ASEAN đóng một vai trò quan trọng trong việc giải quyết các tranh chấp kinh tế - thương mại giữa các nước thành viên, đây là điều mà ở các tổ chức quốc tế khác như WTO cũng có.. Khái niệ
Trang 1Mở bài
Như chúng ta đã biết, ASEAN là một liên minh chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội của các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á, đóng một vai trò quan trọng để liên kết các nước trong khu vực này nhằm thúc đẩy sự phát triển của các nước thành viên trên nhiều lĩnh vực khác nhau., trong đó có lĩnh vực kinh tế ASEAN đóng một vai trò quan trọng trong việc giải quyết các tranh chấp kinh tế - thương mại giữa các nước thành viên, đây là điều mà ở các tổ chức quốc tế khác như WTO cũng có Vậy có điểm gì giống và khác nhau giữa ASEAN và WTO trong vấn đề này ? Để làm rõ, nhóm chúng
em xin được chọn phân tích đề tài: “So sánh cơ chế giải quyết tranh chấp kinh tế
-thương mại của Asean và WTO về các vấn đề: Phạm vi tranh chấp; cơ quan giải quyết tranh chấp; Trình tự thủ tục giải quyết tranh chấp; Thi hành phán quyết”
Trang 2I Khái quát chung về cơ chế giải quyết tranh chấp kinh tế - thương mại của ASEAN và WTO
1 Khái niệm cơ chế giải quyết tranh chấp
Tranh chấp quốc tế là hoàn cảnh thực tế trong đó các chủ thể của Luật quốc tế
có sự khác nhau về quan điểm và sự xung đột, mâu thuẫn về lợi ích, đòi hỏi phải được giải quyết bằng biện pháp hòa bình và dựa trên các nguyên tắc, quy phạm của Luật quốc tế nhằm ổn định các quan hệ quốc tế và duy trì hòa bình an ninh quốc tế
Trên thế giới càng ngày càng có nhiều sự hợp tác trên nhiều lĩnh vực mang tầm khu vực và liên khu vực, kinh tế - thương mại là một trong những lĩnh vực nổi trội và đặc biệt phức tạp Đặc biệt trong thương mại Quốc tế, lĩnh vực mà các bên tham gia có những đặc điểm về tập quán kinh doanh, ngôn ngữ và cả các đặc điểm văn hoá rất khác nhau, thì tranh chấp lại càng lớn, cả về mặt quy mô và khả năng xảy ra tranh chấp
ASEAN và WTO là hai tổ chức có sự hợp tác về mặt kinh tế thương mại rất rộng Vì thế nên khi các cuộc trao đổi - hợp tác diễn ra sẽ không tránh khỏi những tranh chấp bất đồng trong quá trình đó Nếu không có một cơ chế giải quyết phù hợp thì những bất đồng trong kinh tế - thương mại sẽ dẫn đến sự bất hòa trong quan hệ giữ các bên
Từ “cơ chế” là chuyển ngữ của từ mécanisme của phương Tây Từ điển Le Petit Larousse (1999) giảng nghĩa “mécanisme” là “cách thức hoạt động của một tập hợp
các yếu tố phụ thuộc vào nhau” Còn Từ điển Tiếng Việt (Viện Ngôn ngữ học 1996)
giảng nghĩa cơ chế là “cách thức theo đó một quá trình thực hiện” 1
Như vậy cơ chế giải quyết tranh chấp trong kinh tế - thương mại trong hai tổ
chức này là “cách thức theo đó một quá trình thực hiện” Tức là việc giải quyết tranh
chấp này sẽ được thực hiện theo quy trình được quy định tại văn bản pháp luật được công nhận ở tổ chức đó Đây được xem là văn bản pháp lý có cơ sở và có phạm vi áp
1 http://vi.wikipedia.org/wiki/Wikipedia:Bàn_tham_khảo/Cơ_chế_là_gì%3F
Trang 3dụng Cơ chế giải quyết sẽ được thi hành bởi cơ quan chuyên giải quyết tranh chấp của
tổ chức và thủ tục giải quyết tranh chấp được ghi rõ trong văn bản Như vậy, hiểu về một cơ chế giải quyết tranh chấp nói chung, hay tranh chấp kinh tế - thương mại nói riêng là cách thức giải quyết các tranh chấp đó theo trình tự mà tổ chức đó đã có quy định trong văn bản pháp luật
2 Cơ chế giải quyết tranh chấp kinh tế - thương mại của ASEAN
a Tổng quan quá trình hình thành và phát triển cơ chế giải quyết tranh chấp kinh tế thương mại của ASEAN
Trong thập kỉ đầu mới thành lập, hoạt động của ASEAN chủ yếu tập trung vào các vấn đề chính trị, văn hóa và tăng cường mối quan hệ hiểu biết lẫn nhau để củng cố, hợp tác phát triển mối quan hệ đoàn kết trong khu vực Đông Nam Á Thời kì này ASEAN chưa có một cơ chế giải quyết tranh chấp riêng trong khu vực Tuyên bố Bangkok năm 1967 ghi nhận khẳng định bước đầu của các nước ASEAN cùng nhau thúc đẩy hòa bình, ổn định khu vực thông qua việc tôn trọng công lý, các nguyên tắc pháp luật trong quan hệ giữa các quốc gia và Hiến chương của Liên hợp quốc Tiếp theo tuyên bố Bangkok, Hiệp ước thân thiện và hợp tác ở Đông Nam Á đã được kí kết tại Bali (Indonesia) ngày 23 – 24/2/1976 Mục đích của Hiệp ước này là duy trì nền hòa bình vĩnh viễn, thúc đẩy sự thân thiện và hợp tác lâu bền, góp phần tăng cường tình đoàn kết và quan hệ chặt chẽ giữa các nước tham gia Hiệp ước
Sau khi thành lập khu vực mậu dịch tự do AFTA, sự cần thiết phải có một cơ chế giải quyết tranh chấp thương mại hiệu quả trong khu vực trở nên rõ ràng Tại cuộc họp lần thứ ba vào tháng 12/1992, các thành viên ASEAN đã đưa ra cơ chế giải quyết tranh chấp cho chương trình nghị sự của Hội đồng AFTA Các nhà lãnh đạo ASEAN
đã nhất trí thiết lập một cơ chế giải quyết tranh chấp của ASEAN bằng việc kí kết thông qua Nghị định thư về cơ chế giải quyết tranh chấp vào ngày 20/11/1996 tại Manila (Philippin) đưa ra một cơ chế giải quyết tranh chấp kinh tế - thương mại của ASEAN
Trang 4ASEAN được thành lập với nhiệm vụ bảo đảm hòa bình, an ninh và xây dựng một nền kinh tế Trong năm 2004, các nước thành viên ASEAN đã thông qua một Nghị định thư mới về cơ chế giải quyết tranh chấp, thực hiện một bước quan trọng trong việc tạo ra một hệ thống xét xử riêng biệt dựa trên các nguyên tắc mang tính pháp lý khác với hệ thống tập trung vào việc hòa giải như trước đây Ngày 20/11/2007 đánh dấu một
sự kiện quan trọng trong lịch sử ASEAN khi các nhà lãnh đạo ASEAN đã kí thông qua Hiến chương ASEAN tại Hội nghị cấp cao ASEAN 13 ở Singapo Sự ra đời của Hiến chương phản ánh sự trưởng thành của Hiệp hội, thể hiện tầm nhìn và quyết tâm mạnh
mẽ của các nước thành viên nhằm mục tiêu xây dựng một ASEAN hòa bình, ổn định
và phát triển với vị thế mới hơn, liên kết chặt chẽ hơn và ràng buộc pháp lý hơn
b Khái niệm cơ chế giải quyết tranh chấp kinh tế - thương mại của ASEAN
Cơ chế giải quyết tranh chấp kinh tế - thương mại của ASEAN là tổng thể thống nhất các cơ quan giải quyết tranh chấp, cách thức, trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp và việc thi hành phán quyết giải quyết tranh chấp
Nguyên tắc giải quyết tranh chấp truyền thống của ASEAN đó là các tranh chấp giữa các quốc gia thành viên cần được giải quyết bằng biện pháp hòa bình, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau trên cơ sở hợp tác hiệu quả giữa các bên, tôn trọng nguyên tắc thỏa thuận, kiềm chế, không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực khi có tranh chấp
3 Cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO
Những tranh chấp thương mại phát sinh giữa các thành viên của WTO được giải quyết theo những quy định về giải quyết tranh chấp của Tổ chức thương mại này Cơ chế giải quyết tranh chấp giữa các thành viên của WTO được ra đời từ sau vòng đàm phán Uruguay và được chính thức áp dụng kể từ tháng 12 năm 1996 Theo đó, nền tảng, cơ sở pháp lý cho việc giải quyết tranh chấp giữa các thành viên của WTO được
thực hiện theo “Thỏa thuận về các Quy tắc và Thủ tục điều chỉnh giải quyết tranh chấp
– gọi tắt là DSU” – được gọi là cơ chế giải quyết tranh chấp chung Ngoài ra, WTO
Trang 5còn có hệ thống giải quyết tranh chấp chuyên biệt thực hiện theo các quy định trong các Hiệp định cụ thể
Việc giải quyết tranh chấp giữa các thành viên của WTO được thực hiện trên cơ
sở nguyên tắc công bằng, nhanh chóng, hiệu quả và chấp nhận được đối với các bên tranh chấp Theo DSU, các bên tranh chấp có thể lựa chọn cho mình biện pháp giải quyết tranh chấp khác nhau, như môi giới, hòa giải, tham vấn, trung gian hoặc có thể lựa chọn thiết chế tài phán quốc tế khác để giải quyết như trọng tài quốc tế Nếu các biện pháp trên được các bên sử dụng mà vẫn chưa giải quyết được tranh chấp thì các bên này có thể khiếu nại trước Cơ quan giải quyết tranh chấp DSB ( Dispute Settlement Body) của WTO DSB không phải là cơ quan chuyên biệt để giải quyết tranh chấp mà chính là Đại hội đồng của WTO – có thành viên là đại diện cấp đại sứ của các thành viên WTO
Khi các bên đệ trình tranh chấp lên DSB, Nhóm các chuyên gia PANEL được DSB thành lập để giải quyết tranh chấp cụ thể này rồi giải thể sau khi thực hiện xong nhiệm vụ Nhóm chuyên gia PANEL có nhiệm vụ đánh giá khách quan các vấn đề tranh chấp và tiến hành các điều tra khác rồi trình báo cáo lên DSB để giúp DSB đưa ra các quyết định hay các khuyến nghị thích hợp Các bên tranh chấp có quyền phải đối báo các này và kháng cáo lên Cơ quan phúc thẩm - được thành lập bởi DSB Cơ quan phúc thẩm có quyền xem xét, để nguyên, thay đổi hoặc hủy bỏ kết luận trong báo cáo của Nhóm chuyên gia PANEL Báo cáo Cơ quan phúc thẩm được đệ trình lên DSB và việc thông qua báo cáo này theo nguyên tắc đồng thuận Các bên tranh chấp có nghĩa
vụ thực hiện vô điều kiện quyết định cuối cùng của DSB trên cơ sở báo cáo của Cơ quan phúc thẩm Nếu quyết định hoặc khuyến nghị của DSB không được bên thua kiện thi hành thì bên thắng kiện được quyền yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại hoặc thực hiện các biện pháp trả đũa thương mại
II Những điểm giống và khác nhau về cơ chế giải quyết tranh chấp kinh tế -thương mại của ASEAN so với WTO.
Trang 61 Phạm vi tranh chấp.
* Cơ chế giải quyết tranh chấp thương mại của ASEAN được quy định cụ thể trong Nghị định thư về tăng cường cơ chế giải quyết tranh chấp ngày 29/11/2004 Theo
đó phạm vi tranh chấp áp dụng cơ chế này được xác định như sau:
- Các tranh chấp liên quan đến giải thích và áp dụng các “thỏa thuận kinh tế” trong khuân khổ ASEAN Các thỏa thuận kinh tế này bao gồm các thỏa thuận về hợp tác kinh tế - thương mại được nêu trong phụ lục I của Nghị định thư (như Hiệp định về
ưu đã thương mại ASEAN, Hiệp định về bảo vệ an ninh lương thực ASEAN,…) và các thỏa thuận được hình thành trong tương lai
- Cơ chế giải quyết tranh chấp của Nghị định thư chỉ được áp dụng để giải quyết tranh chấp kinh tế - thương mại giữa các quốc gia thành viên ASEAN
* Các khiếu kiện có thể được giải quyết theo cơ chế giải quyết tranh chấp trong WTO được qui định tại Điều XXIII.1 GATT 1994 bao gồm:
- Khiếu kiện có vi phạm (violation complaint): khiếu kiện phát sinh khi một quốc gia thành viên không thực hiện các nghĩa vụ của mình theo qui định tại Hiệp định (trong trường hợp này thiệt hại được suy đoán là đương nhiên)
- Khiếu kiện không vi phạm (non-violation complaint): là loại khiếu kiện phát sinh khi một quốc gia ban hành một biện pháp thương mại gây thiệt hại (làm mất hay phương hại đến) các lợi ích mà quốc gia khiếu kiện có được từ Hiệp định hoặc cản trở việc thực hiện một trong các mục tiêu của Hiệp định - không phụ thuộc vào việc biện pháp đó có vi phạm Hiệp định hay không
- Khiếu kiện dựa trên “sự tồn tại một tình huống khác” (“situation” complaint): trong trường hợp này, quốc gia khiếu kiện cũng phải chứng minh về thiệt hại mà mình phải chịu hoặc trở ngại gây ra đối với việc đạt được một mục tiêu của Hiệp định
Như vậy ta có thể thấy, điểm giống nhau trong cơ chế giải quyết tranh chấp của ASEAN và WTO chính là ở chỗ các cơ chế giải quyết này chỉ được áp dụng giữa các
Trang 7thành viên của tổ chức, các chủ thể không phải là thành viên của ASEAN hay của WTO thì không thể áp dụng các cơ chế này để giải quyết tranh chấp
Về điểm khác nhau, phạm vi tranh chấp là đối tượng của cơ chế giải quyết tranh chấp của ASEAN bị bó hẹp trong các thỏa thuận kinh tế đã hoặc sẽ được hình thành giữa các thành viên của ASEAN còn đối với cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO lại
có sự khác biệt, đó là: tranh chấp trong khuôn khổ WTO không nhất thiết phải phát sinh từ một hành vi vi phạm các qui định tại các Hiệp định của tổ chức này của một hoặc nhiều quốc gia thành viên (thông qua việc ban hành/thực thi một biện pháp thương mại vi phạm nghĩa vụ của quốc gia đó theo WTO) Tranh chấp có thể phát sinh
từ một “tình huống” khác hoặc khi một biện pháp thương mại do một quốc gia thành viên ban hành tuy không vi phạm qui định của WTO nhưng gây thiệt hại cho một hoặc nhiều quốc gia thành viên khác Như vậy, nếu như với cơ chế giải quyết của ASEAN thì đối tượng áp dụng phải là tranh chấp phát sinh trong phạm vi các thỏa thuận kinh tế thì tranh chấp là đối tượng của cơ chế giải quyết của WTO lại có thể phát sinh từ một tình huống khác ngoài các Hiệp định của tổ chức này
3.Trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp kinh tế - thương mại của ASEAN có nhiều điểm tương đồng và khác biệt so với trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp kinh tế - thương mại của WTO như sau:
Về trình tự giải quyết tranh chấp:
ASEAN giải quyết tranh chấp thông qua 6 giai đoạn: Tham vấn (Bước 1); Dàn xếp, Trung gian hoà giải (Bước 2); Hội nghị các Quan chức Kinh tế Cao cấp ("SEOM") (Bước 3); Ban hội thẩm (Bước 4); Kháng nghị (Bước 5); Đền bù và trả đũa (Bước 6)2 Trong khi
đó trình tự giải quyết tranh chấp của WTO gồm 11 bước: Tham vấn( Bước 1); DBS thành lập Ban hội thẩm ( Bước 2); Môi giới, trung gian, hòa giải ( Bước 3) ; Xem xét của Ban hội thẩm ( Bước 4); Giai đoạn rà soát giữa kì ( Bước 5); Báo cáo của Ban hội thẩm được gửi tới các bên( Bước 6); Báo cáo của Ban hội thẩm được gửi tới DBS( Bước 7); DBS thông
2 Xem: Tập bài giảng Pháp luật cộng đồng ASEAN Trường đại học Luật Hà Nội, Hà Nội 2011 Tr 266.
Trang 8qua báo cáo( Bước 8); Thực thi (Bước 9); Các bên đàm phán bồi thường ( Bước 10); Trả đũa.( Bước 11)
Như vậy, cả ASEAN và WTO đều đảm bảo cho tất cả các tranh chấp có thể thông qua tham vấn và các biện pháp hòa giải Cả hai tổ chức này đều đề cao nguyên tắc hòa bình giải quyết các tranh chấp Trong trường hợp các biện pháp này không có hiệu quả thì mới
cần đến sự xem xét của Ban hội thẩm Điểm khác biệt ở chỗ Assean chỉ có 6 bước sơ sài
thì WTO có đến 11 bược chặt chẽ và nghiêm ngặt Sự khác biệt này dẫn đến việc trên thực
tế Cơ chế giải quyết tranh chấp của ASEAN đã được thiết lập từ năm 1996 nhưng chưa một lần nào được áp dụng mặc dù có rất nhiều trường hợp các nước thành viên vi phạm cam kết
và nghĩa vụ3 Bên cạnh đó, cơ chế giải quyết tranh chấp của ASEAN chưa đảm bảo đựợc tính minh bạch, công khai Theo các nghị định thư thì ban hội thẩm phải họp kín, các bên
có liên quan và có quan tâm đến tranh chấp chỉ có mặt trong các cuộc họp của Ban hội thẩm khi được Ban hội thẩm mời Theo đó sẽ làm các nước thành viên nghi ngờ sự vô tư, khách quan, công bằng của cơ chế giải quyết tranh chấp, làm giảm lòng tin của các nước thành viên vào cơ chế giải quyết tranh chấp này ASEAN cũng chưa có các quy định cụ thể
về trình tự thủ tục và quy tắc cho từng giai đoạn, làm cho việc áp dụng trên thực tế gặp khó
khăn Hơn nữa, các nước ASEAN thường có xu hướng giải quyết vấn đề theo “cách của
ASEAN - ASEAN way” trong “gia đình ASEAN” và không đưa tranh chấp ra giải quyết theo
quy trình DSM Các nước ASEAN cũng thường có xu hướng “chính trị hoá” các vấn đề như: trường hợp hoãn thực hiện CEPT đối với ô tô của Malaysia là ví dụ điển hình4 Trong khi WTO giải quyết một cách triệt để mọi vẫn đề một cách công bằng và thuyết phục
Về thời gian giải quyết tranh chấp : Tổng thời gian giải quyết tranh chấp của
ASEAN mới chỉ gần 15 tháng, trong khi đó tổng thời gian giải quyết của WTO là hơn 20 tháng (chưa tính thêm thời gian gia hạn trong một số trường hợp) Thiết nghĩ, thời gian giải
3 http://thuvienphapluat.vn
4 , 4 xem “Công văn số 3784/TM-ĐB ngày 20/08/2003 của Bộ Thương mại về việc Cơ chế giải quyết tranh chấp của ASEAN”
Trang 9quyết tranh chấp của ASEAN như vậy là còn quá ngắn Điều này khiến cho vi phạm không được giải quyêt triệt để gây tốn kém và thiệt hại cho bên vi phạm và cả bên bị vi phạm
Nhìn chung, trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp của ASEAN đã được mô phỏng theo trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp của WTO; bên cạnh một vài nét khác biệt được thay đổi phù hợp với ASEAN, có thể nói: ASEAN có xu hướng để tạo thành một mô hình
cơ chế giải quyết tranh chấp thu nhỏ của WTO Do vậy, việc bổ sung các cơ chế mới có những quy định chi tiết hơn về quy trình thủ tục, mang tính chất ít ràng buộc pháp lý hơn nhưng tạo ra áp lực thực hiện là cần thiết để hoàn thiện quy trình giải quyết tranh chấp hiện
có nhằm tăng cường việc tuân thủ cam kết của các nước, từ đó tăng cường quá trình hội nhập kinh tế của ASEAN5
4 Thi hành phán quyết.
Do việc tuân thủ ngay tập tức các kết luận và khuyến nghị trong báo cáo của Ban hội thẩm và Cơ quan phúc thẩm đã được SEOM thông qua có vai trò cốt yếu để đảm bảo giải quyết tranh chấp có hiệu quả, Bên bị yêu cầu thực hiện phải tuân thủ các kết luận và khuyến nghị trong báo cáo của Ban hội thẩm đã được thông qua trong vòng
60 ngày kể từ ngày SEOM thông qua báo cáo Tuy nhiên đây không phải là khoảng thời gian cố định các bên tranh chấp có thể kéo dài thực hiện khuyến nghị trong các trường hợp cụ thể và có sự xem xét thỏa đáng đối với tính phức tạp của các hành động cần thực hiện để tuân thủ các kết luận và khuyến nghị trong Báo cáo của Ban hội thẩm
và Cơ quan phúc thẩm đã được SEOM thông qua
Tại Khoản 7 Điều 16 Nghị định thư năm 2004 có quy định rằng nếu nước thành viên liên quan phản đối mức độ tạm ngừng ưu đãi được đề nghị hoặc khiếu nại về việc các nguyên tắc và thủ tục tại Khoản 3 Điều này không được tuân thủ khi bên khiêu nại yêu cầu cho phép tạm ngừng các ưu đãi hoặc nghĩa vụ khác theo khoản 3(b) hoặc (c), vấn đề sẽ được giải quyết bằng trọng tài Việc giải quyết bằng trọng tài như vậy sẽ được thực hiện bởi Ban hội thẩm ban đầu, nếu các thành viên có thể tham gia được hoặc bằng một trọng tài viên do Tổng thư ký ASEAN chỉ định và được hoàn thành 5
Trang 10trong vòng 60 ngày hoặc thời hạn được các bên nhất trí theo quy định tại Điều 15 Không được phép tạm ngừng các ưu đãi hoặc nghĩa vụ khác trong thời gian giải quyết bằng trọng tài Quyết định của trọng tài là quyết định cuối cùng và các bên tranh chấp không được yêu cầu trọng tài khác giải quyết được vấn đề SEOM sẽ phải được thông báo kịp thời về quyết định của trọng tài, và trên cơ sở yêu cầu, sẽ cho phép tạm ngừng các ưu đãi hoặc nghĩa vụ khác nếu yêu cầu đó phù hợp với các quyết định của trọng tài, trừ khi SEOM đồng thuận quyết định từ chối yêu cầu đó
Khác với cơ chế thi hành phán quyết của ASEAN, cơ chế thi hành phán quyết của WTO: khi báo cáo được thông qua xác định một biện pháp của một Bên là vi phạm quy định của WTO, cơ quan Báo cáo phải đưa ra khuyến nghị nhằm buộc bên có biện pháp vi phạm phải tuân thủ quy định của WTO ( yêu cầu bị đơn rút lại hoặc sửa đổi biện pháp lien quan) và có thể đưa ra các gợi ý (không bắt buộc) về cách thức thực hiện khuyến nghị đó
Trường hợp khiếu kiện không vi phạm, Bên thua kiện không phải rút lại biện pháp lien quan (vì không có vi phạm) nhưng Báo cáo có thể khuyến nghị Bên thua thực hiện các dàn xếp nhất định để thỏa mãn các bên lien quan (Báo cáo có thể đưa ra những gợi ý về biện pháp dàn xếp thỏa đáng, ví dụ: bồi thường)
Trong vòng 30 ngày kể từ ngày Thông qua báo cáo, bên Thua phải thông báo ý định về việc thi hành khuyến nghị tại buổi họp của DSB triệu tập Nếu không được thực hiện ngay, Bên đó có thể được gia hạn thực hiện trong một khoảng thời gian hợp
lý (thời hạn này do DSB quyết định dựa trên cơ sở của các bên hoặc do các bên tranh châp thỏa thuận trong vòng 45 ngày kể từ ngày thông qua khuyến nghị hoặc theo phán quyết trọng tài tiến hành trong vòng 90 ngày kể từ ngày thông qua khuyến nghị)
Nếu bên thua kiện tạm thời không thể thực hiện khuyến nghị của cơ quan giải quyết tranh chấp, các bên tranh chấp có thể thỏa thuận về khoản bồi thường Việc bồi thường phải được thực hiện trên nguyên tắc tự nguyện và phù hợp với hiệp định có liên quan Nếu các bên không đạt được thỏa thuận về việc bồi thường trong vòng 20 ngày
kể từ khi hết hạn thực hiện khuyến nghị, Bên thắng kiện có thể yêu cầu Cơ quan giải quyết tranh chấp cho phép áp dụng biện pháp trả đủa song song hoặc trả đũa chéo