•Ngoài ra còn các chế độ đặc biệt đối với các liệt sỹ, những người đã hy sinh bản thân mình vì sự nghiệp lớn lao của toàn dân tộc: tìm kiếm, quy tập hài cốt; quản lý, chăm sóc, giữ gìn p
Trang 1TIỂU LUẬN: PHÂN TÍCH NHỮNG BẤT CẬP TRONG VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ƯU ĐÃI XÃ HỘI Ở VIỆT NAM HIỆN
NAY
I Lý luận chung về ưu đãi xã hội
- Ưu đãi xã hội là một trong những nhánh chính của Luật An sinh xã hội Khi nghiên cứu về vấn đề này, chắc chắn sẽ có nhiều quan điểm khác nhau, tuy nhiên chúng ta có thể hiểu theo định nghĩa của Giáo trình Luật An sinh xã hội: “Ưu đãi xã hội là sự đãi ngộ của nhà nước, của cộng đồng và toàn xã hội về đời sống vật chất và tinh thần đối với những người có công với cách mạng và gia đình của họ” Cũng theo cách hiểu này, những người có công phải là những người có thành tích đóng góp hoặc cống hiến xuất sắc cho đất nước, cho lợi ích của dân tộc Và chế độ ưu đãi
xã hội dành cho họ những ưu đãi, đãi ngộ đặc biệt là để tri ân, đền đáp phần nào những cống hiến, đóng góp ấy
- Theo pháp luật hiện hành của Việt Nam, cơ chế này nhằm đảm bảo cho các đối tượng được hưởng ưu đãi như sau:
• Thương binh, bệnh binh, người hưởng chính sách như thương binh;
• Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, anh hung lao động, bà mẹ Việt Nam anh hùng;
• Người hoạt động cách mạng trước Cách Mạng tháng Tám năm 1945;
• Người hoạt động cách mạng, hoạt động kháng chiến bị địch bắt, tù đày;
• Người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế;
• Người có công giúp đỡ cách mạng;
• Người tham gia kháng chiến và con đẻ của họ bị nhiễm chất độc hóa học do
Mỹ sử dụng trong chiến tranh Việt Nam;
• Thân nhân của các đối tượng trên
Ngoài ra, chế độ ưu đãi xã hội của Việt Nam còn có chế độ ưu đãi cho những người đã và sẽ cung cấp sức lao động quý báu cho nền kinh tế-xã hội bao gồm những người già đã có quá trình làm việc, lao động lâu năm, cống hiến sức lao động cho xã hội, những bà mẹ có công sinh nở, nuôi nấng con trẻ và trẻ em – nguồn sức lao động cho sự phát triển kinh tế-xã hội trong tương lai lâu dài Các chính sách đãi ngộ nhóm người này ở Việt Nam gồm có:
•Chính sách đối với người cao tuổi (Pháp lệnh người cao tuổi);
•Chính sách đối với bà mẹ và trẻ em
Tuy nhiên, do giới hạn nghiên cứu, bài Tiểu luận này chỉ tập trung vào nghiên cứu những bất cập của việc thực hiện những chính sách ưu đãi xã hội với những người có công
- Theo những quy định hiện hành, những người có công với cách mạng được hưởng các chế độ ưu đãi sau:
•Công nhận và tôn vinh danh dự: chế độ ưu đãi đặc biệt của Nhà nước nhằm
Trang 2ghi nhận và tôn vinh công trạng, thành tích của người có công và cũng là cơ sở để xác nhận, phân biệt họ với những đối tượng khác Cụ thể, đó là các chế độ tặng và truy tặng các danh hiệu: danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng”,
“Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân”, huân chương kháng chiến, huy chương kháng chiến; tuyên dương “Anh hùng lao động”, tặng các kỉ niệm chương đối với người hoạt động cách mạng và hoạt động kháng chiến bị đich bắt, tù đày, đối với người có công giúp đỡ cách mạng; cấp các giấy chứng nhận: Gia đình Liệt sĩ, Giấy chứng nhận thương binh
•Chế độ trợ cấp, phụ cấp: các hình thức ưu đãi bằng tiền nhằm đảm bảo đời sống, góp phần nâng cao mức sống hằng ngày cho người có công và thân nhân của họ
•Chế độ ưu đãi về giáo dục, đào tạo đối với người có công và con em của họ dưới nhiều hình thức khác nhau như: miễn học phí đối với học sinh, sinh viên đang học tại các cơ sở giáo dục đào tạo công lập; hỗ trợ học phí trong trường hợp học tại các cơ sở giáo dục đào tạo dân lập, tư thục; trợ cấp một lần tiền mua sách vở, đồ dùng học tập; trợ cấp một lần cho học sinh, sinh viên sau khi thi tốt nghiệp
•Chế độ chăm sóc sức khỏe: Cấp thẻ Bảo hiểm y tế; điều dưỡng phục hồi sức khỏe; cấp phương tiện trợ giúp, dụng cụ chỉnh hình cùng các sản phẩm phụ
•Chế độ việc làm và đảm bảo việc làm: chế độ chính sách ưu tiên cho những người có công cùng với con em của họ nhằm tạo điều kiện cho họ bằng khả năng của mình tìm kiếm việc làm và nâng cao thu nhập, đảm bảo đời sống
•Chế độ hỗ trợ cải thiện nhà ở: tặng nhà tình nghĩa, hỗ trợ kinh phí để xây dựng và sửa chữa nhà ở, hỗ trợ toàn bộ hoặc một phần tiền sử dụng đất
•Chế độ chăm sóc về đời sống tinh thần: cấp báo Nhân dân hằng ngày, sinh hoạt văn hóa tinh thần phù hợp, được chính quyền địa phương thăm nom, tặng quà
•Ngoài ra còn các chế độ đặc biệt đối với các liệt sỹ, những người đã hy sinh bản thân mình vì sự nghiệp lớn lao của toàn dân tộc: tìm kiếm, quy tập hài cốt; quản
lý, chăm sóc, giữ gìn phần mộ; 1
- Chính sách về chế độ ưu đãi xã hội thực chất là chính sách của Đảng và Nhà nước trong việc thực hiện chế độ đãi ngộ đối với những người có công với nước nhằm mục đích ghi nhận công lao đóng góp, sự hy sinh cao cả của họ, đồng thời đền đáp một phần công lao, bù đắp phần nào về đời sống vật chất và tinh thần đối với người có công, giúp đỡ họ giải quyết những khó khăn trong cuộc sống mà họ gặp phải chính vì đã đóng góp và hy sinh rất nhiều cho đất nước
2) Ý nghĩa của chế độ Ưu đãi xã hội:
Chúng ta hoàn toàn có thể khẳng định chế độ ưu đãi xã hội có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với mọi mặt của đất nước:
- Về mặt chính trị, chế độ ưu đãi xã hội tạo niềm tin tưởng vào một xã hội tốt đẹp,
là nguồn động viên khích lệ đối với các thành viên của xã hội sẵn sàng đóng góp cho đất nước trong mọi hoàn cảnh, góp phần ổn định xã hội, giữ vững thể chế, tạo điều
1 Chi tiết xem tại: Các chế độ ưu đãi người có công với cách mạng và hướng hoàn thiện – ThS Đỗ Thị Dung Tạp chí Luật học số 1/2011
Trang 3kiện phát triển đất nước một cách ổn định và bền vững
- Về mặt xã hội và nhân văn, chế độ này thể hiện truyền thống đền ơn đáp nghĩa,
là sự ghi nhận và báo đáp phần nào những công ơn to lớn của những người xả thân
vì đất nước, vì dân tộc Đó là truyền thống quý báu của dân tộc, thể hiện sự quan tâm của Nhà nước, của cộng đồng và toàn xã hội đến mọi mặt đời sống của người có công Chế độ này còn có ý nghĩa giáo dục nhận thức của thế hệ trẻ, phát huy truyền thống yêu nước, uống nước nhớ nguồn, khơi dậy lòng tự hào dân tộc, lòng biết ơn đối với thế hệ đi trước
- Về mặt kinh tế, chế độ ưu đãi xã hội là sự đảm bảo và nâng cao đời sống cho người có công Đặc biệt, đối với những người không có khả năng lao động cũng là như không còn ai để nương tựa thì đây có thể là nguồn thu nhập chính của họ, mặt khác, giúp người có công có cơ hội phát triển kinh tế, nâng cao đời sống vật chất
- Về mặt pháp lý, chế độ ưu đãi xã hội là sự đảm bảo về mặt pháp lý cho những quyền ưu đãi của người có công được ghi nhận trên thực tế Nó trở thành trách nhiệm của Nhà nước và các cấp chính quyền, đồng thời là những quyền hợp pháp của người được hưởng ưu đãi
II Thực trạng thực thi chế độ ưu đãi xã hội ở Việt Nam hiện nay
Thực hiện chính sách ưu đãi người có công trong thực tiễn đời sống xã hội, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã trình Chính phủ ban hành, ban hành theo thẩm quyền cũng như cùng với các bộ, ngành chức năng ban hành hàng loạt văn bản hướng dẫn thực hiện Pháp lệnh về quy trình, thủ tục giải quyết chính sách ưu đãi đối với người có công, thường xuyên điều chỉnh mức trợ cấp, phụ cấp ưu đãi, chăm sóc sức khỏe đối với người có công, cùng các chính sách ưu đãi khác trong giáo dục đào tạo, dạy nghề, chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ nhà ở, việc làm, vay vốn đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, xuất khẩu lao động
Cùng với việc không ngừng hoàn thiện hệ thống chính sách, để bảo đảm người
có công được hưởng các chính sách do Nhà nước ban hành một cách đầy đủ, kịp thời, thời gian qua, việc tuyên truyền, vận động toàn xã hội chăm sóc người có công
đã trở thành phong trào “Đền ơn đáp nghĩa” thường xuyên và mang tính xã hội hóa cao với nhiều hình thức phong phú, đa dạng, phù hợp với từng ngành, từng địa phương, từng tổ chức, đoàn thể chính trị - xã hội và nhiều cá nhân, nhà doanh nghiệp tham gia ủng hộ ở cả hai phương diện huy động nguồn lực là nguồn lực đầu
tư cho ưu đãi xã hội và sự đầu tư của Nhà nước đều được tăng cường, mang lại hiệu quả rất thiết thực Bằng những chương trình cụ thể, như ủng hộ Quỹ đền ơn đáp nghĩa, xây dựng nhà tình nghĩa, phụng dưỡng bà mẹ Việt Nam anh hùng, chăm sóc thương binh, bệnh binh, tặng sổ tiết kiệm tình nghĩa, tặng học bổng cho con thương binh, liệt sĩ vượt khó học giỏi, chăm sóc bố mẹ liệt sĩ già yếu cô đơn, con liệt sĩ mồ côi, thăm hỏi tặng quà các gia đình chính sách nhân dịp lễ, tết, ngày 27-7 hàng năm
ở địa phương, đơn vị sản xuất, cơ quan, hỗ trợ đối tượng và gia đình chính sách lúc khó khăn, hỗ trợ giống cây trồng vật nuôi, vốn, giúp đối tượng chính sách cải tạo vườn tạp thành vườn cây cho giá trị kinh tế cao, miễn giảm thuế hoặc ưu tiên cho thuê, mua, mượn đất làm kinh tế đối với cá nhân, tập thể người có công Nhiều xã,
Trang 4phường duy trì phong trào “Đền ơn đáp nghĩa” thường xuyên, thể hiện được tình cảm, trách nhiệm của cả cộng đồng dân tộc với đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” Sự chung tay của các lực lượng xã hội và Nhà nước đã góp phần ổn định, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho thương binh, bệnh binh, thân nhân liệt sĩ và gia đình người có công Năm 2010, trong điều kiện kinh tế đất nước còn nhiều khó khăn nhưng Quỹ đền ơn đáp nghĩa Trung ương đã nhận được sự ủng hộ 290 tỉ đồng, chúng ta đã xây mới 11.202 nhà tình nghĩa, sửa chữa nâng cấp 7.317 nhà cho đối tượng người có công với tổng số tiền hơn 401 tỉ đồng Hơn 94% số xã, phường trong toàn quốc làm tốt công tác đền ơn đáp nghĩa, trên 95% đối tượng chính sách đạt được mức sống bằng và cao hơn mức sống trung bình của xã hội, 100% bà mẹ Việt Nam anh hùng còn sống được phụng dưỡng và chăm sóc chu đáo, tặng 16.282
sổ tình nghĩa với tổng số tiền trên 13 tỉ đồng Hầu hết các nghĩa trang liệt sĩ quy mô quốc gia và địa phương, các khu tưởng niệm danh nhân, anh hùng liệt sĩ và những
“địa chỉ Đỏ” được nhân dân và các tổ chức xã hội góp công, góp của trị giá hàng trăm tỉ đồng để xây dựng và tu bổ
Theo cục Người có công (Bộ LĐ-TB và XH), hiện toàn quốc có gần 1,5 triệu người có công hiện đang hưởng trợ cấp hàng tháng, 2,4 triệu người hưởng chế độ bảo hiểm y tế và chế độ mai táng phí khi từ trần Trong đó có khoảng 9.000 Mẹ Việt Nam Anh hùng, 20.000 thương binh, bệnh binh nặng suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên, 330.000 thân nhân, liệt sĩ già yếu cô đơn, con liệt sĩ mồ côi, 300.000 con thương binh, con liệt sĩ đang học tại trường thuộc hệ thống giáo dục quốc dân Ông Dương Minh Đỗ, Phó cục trưởng Cục Người có công (Bộ LĐ-TB và XH) cho biết: với quy định cụ thể chế độ ưu đãi xã hội đối với người có công, riêng trợ cấp
ưu đãi thường xuyên hàng tháng được điều chỉnh phù hợp với tình hình kinh tế, xã hội của đất nước và tương ứng với mức tiêu dùng bình quân của toàn xã hội Mức trợ cấp, chế độ trợ cấp được điều chỉnh theo lộ trình cải cách tiền lương, Bảo hiểm
xã hội và trợ cấp ưu đãi người có công
“Chế độ trợ cấp với người có công được thực hiện từ năm 1995 theo qui định của Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng và một số văn bản pháp qui khác của Chính phủ Những chế độ trợ cấp được qui định khá cụ thể, chi tiết, theo từng mức khác nhau cho từng diện đối tượng Phải khẳng định rằng chế độ trợ cấp ưu đãi
xã hội bước đầu phù hợp với đặc điểm của phương thức quản lý kinh tế mới theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước và được qui định khá hợp lý, cụ thể, phù hợp với đặc điểm của từng diện đối tượng, được điều chỉnh cùng với sự tăng trưởng của nền kinh tế Điều thành công nhất là chế độ trợ cấp này đã góp phần ổn đinh, từng bước nâng cao đời sống đối tượng chính sách, hợp với lòng dân, đảm bảo sự công bằng trong việc thụ hưởng chế độ ưu đãi của người có công trong cộng đồng dân cư, công bằng giữa những người có công Cụ thể:
• Trợ cấp hàng tháng cho người được Nhà nước phong tặng danh hiệu cao quí
Bà Mẹ Việt Nam anh hùng, bằng 2,14 mức lương tối thiểu
• Trợ cấp nuôi dưỡng hành tháng cho diện đối tượng chính sách (thân nhân liệt
sĩ, người có công đối với cách mạng…), cô đơn không nơi nương tựa bằng 1,76 mức lương tối thiểu
Trang 5• Mức trợ cấp hàng tháng đối với con liệt sĩ, con thương bệnh binh mất sức lao động trên 61% trở lên đang học tại các trường cao đẳng, đại học công lập với mức là 140.000 đồng/ tháng và 115.000đồng/ tháng…”2
Đồng thời Nhà Nước đã chi trả chế độ trợ cấp một lần cho khoảng 3 triệu người hoạt động kháng chiến được Nhà nước khen tặng Huân, Huy chương tổng kết thành tích kháng chiến Hoàn thành trả trợ cấp ưu đãi một lần cho khoảng 4 triệu người và khoảng 1,5 triệu thương binh, thân nhân liệt sĩ, lão thành cách mạng, Bà
mẹ Việt Nam anh hùng… tiếp tục hưởng trợ cấp ưu đãi hàng tháng Theo số liệu thống kê từ Bộ Lao động Thương binh – Xã hội, từ năm 1996 – 2002 ngân sách Nhà nước đã chi trả trợ cấp một lần và hàng tháng cho những người có công với cách mạng, chi cho công tác qui tập mộ liệt sĩ, tu bổ nghĩa trang, nuôi dưỡng thương bệnh binh, trợ cấp cho cán bộ đi các chiến trường B,C,K với tổng số tiền lên tới: 14.361 tỷ đồng
Bên cạnh đó,hiện đã có 85% xã, phường toàn quốc không còn hộ chính sách diện nghèo, 85% gia đình chính sách có mức sống trung bình trở lên so với dân cư cùng địa bàn cư trú Theo số liệu thống kê của Tổng cục thống kê cho thấy: mỗi năm, toàn quốc xây dựng, sửa chữa từ 6000 đến 10.000 nhà ở cho người có công với Cách mạng Tặng hơn 300.000 nhà tình nghĩa cho gia đình chính sách khó khăn, trị giá hàng ngàn tỷ đồng Quỹ đền ơn, đáp nghĩa hàng năm huy động được từ 150 đến
180 tỷ đồng, Quỹ từ Trung ương đạt 5 tỷ đồng 100% Mẹ Việt Nam anh hùng còn sống đã được phụng dưỡng, trên 20.000 thương bệnh binh sống tại gia đình, trên 32.000 bố mẹ liệt sĩ già yếu, cô đơn được các đoàn thể chính quyền và nhân dân địa phương chăm lo chu đáo
Như vậy, Ưu đãi xã hội đối với người có công bước đầu đã bảo đảm nguyên tắc bình đẳng, công khai, công bằng xã hội Người có công được chăm lo, đền đáp, đền ơn trả nghĩa, người cống hiến hy sinh nhiều được chăm lo ưu đãi nhiều hơn Họ được ưu tiên, ưu đãi trong giáo dục, đào tạo, giải quyết việc làm ngoài ra những trường hợp như thương binh nặng, thân nhân liệt sĩ, bà mẹ Việt Nam anh hùng được
ưu tiên về nhà ở, đất ở, được chăm lo, phụng dưỡng về vật chất và tinh thần của địa phương và các đoàn thể xã hội
- Hạn chế cơ bản nhất của chế độ ưu đãi xã hội là mức trợ cấp còn thấp và chưa đáp ứng nhu cầu thiết yếu về đời sống của người có công nếu họ không có sự trợ giúp của cộng đồng
Có thể lấy trợ cấp của thương, bệnh binh nặng để minh chứng cho vấn đề này Theo kết quả điều tra khảo sát tại vùng Tây bắc (nơi chỉ số sinh hoạt thấp), chỉ tính chi phí tối thiểu cho sinh hoạt hàng ngày của một người thì cần khoảng 191.000 đồng/tháng và nếu chi phí tối thiểu cho nhu cầu cá chân là 235.000 đồng/ tháng Chi
2 TRỢ CẤP ƯU ĐÃI XÃ HỘI TRONG HỆ THỐNG AN SINH XÃ HỘI VIỆT NAM-TS NGUYỄN ĐÌNH LIÊU – Thứ trưởng Bộ Lao động TBXH
Trang 6phí tối thiểu cho nhu cầu cá nhân bình quân trong cả nước vào khoảng 355.000 đồng/tháng (năm 2001) Trong khi đó mức trợ cấp cho thương bệnh binh nặng năm
2001 mới chỉ dừng lại ở mức:
· Thương binh mất sức lao động 61%, mức trợ cấp là 266.000 đồng/tháng
· Thương binh mất sức lao động 81%, mức trợ cấp 354.000 đồng/tháng
· Bệnh binh mất sức lao động 61%- 70%, mức trợ cấp 227.000 đồng/tháng
· Bệnh binh mất sức lao động 71%- 89%, mức trợ cấp 314.000 đồng/tháng Mức trợ cấp kể trên rõ ràng chưa thể coi đã là ưu đãi bởi chưa đảm bảo nhu cầu tối thiểu nhất cho bản thân, chưa kể thực tế họ còn phải gánh vác việc nuôi con, phụ giúp gia đình
-Hơn nữa, mức trợ cấp còn phụ thuộc vào chính sách tiền lương, điều chỉnh theo mức lương tối thiểu là không hợp lý, vì chính sách tiền lương tạo động lực thúc dẩy năng suất lao động , chất lượng và hiệu quả công việc, chuyển việc phân phối bằng hiện vật là chủ yếu sang phân phối theo giá trị thông qua tiền lương, trong khi chính sách ưu đãi thông qua trợ cấp phải phù hợp với tình hình kinh tế xã hội, được
đảm bảo bằng ngân sách nhà nước và tính chất xã hội hóa ngày càng cao.
- Một trong những hạn chế lớn của chế độ ưu đãi xã hội là khó khăn trong việc giải quyết chế độ cho người hoạt động kháng chiến và con đẻ của họ bị nhiễm chất độc da cam
Tình trạng tồn đọng hồ sơ chưa được giải quyết vì theo Thông tư 1609 của Bộ Lao động thương binh và xã hội về việc hướng dẫn xử lý vướng mắc khi tiếp nhận
hồ sơ giải quyết chế độ người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học,
“trước mắt chỉ tiếp nhận và giải quyết đối với trường hợp bị bệnh hiểm nghèo, bệnh ung thư và người có bệnh án trước ngày 7-4-2009” (thời điểm Thông tư
08/2009/TT-BLĐTBXH hướng dẫn về hồ sơ, lập hồ sơ thực hiện chế độ ưu đãi đối với người tham gia kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học được ban hành) Đồng thời, chỉ tiếp nhận hồ sơ và chuyển đến Hội đồng Giám định Y khoa những bệnh tật nằm trong danh mục của Quyết định số 09/2008/QĐ-BYT, không giới thiệu những bệnh tật nằm ngoài danh mục Việc này dẫn đến tình trạng tồn đọng rất nhiều hồ sơ chưa có giấy ra viện sau ngày 7/4/2009 vì chưa được xem xét giải quyết
Trong thực tế những người tham gia kháng chiến bị nhiễm chất độc hoá học bị bất thường sinh sản, sinh con dị dạng dị tật nhưng cũng có những người con tương đối bình thường, hoặc những người con đã chết Thế nhưng trong văn bản dẫn lại chỉ hướng đến đối tượng có con đang sống bị dị dạng, dị tật, còn những người có con dị dạng dị tật nhưng đã qua đời lại không được hướng dẫn cụ thể Dẫn đến việc những đối tượng bị nhiễm chất độc da cam có con “trông có vẻ bình thường” nhưng không được hưởng Bên cạnh đó, do việc xác nhận hồ sơ của chính quyền cấp xã còn thiếu chính xác và hiện chưa có chính sách giải quyết chế độ cho những người dân sống trong vùng bị rải thảm chất độc hóa học nên đã gây khó khăn, bức xúc không chỉ cho các đối tượng mà ngay cả các cấp, ngành liên quan
“Trường hợp ông Nguyễn Duy Tùng, 73 tuổi, quê quán Cương Gián, Nghi Xuân Hà Tĩnh là một điển hình Đã từng chiến đấu ở vùng bị nhiễm chất độc hoá học, ông về sinh 3 con bị dị dạng dị tật nhưng đã qua đời (có cháu 5 tuổi mới qua
Trang 7đời), sẩy thai nhiều lần, sau có hai con tương đối bình thường (không có dị dạng thực thể) Đến khi ông nộp hồ sơ để hưởng chế độ thì bị gạt ngay ở vòng sơ loại bởi
vì cán bộ cho rằng hai con của ông hiện không bị dị dạng dị tật Trong khi đó, hồ sơ của ông đã được địa phương xác nhận ghi rõ danh tính 3 con dị dạng đã qua đời Ông Tùng bức xúc, khiếu nại, phóng viên phản ánh thì cán bộ Phòng Lao động- thương binh và xã hội huyện Nghi Xuân mới hướng dẫn ông làm lại hồ sơ theo đối tượng “Bất thường sinh sản”.”3
Như vậy, Quyết định 09/2008/QĐ BYT, Thông tư 08/2009/TTLT quy định danh mục bệnh tật, dị tật có liên quan đến phơi nhiễm chất độc da cam, điôxin quá trình thực hiện còn nhiều vướng mắc, không phù hợp với thực tế, trong khi nhiều nội dung có tính cấp thiết chưa được ban hành Một số quy định về thủ tục,
hồ sơ đối với người có công, người hoạt động kháng chiến hiện nay quá khắt khe Thực tế có những trường hợp không có, hoặc không còn giấy tờ gốc theo quy định tại Thông tư 25/2007/TT-BLĐTBXH ngày 15.11.2007 nên không được giải quyết đã gây bức xúc trong nhân dân, đồng thời là nguyên nhân kéo dài thời gian, gây tồn đọng nhiều hồ sơ đến nay vẫn chưa giải quyết được Quy định về thủ tục giám định trong một số trường hợp bị mắc bệnh do nhiễm chất độc hoá học nhưng lại không quy định việc xác định tỷ lệ suy giảm khả năng lao động, do
đó không có căn cứ để xác định mức trợ cấp.
Chẳng hạn, theo Báo Hòa Bình, “toàn tỉnh hiện có 2.233 người đã được hưởng chế độ của nạn nhân chất độc da cam/điôxin, trong đó có 1.640 người là đối tượng trực tiếp và 593 người gián tiếp Hiện nay, tỉnh còn khoảng 5.000 đối tượng nghi phơi nhiễm chất độc hóa học chưa được xét nghiệm và hưởng chế độ”4 ông Nguyễn Xuân Khoát, Hội Nạn nhân da cam/điôxin tỉnh cho biết: Nguyên nhân nhiều nạn nhân chất độc hóa học hiện chưa được hưởng trợ cấp xã hội là do trong quá trình lập hồ sơ thực hiện chế độ ưu đãi người có công với cách mạng đã không còn giữ đủ một số giấy tờ theo quy định bắt buộc căn cứ vào Nghị định số
54/2006/NĐ-CP ngày 26/5/2006 của Chính phủ về việc hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng; Bộ LĐ-TB&XH sửa đổi, bổ sung mục VII, Thông tư số 07/2006/TT-BLĐTBXH ngày 26/7/2006 hướng dẫn về hồ sơ, lập
hồ sơ thực hiện chế độ ưu đãi người có công với cách mạng, bao gồm 14 loại giấy tờ liên quan chứng minh địa bàn hoạt động ở chiến trường, sức khỏe hiện tại của người tham gia kháng chiến, tình trạng dị dạng, dị tật của con, chứng từ điều trị của bệnh viện, biên bản họp của địa phương, danh sách niêm yết những người hoạt động kháng chiến nhiễm chất độc hóa học của UBND cấp xã Trong khi đó, phần đông người dân, nhất là bà con dân tộc thiểu số không còn lưu giữ được hồ sơ, lý lịch, giấy tờ liên quan đến người tham gia kháng chiến, lại thiếu người hướng dẫn, kê khai dẫn đến sai sót nhiều lần, quá trình giám định phải chờ đợi kéo dài nên nản chí
và bỏ cuộc
Tình trạng thực hiện sai sót đối tượng trong việc thực hiện chính sách hỗ trợ
3 Theo Báo Dân Trí – Số ra ngày Thứ Bẩy, 24/07/2010
4 Những tồn tại trong giải quyết chế độ cho nạn nhân chất độc da cam/điôxin Hồng Nhung
(Báo Hoà Bình)
Trang 8đặc biệt vẫn còn ở nhiều địa phương: Một số đối tượng không thuộc diện chính sách
ưu đãi, nhưng do quá trình thực hiện chưa được giám sát chặt chẽ nên được xét hưởng chính sách hỗ trợ đặc biệt Thậm chí, cách đây khoảng 5 năm, có không ít cán
bộ ở nhiều địa phương bị xử lí, hầu toà vì đã phối hợp làm hàng nghìn bộ hồ sơ
“thương binh giả” Những đối tượng này đã buộc phải trả lại những gì hưởng không đúng cho nhà nước Tuy nhiên hiện nay, dư luận cho rằng đang còn không ít đối tượng “thương binh giả”, “chính sách dởm” vẫn ung dung thụ hưởng chế độ ưu đãi Việc này không chỉ gây thiệt hại cho ngân sách quốc gia mà quan trọng hơn làm xói mòn niềm tin của người dân vào nhà nước, xúc phạm đến những đối tượng có cống hiến chân chính
- Một bộ phận người có công thật sự nhưng do thất lạc giấy tờ cần thiết lại chưa được hưởng chính sách hỗ trợ Việc giám sát thực hiện ở các cấp còn nhiều hạn chế Hệ thống chính sách hỗ trợ đặc biệt được thiết kế khá phức tạp, nên khó quản lý và giám sát từ khâu giám định, xét duyệt đến khâu chi trả trợ cấp
Theo nguồn thông tin từ thầy Trần Quang Đại Giáo viên trường THPT Trần Phú, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh, thực tế có một số trường hợp vướng mắc như sau:
“Ông Trần Xuân Xanh, quê quán Đức Long, Đức Thọ, Hà Tĩnh, 77 tuổi, có 23 năm tham gia quân đội, đến năm 1977 có quyết định chuyển ngành, nhưng nơi chuyển đến không tiếp nhận Quay lại đơn vị cũ thì họ bảo đã ra khỏi quân đội rồi
Về quê không chế độ, chờ đợi hơn 30 năm, đến năm 2006 nhà nước có chính sách cho những đối tượng đã công tác trên 20 năm trong quân đội được hưởng chế độ hưu trí, ông nộp hồ sơ để xin hưởng, nhưng bị Bảo hiểm quân đội trả về Vì trong văn bản ghi đối tượng đã phục viên, xuất ngũ, còn ông lại là đối tượng “chuyển ngành” Thế là ông có nguy cơ vĩnh viễn không được hưởng quyền lợi gì
Ông Phạm Lý, 77 tuổi, quê quán Trung Lễ, Đức Thọ, Hà Tĩnh là người đã từng chiến đấu trong vùng bị quân Mỹ rải chất độc da cam Về quê, sinh con bị chết, dị tật Năm 2000, ông được hưởng chế độ cho người tham gia kháng chiến bị nhiễm chất độc hoá học Năm 2006, ông khai lại hồ sơ để tiếp tục hưởng, nhưng sau đó đã
bị cắt bởi vì trong hồ sơ bổ sung năm 2006, ông khai sinh năm 1938, trong khi tại hồ
sơ năm 2000 lại ghi năm sinh 1933 Nguyên nhân vì ông trí nhớ giảm sút, hồ sơ nhờ người khác khai nên không chính xác
Sau ông khiếu nại, xã, huyện đã tổ chức kiểm tra, xác định năm sinh của ông trong hồ sơ gốc là 1933, đề nghị Sở Lao động- thương binh và xã hội Hà Tĩnh tiếp tục cho hưởng chế độ Nhưng đến nay đã hơn 5 năm, Sở Lao động- thương binh và
xã hội Hà Tĩnh vẫn “án binh bất động”, tiếp tục dừng chế độ của ông mà không hề
có quyết định, văn bản chính thức Trường hợp của ông được đề nghị nhiều lần trong các cuộc họp, các cuộc tiếp xúc cử tri Hội đồng nhân dân các cấp, nhưng vẫn
vô hiệu.”5
Ngoài những hạn chế chủ yếu trên, chính sách Ưu đãi xã hội của nước ta còn những vướng mắc sau cần giải quyết:
5 Xin đừng để người có công phải ngậm ngùi!- Bài viết của Trần Quang Đại Giáo viên trường THPT Trần Phú, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh Báo Dân Trí
Trang 9- Những việc làm tình nghĩa và phong trào chăm sóc người có công chưa được thực hiện thường xuyên, chưa phát triển đồng đều ở các địa phương, nhất là những nơi kinh tế chậm phát triển Còn nhiều nơi phong trào mới chỉ tập trung trong dịp 27 tháng 7 hàng năm
- Việc thực hiện chính sách đối với một số đối tượng còn chậm (cựu thanh niên xung phong, các chiến sỹ du kích tham gia kháng chiến bị hy sinh…)
- Công tác đền ơn đáp nghĩa ở một số nơi chưa gắn với việc giáo dục truyền thống, tuyên truyền mục đích, ý nghĩa của phong trào, tôn vinh người tốt, việc tốt; một số nơi còn nặng về hoạt động quyên góp, giúp đỡ vật chất
- Những quy định về khen thưởng, xử phạt vi phạm chưa cụ thể, thiếu các chế tài thực hiện cũng là những bất cập, tụt hậu với thực tiễn hết sức phong phú và sự nhạy cảm của đời sống
- Một số bất công đối với người nhận chính sách xã hội như:
Thông tư 25, quy định chế độ ưu đãi với người vừa là thương binh, bệnh binh vừa mất sức lao động nhưng lại chỉ được hưởng một chế độ gây nhiều bức xúc, nhưng đến nay vẫn chưa được điều chỉnh Thủ tục thăm viếng, mức hỗ trợ thân nhân liệt sỹ đi thăm viếng mộ liệt sỹ và di chuyển hài cốt liệt sỹ quy định tại Thông tư liên tịch số 01/2008/TTLT/BLĐTBXH-BTC của Bộ LĐ, TB và XH và
Bộ Tài chính còn phát sinh nhiều vướng mắc gây phiền hà, khó khăn trong quá trình thực hiện.
Hiện nay, thanh niên xung phong không thuộc đối tượng điều chỉnh của Pháp lệnh Người có công, ngoài chế độ trợ cấp một lần là 1,5 triệu đồng, họ không được hưởng chế độ nào khác Trên thực tế, đa số các đối tượng TNXP có hoàn cảnh rất khó khăn Đây cũng là điều bất hợp lý, cần được nghiên cứu, sửa đổi quy định cho phù hợp Mức trợ cấp cho đối tượng người cao tuổi trong nhiều trường hợp vẫn thấp so với thu nhập, chi tiêu bình quân chung của toàn xã hội,
do đó cuộc sống của một bộ phận người cao tuổi còn gặp nhiều khó khăn Cụ thể, đối tượng người cao tuổi bị địch bắt tù đày, hưởng chế độ một lần theo quy định hiện hành tối đa là 2,5 triệu đồng/người có thời gian bị tù đày từ 10 năm trở lên
Số tiền trợ cấp này giảm theo hệ số năm bị bắt tù đày, mức thấp nhất là 500.000 đồng Ngoài ra, người bị bắt tù đày không được hưởng các chế độ khác như hưu trí, thương binh, bệnh binh, mất sức Điều này dẫn đến khó khăn cho đối tượng này, nhất là trong trường hợp không có thu nhập nào khác lại ốm đau, bệnh tật Người có công với cách mạng được trợ cấp hàng tháng với mức 453.000
đồng/tháng hiện quá thấp so với mức lương tối thiểu và dưới mức chuẩn nghèo
mà Chính phủ mới thông qua Nếu không có thu nhập nào khác thì hết sức khó khăn, nhất là trong tình hình giá cả leo thang và biến động như hiện nay Theo Nghị định 35/NĐ-CP ngày 6.4.2010, người hoạt động kháng chiến được hưởng trợ cấp một lần 120.000 đồng/năm cũng không phù hợp thực tế.
Với mục tiêu chăm lo tốt hơn đối với các gia đình chính sách và những người
có công với cách mạng, bảo đảm tất cả các gia đình chính sách đều có mức sống
Trang 10bằng hoặc cao hơn mức sống trung bình so với người dân địa phương trên cơ sở kết hợp ba nguồn lực: Nhà nước, cộng đồng và bản thân đối tượng tự vươn lên, công tác chăm sóc người có công, bảo đảm an sinh xã hội cho các đối tượng chính sách trong phát triển bền vững đòi hỏi cần thực hiện tốt các giải pháp chủ yếu sau đây:
- Tiếp tục hoàn thiện hệ thống văn bản pháp quy, triển khai đồng bộ, thống nhất và kịp thời tất cả chính sách ưu đãi Khi Việt Nam đang trong quá trình xây dựng nền Kinh tế thị trường và trong quá trình hội nhập với thế giới, nguy cơ phân hóa giàu – nghèo, một bộ phận dân cư bị suy giảm thu nhập và mức sống, thì việc nghiên cứu và ban hành Luật ưu đãi người có công là điều cần thiết để bảo đảm việc thực hiện chính sách được thống nhất trên phạm vi cả nước, cũng như bảo đảm cho mọi đối tượng được tiếp cận với các dịch vụ một cách công bằng và có chất lượng Đồng thời, cần tăng cường đổi mới chính sách đãi ngộ theo hướng nâng cao mức trợ cấp để thực sự có sự tác động mạnh đến chất lượng cuộc sống của đối tượng được hưởng Mặt khác, không chỉ dừng lại ở việc trợ cấp, mà cần đẩy mạnh việc nghiên cứu và phát triển một số lĩnh vực cho các đối tượng chính sách như: hệ thống giáo dục, đào tạo nghề mang tính chuyên nghiệp; có hệ thống thang bảng lương riêng; có chương trình đào tạo ở bậc đại học và sau đại học; có hiệp hội công tác xã hội ở cấp quốc gia để tạo bước đột phá mới về tạo việc làm, tăng thu nhập và tiếp cận dịch
vụ xã hội cơ bản thuận lợi hơn, chất lượng hơn Có như vậy, mới cải thiện và nâng cao mức sống của những người có công phù hợp với quá trình phát triển kinh tế - xã hội một cách bền vững
Bộ Lao động thương binh và xã hội cần tiếp tục phối hợp các ngành, địa phương có biện pháp cụ thể và khả thi để hỗ trợ các gia đình chính sách còn khó khăn từng bước vượt qua nghèo khó, đạt tới mức sống trung bình trong xã hội Trước hết là ưu tiên giải quyết chỗ ở, hỗ trợ vốn phát triển sản xuất thông qua việc
“điều tiết” nguồn vốn từ Quỹ đền ơn đáp nghĩa Chính phủ cũng đang tìm giải pháp
để hoàn thiện, nâng cấp, tu bổ các nghĩa trang liệt sĩ, phần mộ liệt sĩ, đài, bia tưởng niệm liệt sĩ thật khang trang, đồng thời đáp ứng nguyện vọng thiêng liêng của các thân nhân liệt sĩ muốn chăm sóc phần mộ liệt sĩ tại quê nhà
- Tiếp tục thực hiện cải cách thủ tục hành chính nhanh chóng, giảm phiền hà cho đối tượng chính sách nhưng vẫn bảo đảm chính xác, đầy đủ và minh bạch về chế độ thụ hưởng của người có công Tổ chức, sắp xếp lại bộ máy quản lý trong lĩnh vực người có công từ khâu nghiên cứu, quản lý chỉ đạo đến tổ chức thực hiện Tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị phù hợp với yêu cầu công việc; đồng thời rà soát, bồi dưỡng, đào tạo và đào tạo lại nhằm nâng cao chất lượng, trình độ của đội ngũ cán bộ cả về đạo đức và năng lực trong lĩnh vực công tác người có công Tăng cường thanh tra, kiểm tra thường xuyên công tác xác nhận và thực hiện chế độ ưu đãi đối với người có công Phát hiện và giải quyết dứt điểm các vi phạm chính sách
ưu đãi người có công để tạo sự đồng thuận xã hội cao, tập trung trọng tâm giải quyết những trường hợp đối tượng người thực sự có công còn tồn đọng vì nhiều lý do, nhất là những người do chiến tranh, thiên tai hay vì những lý do đặc biệt mà thất lạc, mất mát hồ sơ, chứng nhận cần thiết nên vẫn chịu sự thiệt thòi
- Triển khai thực hiện tốt Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng đã