1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Những vấn đề chung về địa vị pháp lý của người bị hại pháp luật tố tụng hình sư

16 683 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 135 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trang 1

MỤC LỤC

Trang

I Những vấn đề chung về địa vị pháp lý của người bị hại trong pháp

luật tố tụng hình sự

2

1.Khái niệm 2

2 Cơ sở quy định về địa vị pháp lý của người bị hại trong pháp luật tố

tụng hình sự

4

a.Cơ sở lý luận 4

b.Cơ sở thực tiễn 4

II Những quy định của Bộ Luật Tố tụng hình sự năm 2003 về địa vị

pháp lý của người bị hại

5

1.1.Đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu 5

1.2.Được thông báo về kết quả điều tra 6

1.3.Đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người

phiên dịch theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự 2003

7

1.4 Đề nghị mức bồi thường và các biện pháp bảo đảm bồi thường 8

1.5.Tham gia phiên tòa, trình bày ý kiến, tranh luận tại phiên tòa 9

1.6 Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm

quyền tiến hành tố tụng, kháng cáo bản án, quyết định của tòa án về

phần bồi thường cũng như hình phạt đối với bị cáo

10

1.7 Trong trường hợp vụ án được khởi tố theo yêu cầu của người bị hại

tại Điều 105 BLTTHS 2003 thì người bị hại hoặc đại diện hợp pháp của

họ trình bày lời buộc tội tại phiên tòa

12

2.1.Phải có mặt theo giấy triệu tập của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát,

Tòa án

12

2.2.Nghĩa vụ khai báo, cung cấp, những thông tin cần thiết góp cho việc

làm sáng tỏ sự thật của vụ án

13

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 16

MỞ BÀI

Trang 2

Địa vị pháp lý của người bị hại là tổng thể các quyền và nghĩa vụ mà pháp luật quy định cho người bị hại và đại diện hợp pháp của họ trong quá trình giải quyết vụ án

Quy định về địa vị pháp lý của người bị hại là một quy định tiến bộ.Quy định này xuất phát từ việc bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người bị hại nói riêng và quyền, lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng nói chung; nhằm thể hiện sự cảm thông với những mất mát của người bị hại, hướng tới giải quyết nhanh chóng vụ án hình sự, xét xử đúng người, đúng tội, đảm bảo pháp chế xã hội chủ nghĩa

NỘI DUNG

I Những vấn đề chung về địa vị pháp lý của người bị hại trong pháp luật tố tụng hình sự.

1 Khái niệm.

Trên thế giới vấn đề người bị hại và nghiên cứu về người bị hại được nhiều nhà khoa học quan tâm, tập trung nghiên cứu

Pháp luật TTHS của các nước không có sự thống nhất trong việc sử dụng thuật ngữ người bị hại Chẳng hạn luật TTHS của Cộng hòa Pháp, Liên Bang Nga hay Việt Nam dùng thuật ngữ người bị hại, trong khi luật TTHS Cộng hòa nhân dân Trung Hoa thì dùng thuật ngữ người tố cáo Ngoài ra người bị hại còn được gọi là người bị thiệt hại, hay gọi là nạn nhân,

Để có sự nhận thức đầy đủ và thống nhất về khái niệm người bị hại chúng ta tiếp cận dưới những góc độ sau:

- Dưới góc độ ngôn ngữ : có thể hiểu, người bị hại là con người cụ thể trong xã

hội, chịu sự tác động tiêu cực của sự việc,hành vi hoặc bất kỳ sự tác động nào khác hẳn dẫn đến những thiệt thòi, mất mát hay tổn thương cho chính họ Tất nhiên sự tác động đó là trái với ý muốn của người bị hại và họ tiếp nhận một cách thụ động.Thiệt hại gây ra cho người bị hại có thể là thiệt hại vật chất hoặc phi vật chất và không cần phải giới hạn mức độ thiệt hại

- Dưới góc độ ngôn ngữ pháp lý: người bị hại là “người bị thiệt hại về thể chất,

tinh thần hoặc tài sản do tội phạm gây ra.Người bị hại chỉ có thể là thể nhân bị

Trang 3

người phạm tội làm thiệt hại về thể chất, tinh thần hoặc tài sản chứ không thể là pháp nhân”.

- Dưới góc độ luật định: Điều 51 Bộ Luật TTHS Việt Nam quy định: “Người bị

hại là người bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản do tội phạm gây ra” Người

bị hại là con người cụ thể; thiệt hại gây ra đó là tinh thần, thể chất, tài sản hoặc những thiệt hại khác, những thiệt hại đó do tội phạm gây ra

Đặc điểm của người bị hại là:

- Về chủ thể: phải là con người cụ thể chứ không phải là pháp nhân hay một tổ chức xã hội

- Thiệt hại do tội phạm gây ra có thể là thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản Phải là thiệt hại xảy ra trên thực tế

- Thiệt hại của người bị hại là đối tượng tác động của tội phạm, tức là có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi phạm tội với hậu quả gây ra của người bị hại

- Người bị thiệt hại chỉ được tham gia tố tụng với tư cách là người bị hại khi được

cơ quan tiến hành tố tụng công nhận

Từ những đặc điểm đó ta có thể rút ra khái niệm của người bị hại là: Người bị hại là người bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản do hành vi phạm tội của tội phạm trực tiếp xâm hại

Về địa vị pháp lý của chủ thể, theo từ điển luật học: “Địa vị pháp lý của chủ thể

pháp luật thể hiện thành một tổng thể các quyền và nghĩa vụ pháp lý của chủ thể, qua đó xác lập cũng như giới hạn khả năng của các chủ thể trong các hoạt động của mình.

Thông qua địa vị pháp lý có thể phân biệt chủ thể pháp luật này với chủ thể pháp

luật khác, đồng thời cũng có thể xem xét vị trí và tầm quan trọng của chủ thể pháp luật trong các mối quan hệ pháp luật”.

Từ định nghĩa trên có thể hiểu, địa vị pháp lý của người bị hại trong TTHS là tổng thể những quyền và nghĩa vụ mà pháp luật quy định cho họ trong quy trình giải quyết vụ án

Trang 4

2 Cơ sở quy định về địa vị pháp lý của người bị hại trong pháp luật tố tụng hình sự

a Cơ sở lý luận

Người bị hại là người bị thiệt hại về thể chất, tinh thần hoặc tài sản do hành vi phạm tội gây ra, quyền và lợi ích hợp pháp của họ bị xâm hại nặng nề nhất Vì vậy, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của những người tham gia tố tụng nói chung và người bị hại nói riêng là một vấn đề đang được quan tâm.Đây cũng là một trong những nội dung quan trọng trong định hướng cải cách tư pháp và hoàn thiện hệ thống pháp luật TTHS ở nước ta hiện nay, trong đó quy định về địa vị pháp lý của người bị hại là một trong những công cụ pháp lý quan trọng để bảo vệ quyền và lợi ích của người bị hại

Ngoài ra xuất phát từ những nguyên tắc cơ bản của BLTTHS là nguyên tắc

“Bảo đảm pháp chế XHCN trong TTHS”(Điều 3 BLTTHS), nguyên tắc “Tôn trọng và bảo vệ quyền cơ bản của công dân”(Điều 4 BLTTHS), nguyên tắc “Bảo hộ tính mạng, sức khỏe,danh dự,nhân phẩm, tài sản của công dân(Điều 7 BLTTHS) quy định địa vị pháp lý của người bị hại cũng là sự cụ thể hóa các nguyên tắc trên Quy định quyền và nghĩa vụ của người bị hại còn xuất phát từ quan hệ giữa người bị hại với những người có quyền, lợi ích liên quan đến vụ án, mối quan hệ giữa người bị hại và người phạm tội

b Cơ sở thực tiễn

Người bị hại là người biết được các tình tiết của vụ án nên họ cũng phải có nghĩa vụ trong việc giúp các cơ quan tiến hành tố tụng tìm ra sự thật khách quan của vụ án

Quy định về địa vị pháp lý của người bị hại xuất phát từ chính quyền và lợi ích hợp pháp của người bị hại Trên thực tế có nhiều lý do khác nhau mà quyền và lợi ích hợp pháp của người bị hại chưa được bảo vệ tốt và kịp thời, trong quá trình giải quyết vụ án dường như cơ quan có thẩm quyền chưa xem người bị hại như một bên của quá trình tố tụng để có sự quan tâm cần thiết Dẫn đến thực tế như trên là bắt nguồn một phần từ nhận thức thế nào là người bị hại, phạm vi người bị hại, thời điểm xuất hiện người bị hại, biện pháp bảo vệ người bị hại, quy định cũng như

Trang 5

thực tiễn áp dụng đối với người bị hại chưa có sự thống nhất trong nhận thức cũng như hành động

II Những quy định của Bộ Luật Tố tụng hình sự năm 2003 về địa vị pháp lý của người bị hại.

1 Quyền của người bị hại.

Người bị hại là người bị tội phạm trực tiếp xâm hại về thể chất và tinh thần, tài sản đồng thời cũng là người có quyền yêu cầu bồi thường Vì vậy, họ có thể đưa ra được nhiều chứng cứ Do đó, pháp luật quy định người bị hại có các quyền về tố tụng tương đối rộng để đmả bảo cho họ bảo vệ được những lợi ích của mình trong tố tụng và đấu tranh chống tội phạm Các quyền đó là:

1.1Đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu

Tại điểm a Khoản 2 Điều 51 BLTTHS năm 2003 quy định: người bị hại hoặc đại diện hợp pháp của họ có quyền đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu

Những tài liệu, đồ vật này có liên quan chặt chẽ đến vụ án, đến việc giải quyết vụ án Người bị hại trong nhiều trường hợp là người chứng kiến vụ việc xảy ra, biết các tình tiết liên quan đến hành vi phạm tội; cho nên những tài liệu, đồ vật mà người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của họ đưa ra có độ chính xác, có ích cho quá trình giải quyết vụ án Người bị hại là người bị thiệt hại về thể chất, tinh thần do hành vi phạm tội trực tiếp xâm hại, vì thế những tài liệu, đồ vật mà người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của họ đưa ra là thường để chứng minh hành

vi phạm tội, chứng minh những thiệt hại mà họ gánh chịu do hành vi phạm tội gây ra

Người bị hại có thể đưa ra những yêu cầu trong các giai đoạn tố tụng khác nhau như: yêu cầu cơ quan điều tra thu thập thêm chứng cứ để định tội, yêu cầu triệu tập thêm người làm chứng, yêu cầu giám định hoặc giám định lại nếu có căn cứ cho rằng kết quả giám định trước đó không đúng sự thật, Người bị hại phải xác định tính hợp lý và quan trọng là nhằm mục đích trừng trị người phạm tội, góp phần giải quyết nhanh chóng và chính xác vụ án, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của mình để đưa ra những đồ vật, tài liệu, yêu cầu của người bị hại Sự đảm bảo này

được luật hóa tại Điều 122 BLTTHS 2003: “Khi người tham gia tố tụng có yêu

cầu về những vấn đề có liên quan đến vụ án thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát

Trang 6

trong phạm vi trách nhiệm của mình, giải quyết yêu cầu của họ và báo cho họ biết kết quả.Trong trường hợp không chấp nhận yêu cầu thì Cơ quan điều tra hoặc Viện kiểm sát phải trả lời và nêu rõ lý do” Pháp luật quy định người bị hại phải

đưa ra tất cả các đồ vật, tài liệu có liên quan đến vụ án mà người bị hại biết Sở dĩ pháp luật quy định như vậy vì nhằm đảm bảo nguyên tắc xác ddinhjj sự thật của vụ án trong TTHS, góp phần nhanh chóng giải quyết vụ án, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người bị hại, thực hiện nhiệm vụ bảo vệ pháp chế XHCN Người bị hại là người bị tội phạm trực tiếp xâm hại, bị thiệt hại về thể chất, tinh thần là người nắm khá chi tiết về tình tiết liên quan đến vụ án (trừ trường hợp các tội trộm cắp tài sản ); về đối tượng, địa điểm của việc phạm tội

1.2.Được thông báo về kết quả điều tra

Người bị hại là người bị thiệt hại về thể chất, tinh thần do hành vi phạm tội trực tiếp xâm hại, là người chịu hết thiệt hại trong vụ án hình sự Do vậy, pháp luật quy định người bị hại được thông báo về kết quả điều tra vụ án

Người bị hại hoặc đại diện hợp pháp của họ được thông báo về kết quả điều tra

vụ án để họ biết được những vấn đề thuộc nội dung vụ án “Trên cơ sở đó để

người bị hại chuẩn bị chứng cứ, lý lẽ hoặc yêu cầu để buộc tội bị cáo hoặc để chứng minh những thiệt hại mà bị can gây ra cho mình” Biết được kết quả điều

tra là một trong những điều kiện để người bị hại hoặc đại diện hợp pháp của họ chuẩn bị tốt chứng cứ, lý lẽ, yêu cầu để buộc tội bị cáo, bị can, chứng minh những thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra cho họ Đảm bảo quyền này được thực hiện nghiêm minh chính là cơ sở cho người bị hại và đại diện hợp pháp của họ thực hiện những quyền cơ bản khác được pháp luật quy định Chuẩn bị tốt chứng cứ, lý lẽ, là điều kiện để người bị hại thực hiện tốt các quyền như: đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, tham gia phiên tòa, tranh luận tại phiên tòa,

Việc thông báo kết quả điều tra cho người bị hại và người đại diện hợp pháp của họ được thực hiện bằng hình thức văn bản Quyền này của người bị hại còn được pháp luật TTHS 2003 ghi nhận trong Điều 12 về trách nhiệm của cơ quan

tiến hành tố tụng: “Trong quá trình tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng,

người tiến hành tố tụng phải nghiêm chỉnh thực hiện những quy định của pháp luật và phải chịu trách nhiệm về những hành vi, quyết định của mình” Như vậy,

để đảm bảo quyền này của người bị hại, cơ quan tiến hành tố tụng có nghĩa vụ

Trang 7

thông báo kết quả điều tra cho người bi hại và đại diện hợp pháp của họ Quyền của người bị hại đồng thời là trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng Quyền của người bị hại chỉ được đảm bảo thực hiện khi cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện một cách đầy đủ nghĩa vụ của mình

1.3.Đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự 2003

Người bị hại có quyền đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng trong các trường hợp được quy định tại Điều 42 BLTTHS 2003:

Thứ nhất, những người này đồng thời là người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn

dân sự; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; là người đại diện hợp pháp, người thân thích của những người đó hoặc bị can, bị cáo

Thứ hai, những người này đã tham gia với tư cách là người bào chữa, người làm

chúng, người giám định, người phiên dịch trong vụ án đó

Thứ ba, có căn cứ rõ ràng khác để cho rằng họ có thể không vô tư trong khi làm

nhiệm vụ Khi nhận thấy người tiến hành tố tụng thuộc một trong ba trường hợp nêu trên thì người bị hại có quyền đề nghị thay đổi họ Quyền này còn được ghi nhận tại khoản 2 Điều 43 BLTTHS 2003 quy định về những người có quyền đề

nghị thay đổi người tiến hành tố tụng: “Bị can, bị cáo, người bị hại, nguyên đơn

dân sự, bị đơn dân sự và người đại diện hợp pháp của họ”.

Đối với thay đổi Điều tra viên thì sẽ do Thủ trưởng cơ quan điều tra quyết định, nếu Điều tra viên là Thủ trưởng Cơ quan điều tra thì do Cơ quan điều tra cấp trên trực tiếp tiến hành (khoản 2 Điều 44 BLTTHS2003), thay đổi Kiểm sát viên trước khi mở phiên tòa do Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp quyết định, nếu Kiểm sát viên là Viện trưởng Viện kiểm sát thì do Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp quyết định; thay đổi Kiểm sát viên tại phiên tòa thì Hội đồng xét xử ra quyết định hoãn phiên tòa; thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm trước khi mở phiên tòa do Chánh án Tòa án quyết định, nếu Thẩm phán bị thay đổi là Chánh án thì do Chánh án tòa án cấp trên trực tiếp quyết định; Việc thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm tại phiên tòa do Hội đồng xét xử ra quyết định bằng cách biểu quyết theo đa số, trong trường hợp phải thay đổi tại phiên tòa thì Hội đồng xét xử ra quyết định hoãn phiên tòa; thay đổi Thư ký tòa án trước khi mở phiên tòa do Chánh án tòa án quyết định,

Trang 8

thay đổi tại phiên tòa do Hội đồng xét xử quyết định, trường hợp phải thay đổi tại phiên tòa thì hội đồng xét xử ra quyết định hoãn phiên tòa

Đối với người giám định, người phiên dịch khi mà nhận thấy thuộc trường hợp một và ba ở trên thì người bị hại có quyền đề nghị cơ quan có thẩm quyền tahy đổi họ Quyền này được luật hóa trong điểm a khoản 4 Điều 60 và điểm a khoản 3 Điều 61 BLTTHS 2003 Đối với người giám định thì việc thay đổi do cơ quan trưng cầu quyết định, người phiên dịch do cơ quan yêu cầu quyết định

Việc thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch còn được luật hóa trong điều 14 BLTTHS quy định về sự bảo đảm vô tư của những

người tiến hành hoặc người tham gia tố tụng: “Thủ trưởng, phó thủ trưởng Cơ

quan điều tra, Điều tra viên, Viện trưởng, Phó viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, Chánh án, Phó chánh án tòa án, Thẩm phán, Hội thẩm, Thư ký tòa án không được tiến hành tố tụng hoặc người phiên dịch không được tham gia tố tụng, nếu có lý do xác đáng để cho rằng họ có thể không vô tư trong khi thực hiện nhiệm vụ của mình”.

Quy định như vậy nhằm mục đích đảm bảo sự khách quan, vô tư của những người này trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, là một trong những điều kiện cần thiết để việc giải quyết vụ án đúng đắn, khách quan, chính xác, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị hại nói riêng và người tham gia tố tụng nói chung

1.4 Đề nghị mức bồi thường và các biện pháp bảo đảm bồi thường

Cơ chế bồi thường thiệt hại giữa người bị hại và bị can, bị cáo là vấn đề áp dụng khá phổ biến ở các nước Ở đó, nhà nước cho phép người phạm tội được phép thỏa thuận với người bị hại về bồi thường thiệt hại.Thiệt hại của người bị hại là đối tượng tác động của tội phạm Người bị hại rất quan tâm đến việc quyền lợi của họ được giải quyết như thế nào, họ có quyền đề nghị mức bồi thường cho thỏa đáng với những thiệt hại về thể chất, tinh thần mà hành vi phạm tội trực tiếp xâm hại Bên cạnh quyền được đề nghị bồi thường thì người bị hại còn có quyền đề nghị

cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng các biện pháp bảo đảm bồi thường như: kê biên

tài sản, phong tỏa tài sản “Việc giải quyết những thiệt hại do tội phạm gây ra đối

với người bị hại nhất thiết phải trong vụ án hình sự” Bởi lẽ khi đã xác định một

người tham gia tố tụng với tư cách là người bị hại thì quyền và nghĩa vụ của họ chỉ

Trang 9

có thể thực hiện trong quá trình tiến hành tố tụng Người bị hại không phải làm đơn yêu cầu thì cơ quan tiến hành tố tụng vẫn phải giải quyết Thiệt hại này bao gồm cả thiệt hại về thể chất, tinh thần nên vấn đề trách nhiệm dân sự đặt ra đối với kẻ phạm tội bao giờ cũng gồm cả thiệt hại về tài sản và vật chất do phát sinh từ thiệt hại về thể chất và tinh thần do người phạm tội gây ra

Trong trường hợp người bị hại chết thì người đại diện hợp pháp thực hiện quyền và nghĩa vụ của người bị hại Người đại diện thay mặt người bị hại thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ

1.5.Tham gia phiên tòa, trình bày ý kiến, tranh luận tại phiên tòa

Phiên tòa chính là nơi kiểm tra công khai các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để làm sáng tỏ các tình tiết của vụ án và các phán quyết đối với bị cáo Tại phiên tòa, Viện kiểm sát, người bị hại và người tham gia tố tụng khác có quyền đưa ra những chứng cứ, tài liệu, đồ vật, luận điểm liên quan đến vụ án và tranh luận; hội đồng xét xử có trách nhiệm xem xét các chứng cứ, xét hỏi và điều khiển việc tranh luận giữa các bên

Để đảm bảo và tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện quyền tham gia phiên tòa và tranh luận tại phiên tòa của người bị hại, pháp luật TTHS quy định về vị trí

bình đẳng của người bị hại tại phiên tòa tại Điều 19 “Người bị hại có quyền bình

đẳng trong việc đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, đưa ra yêu cầu và tranh luận dân chủ trước tòa án Tòa án có trách nhiệm tạo điều kiện cho họ thực hiện các quyền đó nhằm làm rõ sự thật khách quan của vụ án”.

Thủ tục bắt đầu phiên tòa: chủ yếu là những điều kiện cần thiết cho hoạt động tranh tụng ở các thủ tục xét hỏi và tranh luận tiếp theo Trong giai đoạn này người bị hại có quyền đề nghị hội đồng xét xử thay đổi thẩm phán, hội thẩm, thư ký, người giám định, người phiên dịch nếu có căn cứ cho rằng họ không vô tư, khách quan trong quá trình giải quyết vụ án là không nằm ngoài mục đích đảm bảo cho hoạt động buộc tội của mình ở thủ tục xét hỏi và tranh luận tiếp theo đạt hiệu quả Thủ tục xét hỏi: Người bị hại tại phiên tòa hình sự sơ thẩm là đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu, đề nghị mức bồi thường và quy định về quyền của người bị hại tại

phiên tòa tại khoản 2 Điều 207 BLTTHS quy định: “Những người tham gia phiên

tòa cũng có quyền đề nghị chủ tọa phiên tòa hỏi thêm về những tình tiết cần làm

Trang 10

sáng tỏ”, trình bày những tình tiết liên quan đến họ và trả lời những câu hỏi đối

với những người xét hỏi, tham gai xem xét chứng cứ, tham gia xem xét tại chỗ, nhận xét về việc trình bày, những tài liệu, báo cáo của cơ quan, tổ chức

Thủ tục tranh luận: Căn cứ vào BLTTHS 2003 thì hoạt động tranh tụng của người bị hại tại thủ tục này là đề nghị mức bồi thường, trình bày ý kiến, tranh luận tại phiên tòa để bảo về quyền và lợi ích hợp pháp của mình, trình bày ý kiến về luận tội của Kiểm sát viên và đưa ra đề nghị của mình đáp lại ý kiến của người khác Ngoài ra, người bị hại còn có quyền trình bày lời buộc tội trong trường hợp vụ án được khởi tố theo yêu cầu của người bị hại

Về trình tự phát biểu tranh luận, tại Điều 217 BLTTHS quy định sau khi Kiểm sát viên trình bày lời luận tội, bị cáo trình bày lời bào chữa thì người bị hại trình bày ý kiến để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Bên cạnh đó, Điều 218

còn quy định: “Bị cáo, người bào chữa và những người tham tố tụng khác có

quyền trình bày ý kiến về luận tội của Kiểm sát viên và đưa ra đề nghị của mình Chủ tọa phiên tòa có quyền đề nghị Kiểm sát viên phải đáp lại những ý kiến có liên quan đến vụ án của người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác mà những ý kiến đó chưa được Kiểm sát viên tranh luận”.

Về thẩm quyền tham gia phiên tòa phúc thẩm chỉ được đặt ra đối với người bị hại khi có kháng cáo, kháng nghị liên quan đến người bị hại, và được tòa án triêu tập Để bảo thực hiện quyền này của người bị hại thì tòa án phải giao giấy triệu tập cho người bị hại để họ có thể tham gia phiên tòa Đây là tiền đề cơ bản cho người bị hại và đại diện hợp pháp của họ thực hiện quyền và lợi ích hợp pháp của mình

1.6 Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, kháng cáo bản án, quyết định của tòa án về phần bồi thường cũng như hình phạt đối với bị cáo

* Phần khiếu nại: Trong quá trình tiến hành tố tụng, dù ở giai đoạn tố tụng nào,

người bị hại nếu phát hiện thấy quyết định hoặc hành vi của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có những điểm bất hợp lý, vi phạm pháp luật thì họ có quyền khiếu nại những quyết định, hành vi tố tụng đó Người bị hại có thể tiến hành khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến

Ngày đăng: 29/01/2016, 18:39

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w