừa phù hợp cũng vừa là một giải pháp an toàn
3 Nhận xét về mức độ liên kết của các cơ quan trong Asean so với liên minh châu âu EU.
Từ việc phân tích sự khác biệt của hai thiết chế ở trên, có thể kết luận mức độ liên kết khu vực của EU đạt trình độ cao hơn nhiều so với ASEAN, điều này có thể lý giải do:
- Quá trình liên kết của EU bắt đầu từ lĩnh vực kinh tế còn ASEAN là từ chính trị Vậy nhưng trong Asean, thể chế chính trị của các quốc gia còn có nhiều điểm khác biệt, trong khi để xây dựng nên một mô hình liên kết bền vững ít nhiều cần đến sự đồng đều giữa các quốc gia Về phần này, EU ít nhiều đã làm được việc đó, khi nền kinh tế, và ngay cả văn hóa, chính trị của các nước thành viên EU đều có những điểm tương đồng nhất định
- Hoạt động theo cơ chế kì họp, và các kỳ họp khá “thưa” trong một năm đã làm hạn chế khả năng chỉ đạo điều hành của Cấp cao Asean trước những biến động khó khăn bất thường Mặc dù đã có sự trợ giúp của các cơ quan điều phối, tuy nhiên chính bản thân các cơ quan điều phối trong cơ cấu tổ chức của ASEAN cũng hoạt động theo định kỳ, khiến cho mối liên kết giữa các cơ quan của của Cộng đồng ASEAN còn lỏng lẻo Khác với ASEAN, trong các thiết chế pháp lý của EU chỉ có Hội đồng châu Âu là hoạt động theo kỳ họp, còn những cơ quan khác đều hoạt động diễn ra một cách liên tục hơn, chính vì vậy giữa các cơ quan có sự liên kết chặt chẽ, phối hợp nhịp nhàng, kịp thời triển khai các hoạt động của EU
Trang 9- EU xây dựng liên minh theo nguyên tắc liên bang trong khi các nước ASEAN đề
ra nguyên tắc liên kết kiểu hợp bang, điều này cũng góp phần tạo nên sự rời rạc trong
liên kết về thể chế chính trị của Asean
Tuy vậy, thể chế chính trị EU vẫn còn những hạn chế trong quyền hạn của Nghị viện châu Âu; sự phân định thẩm quyền ở cấp độ Liên minh chưa thực sự rõ ràng; tranh cãi xung quanh hai vị trí lãnh đạo Liên minh,…Trong khi đó, tương lai, Asean vẫn đang nỗ lực để xây dựng một cộng đồng Asean với sự liên kết chặt chẽ hơn về nhiều mặt
IV Bình luận ưu điểm và nhược điểm của hệ thống các thiết chế pháp lý của
ASEAN theo hiến chương, một số giải pháp khắc phục
1 Ưu điểm
Hiến chương ASEAN là một nhu cầu tất yếu khách quan và là bước chuyển giai đoạn quan trọng của Hiệp hội sau 50 năm tồn tại và phát triển, phản ánh sự trưởng thành của Asean Việc xây dựng và ký kết Hiến chương thể hiện tầm nhìn và quyết tâm chính trị mạnh mẽ của các nước ASean Với những quy định chặt chẽ, cụ thể Hiến chương Asean
là cơ sở, nền tảng pháp lý quan trọng góp phần xây dựng bộ máy tổ chức của Asean ngày càng hoàn thiện cả về cơ cấu, tổ chức cũng như phương thức hoạt động…Ưu điểm này thể hiện cụ thể trên các phương diên như sau:
Thứ nhất, Hệ thống thiết chế pháp lý của Asean được ghị nhận tại một văn bản pháp
lý cụ thể - Hiến chương
Trước đây, các thiết chế pháp lý của Asean nằm rải rác tại các văn bản khác nhau (tuyên bố Bangkok, tuyên bố Bali…) nhưng đến nay, thiết chế này đã được hệ thống hóa tại một văn bản duy nhất – Hiến chương Asean Đây là một bước tiến quan trọng, đánh dấu một thay đổi lớn đối vơi thiết chế pháp lý Asean Trước hết, việc tập trung thiết chế này trong một văn bản giúp các quy định pháp lý về các thiết chế được hệ thống hóa, là
cơ sở cho việc chỉ đạo và thực hiện Mặt khác, thay vì các thỏa thuận riêng biệt về hoạt động của các cơ quan, trong Hiến chương đã có hẳn một chương riêng quy định về cơ cấu tổ chức (Chương IV: Các cơ quan), tạo điều kiện tập trung dành nhiều quy định cụ thể và chi tiết hơn về chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan
Thứ hai, cơ cấu bộ máy ASEAN luôn có sự thay đổi theo hướng ngày càng hoàn thiện với hiệu quả cao của mô hình“ hình chóp quyền lực”
Từ khi ra đời đến nay, theo từng giai đoạn , từng thời kỳ phát triển của mình, Asean thường xuyên cải tổ cơ cấu bộ máy của mình Theo đó, cơ cấu bộ máy Asean ngày càng chặt chẽ, hoàn thiện hơn ngày càng mềm dẻo, linh hoạt Cụ thể: Hình chóp quyền lực lan truyền từ trên xuống dưới, đặt một cơ quan (Cấp cao Asean) lên vị trí quyền lực cao nhất
; Ủy ban thường trực và Ban thư ký là cầu nối giữa các quốc gia; Hội đồng điều phối là đại diện của tất cả các quốc gia… Sự thay đổi này môt mặt tạo ra sự tương thích, phù
Trang 10hợp với những thay đổi về tình hình chính trị - xã hội cũng như sự phát triển về kinh tế Mặt khác, nó thể hiện tiến trình hợp tác,mức độ và hiệu quả hợp tác trong khối Asean Đặc biệt với sự ra đời của mô hình “hình chóp quyền lực” (đã được phân tích ở trên), đã đem lại những hiệu quả tích cực cho hoạt động của tổ chức Asean, giúp cho Asean hoạt động theo hướng tập trung, hơn nữa, hoạt động dưới sự chỉ đạo, điều hành thống nhất của một cơ quan sẽ giúp các cơ quan khác vận hành thống nhất và không bị trùng lặp, chồng chéo hay dàn trải chức năng Như vậy,cơ cấu tổ chức Asean dựa trên quy định về mô hình “hình chóp quyền lực”giúp cho các cơ quan trong bộ máy tổ chức Asean hoạt động được nhịp nhàng, linh hoạt và đạt hiệu quả hơn
Thứ ba, sự phân công, phân nhiệm rõ ràng và mối quan hệ giữa các cơ quan trong bộ máy ngày càng chặt chẽ hơn
Hiến chương đã quy định một cách cụ thể, rõ ràng nhiệm vụ, quyền hạn của từng cơ quan, bộ phận cụ thể như: Các Hội đồng cộng đồng và Hội đồng điều phối Asean có chức năng điều phối việc thực hiện các thỏa thuận, quyết định của Cấp cao Asean (khoản 2 Điều 8 và khoản 2 Điều 9), các cơ quan chuyên ngành cấp bộ trưởng đệ trình báo cáo và khuyến nghị của mình lên các Hội đồng Cộng đồng liên quan (khoản 1 Điều 10),…Việc quy định này giúp các cơ quan thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn của mình, đáp ứng được hiệu suất công việc, tránh chồng chéo, đồng thời nâng cao trách nhiệm của từng cơ quan
Tuy nhiên hoạt động giữa các cơ quan này không tách biệt, độc lập hẳn nhau mà có mối quan hệ nhất định giữa cơ quan thông qua sợi dây pháp lý là các quy định cụ thể trong hiến chương: giữa cơ quan hoạch định chính sách với các cơ quan chấp hành, giữa
cơ quan điều phối với cơ quan thực hiện, giữa cơ quan trụ cột với cơ quan chuyên ngành hay cơ quan cấp trên với cơ quan cấp dưới trực thuộc đã Điều này đảm bảo cho sự phân công nhiệm vụ và phối hợp hoạt động giữa các cơ quan, giúp cho công việc các cơ quan vừa có sự chuyên sâu, vừa đảm bảo một cơ quan không bị ôm đồm nhiều chức năng Thứ tư, hệ thống các cơ quan của Asean theo Hiến chương cơ cấu bám sát các mục tiêu của tổ chức, khắc phục sự phân tán so với các thời kỳ trước
Điều này thể hiện ở 3 trụ cột của AC: Cộng đồng chính trị - an ninh(APSC), Cộng đồng kinh tế(AEC) và cộng đồng văn hóa - xã hội(ASCC) Đây là những liên kết trên
cơ sở một hệ thống thể chế và pháp chế pháp lý nhằm đạt được các mục tiêu Asean đề ra với từng cộng đồng Mỗi cộng đồng đảm nhận một vai trò chủ đạo trong mục tiêu chung của cộng đồng Asean “cởi mở, năng động và tự cường”
Thứ năm, khoảng cách giữa các kỳ họp của các cơ quan Asean đã được rút ngắn Nếu trong thời kỳ đầu thành lập, Hội nghị các Bộ trưởng ngoại giao chỉ nhóm họp khi cần thiết; sau đó là họp 3 năm một lần (Hội nghị cấp cao) hay mỗi năm một lần (Hội nghị Bộ trưởng); thì với quy định trong Hiến chương, có thể thấy quy định về khoảng