1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết

18 206 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 134,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khái niệm chung về di chúc và những quy định chung về việc lập di chúc: Theo điều 646 Bộ luật dân sự quy định: " Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình ch

Trang 1

MỤC LỤC

I ĐẶT VẤN ĐỀ:……… 2

II GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ:……….2

1 Khái niệm chung về di chúc và những quy định chung về di chúc:………… 2

2 Những quy định của pháp luật về việc lập di chúc chung của vợ - chồng:……4

3 Một số vấn đề về việc lập di chúc chung của vợ-chồng:……… 6 3.1 Những ưu điểm của việc lập di chúc chung của vợ chồng:………6 3.2 Những bất cập trong những quy định về việc lập di chúc chung của vợ-chông:……….6

a Quyền lập di chúc chung của vợ, chồng và nguyên tắc tự nguyện cá nhân trong việc lập di chúc:……….7

b Nội dung, mục đích của việc lập di chúc chung của vợ - chồng:……… 7

c Hình thức của di chúc chung của vợ - chồng:………8

d Quyền sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ di chúc chung của vợ - chồng:… 10

e Vấn đề về hiệu lực di chúc chung của vợ chồng:……… 12

4 Những biện pháp sửa đổi nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật về việc lập di chúc chung của vợ - chồng:………16

III KẾT THÚC VẤN ĐỀ:……….17

Trang 2

I ĐẶT VẤN ĐỀ:

Pháp luật của nước ta trên cơ sở bảo vệ quyền sở hữu hợp pháp của công dân đã bảo đảm để công dân thực hiện những quyền này trong nội dung quyền sở hữu một cách triệt để Vì vậy việc tôn trọng quyền lập di chúc là một yếu tố để tôn trọng và khẳng định quyền sở hữu về tài sản của người lập di chúc Bởi vậy, điều 634 đã khẳng định: " cá nhân có quyền lập di chúc đề định đoạt tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật, hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật" Đối với khối tài sản chung của vợ, chồng thì hai vợ chồng có quyền cùng lập di chúc chung được thừa nhận trong pháp luật hiện hành Việt Nam Việc thừa nhận quyền này thể hiện nguyên tắc củng cố tình thương yêu, đoàn kết trong gia đình, mặt khác cũng gây ra sự mâu thuẫn với các quy định khác về di chúc làm nảy sinh nhiều bất cập

II GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ:

1 Khái niệm chung về di chúc và những quy định chung về việc lập di chúc:

Theo điều 646 Bộ luật dân sự quy định: " Di chúc là sự thể hiện ý chí của

cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết" Di chúc là

sự dịch chuyển tài sản của một người đã chết cho những người khác còn sống theo sự định đoạt ý chí của người lập di chúc Đây là một giao dịch dân sự thể hiện hành vi pháp lý đơn phương của người lập di chúc Do vậy di chúc là giao dịch dân sự một bên Sự giao dịch này được thực hiện hoặc bằng giấy tờ hoặc bằng lời nói miệng Di chúc có hiệu lực sau khi người lập di chúc chết

Điều 647 Bộ luật dân sự quy định về người lập di chúc như sau:

" 1 Người đã thành niên có quyền lập di chúc, trừ trường hợp người đó

bị bênh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thúc và làm chủ được hành vi của mình.

2 Người từ dủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi có thể lập di

Trang 3

Vậy người lập di chúc trước tiên phải là chủ sở hữu tài sản (người sử dụng tài sản) và phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, có khả năng thể hiện rõ

ý chí của mình trong việc định đoạt tài sản Đối với người từ đủ mười lăm tuổi đến mười tám tuổi cũng có thể lập di chúc nhưng phải thông qua sự đồng ý của cha, mẹ hoặc người giám hộ của người đó trong việc lập di chúc Tuy nhiên việc đồng ý này không can thiệp đến nội dung của di chúc

Về hình thức của di chúc theo điều 649 Bộ luật dân sự: "Di chúc phải được lập thành văn bản; nếu không thể lập được di chúc bằng văn bản thì có thể

di chúc miệng.

Người thuộc dân tộc thiểu số có quyền lập di chúc bằng chữ viết hoặc tiếng nói của dân tộc mình." Và di chúc theo những hình thức này chỉ được coi

là hợp pháp khi thỏa mãn các điều kiện được quy định tại điều 652 Bộ luật hình

sự: " 1 Di chúc được coi là hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây:

a) Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe dọa hoặc cưỡng ép;

b) Nội dung di chúc không trái pháp luật, đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của pháp luật.

2 Di chúc của người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi phải được lập thành văn bản và phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý.

3 Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực.

4 Di chúc bằng văn bản không có công chứng, chứng thực chỉ được coi là hợp pháp, nếu có đủ các điều kiện được quy định tại khoản 1 điều này.

5 Di chúc miệng được coi là hợp pháp, nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau đó những người làm chứng ghi chép lại, cùng kí tên hoặc điểm chỉ Trong thời hạn

Trang 4

năm ngày, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì người di chúc phải được công chứng hoặc chứng thực."

Khi người còn sống lập di chúc sẽ không bị ràng buộc bởi di chúc đã lập

và có quyền sửa đổi, bổ sung, thay thế di chúc đã lập bằng một di chúc lập ra sau

đó hoặc có quyền hủy bỏ di chúc bất cứ lúc nào Trong trường hợp người lập di chúc bổ sung di chúc thì di chúc đã lập và phần bổ sung có hiệu lực pháp luật như nhau; nếu một phần của di chúc đã lập và phần bổ sung mâu thuẫn nhau thì chỉ có phần bổ sung có hiệu lực pháp luật Trong trường hợp người lập di chúc thay thế di chúc bằng di chúc mới thì di chúc trước bị hủy bỏ (Điều 662 Bộ luật dân sự ) Và nội dung, hình thức của di chúc được sửa đổi, bổ sung, thay thế phải phù hợp với quy định của Bộ luật dân sự về di chúc hợp pháp (Điều 649, Điều

652 Bộ luật dân sự năm 2005)

2 Những quy định của pháp luật về việc lập di chúc chung của vợ, chồng:

Quyền lập di chúc chung của vợ và chồng được quy định tại điều 663, điều 664, điều 668 Bộ luật dân sự Việt Nam Thực tiễn cho thấy, việc lập di chúc chung của vợ và chồng không những củng cố tình yêu thương và đoàn kết trong gia đình, mà việc quy định về di chúc chung của vợ và chồng là điều đúng pháp luật về quyền định đoạt tài sản chung của vợ chồng tạo ra sự đồng thuận nhất trí cao của đồng sở hữu

Điều 663 Bộ luật dân sự 2005 quy định: " Vợ chồng có thể lập di chúc chung để định đoạt tài sản chung."

Thông thường, di chúc do một cá nhân lập để định đoạt tài sản của bản thân mình sau khi chết, đây là hành vi pháp lý đơn phương và được thực hiện theo quyết định của từng cá nhân Tuy nhiên pháp luật hiện hành có quy định một số trường hợp ngoại lệ, vợ chồng có thể lập di chúc chung để định đoạt tài sản chung của vợ chồng

Trang 5

Trên cơ sở điều 27 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định về khối tài sản chung của vợ chồng thì việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung phải dựa trên sự nhất trí của vợ chồng Do đó, vợ - chồng có thể lập di chúc chung để định đoạt tài sản chung Và việc lập di chúc này về ý chí cả hai người phải dưa trên cơ sở tự nguyện, nhất trí

Điều 664 Bộ luật dân sự quy định: " 1 Vợ chồng có thể sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ di chúc chung bất cứ lúc nào.

2 Khi vợ hoặc chồng muốn sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ di chúc chung thì phải được sự đồng ý của người kia; nếu một người đã chết thì người kia chỉ có thể sửa đổi, bổ sung di chúc liên quan đến phần tài sản của mình."

Vậy, vợ - chồng khi đã thống nhất ý chí lập di chúc để định đoạt tài sản chung thì họ cũng có thể sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ di chúc chung bất cứ lúc nào Nếu một bên vợ hoặc chồng muốn sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ di chúc chung của vợ chồng thì phải được sự đồng ý của bên kia

Nếu một người chết trước thì người vợ hoặc chồng còn sống chỉ cỏ thể sửa đổi, bổ sung di chúc liên quan đến phần tài sản của mình trong khối tài sản chung hợp nhất giưa vợ và chồng Khi đó, di chúc đã có giá trị thực hiện đối với phần tài sản của người vợ hoặc người chồng chết trước trong khối tài sản chung của vợ chồng Người còn sống không thể sửa đổi, bổ sung phần di chúc của người đã chết mà chỉ có thể sửa đổi, bổ sung di chúc liên quan đến phần tài sản của bản thân người đó

Di chúc chung của vợ - chồng là một trường hợp đặc biệt của việc lập di chúc nên chúng ta cầm xem xét đến hiệu lực pháp luật của di chúc chung của vợ-

chồng Điều 668 Bộ luật dân sự quy định: " Di chúc chung của vợ, chồng có hiệu lực từ thời điểm người sau cùng chết hoặc tại thồi điểm vợ, chồng cùng chết." Trước đây theo quy định tại điều 671 Bộ luật dân sự năm 1995, thời điểm

Trang 6

có hiệu lực của di chúc chung của vợ chồng được xác định theo phần Theo đó, khi người vợ hoặc chồng chết trước thì phần di chúc liên quan đến di sản bằng 1/2 khối tài sản chung và phần tài sản riêng của người đó có hiệu lực thi hành Còn lại phần di chúc liên quan đến 1/2 khối tài sản chung và phần tài sản riêng của người còn sống vẫn thuộc sở hữu của người chồng, người vợ còn sống, chưa

có hiệu lực pháp luật Tuy nhiên thì quy định này khá phức tạp và làm mất đi ý nghĩa của việc lập di chúc chung của vợ - chồng Chính vì thế, Bộ luật dân sự năm 2005 quy định di chúc chung của vợ, chồng có hiệu lực vào thời điểm người sau cùng chết hoặc thời điểm mà cả hai vợ chồng cùng chết

3 Một số vấn đề về việc lập di chúc chung của vợ - chồng:

3.1 Những ưu điểm của việc lập di chúc chung của vợ chồng:

Điều 663 BLDS quy định vợ, chồng có thể lập di chúc chung để định đoạt tài sản chung Quy định này nhằm tạo điều kiện cho vợ, chồng cùng thể hiện được ý chí thống nhất trong việc định đoạt tài sản chung của vợ chồng và nó đã góp phần vào thúc đẩy các quan hệ dân sự cũng như vấn đề tôn trọng và bảo vệ các quyền dân sự của chủ sở hữu tài sản Hai vợ chồng thay vì phải phân chia di sản chung để lập di chúc riêng để định đoạt phần tài sản của mình thì có thể thống nhất trong một di chúc chung của cả hai

Điều 668 BLDS 2005 qui định: “Di chúc chung của vợ, chồng có hiệu lực

từ thời điểm người sau cùng chết hoặc tại thời điểm vợ, chồng cùng chết” Giải

pháp này đã đơn giản hóa việc thực thi di chúc chung (vì chỉ chia thừa kế theo di chúc chung một lần), so với giải pháp của BLDS 1995

Nhưng việc lập di chúc chung của vợ - chồng bên cạnh sự thể hiện nguyên tắc thương yêu, đoàn kết còn gây ra nhiều bất cập trong hệ thống pháp luật

3.2 Những bất cập trong những quy định của pháp luật về di chúc chung của vợ-chồng:

Trang 7

Quyền lập di chúc chung của vợ chồng và nguyên tắc tự nguyện cá nhân trong việc lập di chúc.

Điều 646 Bộ luật Dân sự năm 2005 qui định rõ: “Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển dịch tài sản của mình cho người khác sau khi chết” Theo đó, di chúc được xem là phương tiện pháp lý để cá nhân định đoạt

tài sản thuộc quyền sở hữu của mình Và việc lập di chúc được xem là hành vi

pháp lý đơn phương của người lập di chúc Nhưng theo điều 663 quy định: " Vợ, chồng có thể lập di chúc chung để định đoạt tài sản chung" Như vậy hai điều

luật này đã có sự mâu thuẫn với nhau Và ở điều 663 thì hành vi pháp lý đơn

phương đã trở thành hành vi pháp lý song phương vì người lập di chúc không

phải là một cá nhân mà là hai cá nhân

b Nội dung, mục đích của di chúc chung của vợ - chồng:

* Di chúc chung chỉ dùng để định đoạt tài sản chung của vợ chồng

Điều 663 BLDS 2005 qui định: “Vợ, chồng có thể lập di chúc chung để định đoạt tài sản chung” Theo đó, nội dung và mục đích của di chúc chung là

để định đoạt tài sản chung của vợ, chồng Vậy vấn đề đặt ra đó là việc quyết dịnh tài sản riêng của mỗi người Nếu hai vợ chồng lập một di chúc chung trong đó bao gồm cả phần tài sản chung của hai người và tài sản riêng của mỗi người thì

sẽ gây ra không ít rắc rối, cụ thể như trong việc xác định hiệu lực của di chúc chung Sau khi một bên vợ hoặc chồng chết, thì phần di chúc liên quan tới tài sản riêng của họ có hiệu lực hay chưa ? Đây là những vấn đề pháp lý phức tạp mà BLDS 2005 chưa tiên liệu được Do những bất cập như vậy, có thể dẫn tới những hệ quả sau: Một là, hai vợ chồng muốn lập di chúc chung thì di chúc đó chỉ để định đoạt tài sản chung, còn đối với phần tài sản riêng của mỗi người thì mỗi bên vợ hoặc chồng tự lập di chúc riêng, không phụ thuộc vào ý chí của người còn lại Việc này sẽ dẫn đến nhiều khó khăn vì sự xuất hiện của nhiều di

Trang 8

chúc Hai là, nếu trong di chúc chung lại định đoạt cả phần tài sản chung và phần tài sản riêng của mỗi bên vợ chồng thì sẽ dẫn đến việc di chúc đó sẽ phát sinh hiệu lực vào hai thời điểm khác nhau Từ đây xuất hiện những vấn đề pháp lý không dễ dàng giải quyết

* Việc thừa kế lẫn nhau giữa vợ - chồng

Bộ luật dân sự 2005 không qui định rõ những trường hợp bị cấm đoán khi lập di chúc chung Và việc này có thể dẫn đến nhiều hậu quả mà chúng ta không lường trước được: như lập di chúc nhằm che đậy các hành vi trái pháp luật, các hành vi lừa đảo, bất chính nhằm chiếm đoạt di sản của nhau Điều này khiến cho

ý nghĩa của việc lập di chúc chung của vợ - chồng bị mất đi

c Hình thức của di chúc chung của vợ - chồng:

Di chúc cá nhân được lập theo 1 trong 2 hình thức là di miệng và di chúc viết, theo những thủ tục rất chặt chẽ Nhưng các hình thức và thủ tục để lập di chúc cá nhân không phải lúc nào cũng có thể áp dụng phù hợp cho di chúc chung của vợ, chồng Thực tế cho thấy rằng có rất nhiều vướng mắc trong việc lựa chọn hình thức của di chúc chung của vợ-chồng Ví dụ: Khi còn sống, ông A, bà

B có cùng lập di chúc chia tài sản chung cho các con Nay ông A đã mất, hai con muốn đề nghị bà B thực hiện di chúc thì có được không? Di chúc không có công chứng thì có được coi là hợp pháp không?

* Di chúc chung của vợ-chồng dưới hình thức di chúc miệng:

Theo Điều 651, việc lập di chúc miệng chỉ dành cho cá nhân: “Trong trường hợp tính mạng một người bị cái chết đe dọa do bệnh tật hoặc các nguyên nhân khác mà không thể lập di chúc bằng văn bản thì có thể di chúc miệng” Do

đó, vợ chồng không thể cùng nhau lập di chúc chung bằng miệng, vì các lý do:

Trang 9

Một là, khi lập di chúc chung hai vợ chồng phải có sự thống nhất chung

đối với việc định đoạt khối tài sản chung đó Nhưng trong trường hợp lập di chúc miệng khi mà một bên vợ hoặc chồng đang bị bệnh tật đe dọa đến tính mạng hoặc đang ở trong tình trạng nguy cấp thì không có khả năng bàn bạc, thống nhất giữa hai vợ chồng, do vậy di chúc không thể phản ánh ý chí của mỗi bên vợ chồng và còn làm cho bản di chúc mang ý chí chủ quan của cá nhân

Hai là, thủ tục lập di chúc miệng trực tiếp trước mặt hai nhân chứng,

không cho phép hai người phát biểu ý chí cùng một lúc, mà phải từng người phát biểu Vậy, sự thể hiện ý chí chung sẽ được biểu đạt bằng cách nào? Nếu từng người trình bày riêng ý nguyện của mình, thì thực ra, đó là di chúc cá nhân; còn nếu một người đại diện trình bày ý chí chung và người kia chấp nhận toàn bộ, thì

cũng giống như đã uỷ quyền lập di chúc, mà như vậy thì lại vi phạm nguyên tắc

lập di chúc trực tiếp Hơn nữa, trong hoàn cảnh đặc biệt do cái chết đe dọa cả hai, để một người phát biểu ý chí chung cho người kia nghe và hoàn toàn đồng ý,

là không thực tế

Ba là, có vướng mắc trong vấn đề hiệu lực của di chúc miệng Theo khoản

2 điều 651 quy định: “Sau 3 tháng kể từ thời điểm di chúc miệng mà người di chúc còn sống, minh mẫn, sáng suốt thì di chúc miệng mặc nhiên bị huỷ bỏ”

Vậy sẽ giải quyết như thế nào khi một bên vợ hoặc chồng chết còn người kia vẫn còn sống? Và như vậy thì giá trị của di chúc có còn hay không trong khi di chúc chung chỉ có hiệu lực khi cả hai người đều đã chết

Bốn là, khi lập di chúc miệng thì những ý nguyện của cả hai người rất khó

để có thể ghi lại đầy đủ, chính xác và rất dễ bị sửa đổi Đặc biệt là trước cảnh sống chết của cả hai vợ chồng Hơn nữa như thế sẽ không có chứng cứ xác thực được rằng di chúc miệng ấy là thể hiện ý chí chung, sự đồng thuận tự nguyện của hai vợ chồng và không bảo đảm được tính trung thuwch, khách quan

Trang 10

Chính vì thế, việc cho phép vợ chồng lập di chúc chung bằng miệng sẽ trở nên phức tạp và không bảo đảm sự an toàn pháp lý cho quyền lợi chính đáng của chính người lập di chúc lẫn người thừa kế hợp pháp của họ

* Vợ, chồng lập di chúc chung dưới hình thức văn bản:

Điều 655 BLDS qui định về lập di chúc viết tay của cá nhân khi không có

người làm chứng: “Người lập di chúc phải tự tay viết và ký vào bản di chúc…”

Như vậy nghĩa là mỗi cá nhân khi lập di chúc phải tự tay viết và ký vào bản di chúc để lấy đó làm căn cứ trong việc xác định một di chúc là do chính người để lại di sản lập ra hay là giả mạo Căn cứ theo điều luật này để áp dụng cho trường hợp hai vợ chồng lập di chúc chung sẽ nảy sinh rất nhiều vấn đề khó giải quyết

Vì luật yêu cầu người lập di chúc phải tự tay viết và kí vào bản di chúc đó nên hai vợ chồng đều phải tự tay viết di chúc và kí tên Nhưng trên thực tế thì cả hai người không thể cùng viết một bản di chúc, cũng không thể một người viết rồi cùng ký tên hay mỗi người viết một đoạn trong di chúc, như vậy không đảm bảo thủ tục lập di chúc viết tay Còn nếu mỗi người viết một bản di chúc thì đấy đã trở thành di chúc riêng của mỗi vợ, chồng Như vậy nếu muốn lập di chúc chung của vợ - chồng thì ít nhất phải có hai người đủ điều kiện làm chứng để chứng kiến việc lập di chúc chung đó

Tóm lại, pháp luật cần phải qui định hình thức riêng cho di chúc chung của vợ chồng, chứ không thể áp dụng giống như di chúc của cá nhân BLDS

2005 chưa qui định cụ thể vấn đề này là một thiếu sót cần được khắc phục Tốt nhất, chỉ nên thừa nhận vợ, chồng được lập di chúc bằng hình thức văn bản có người làm chứng hoặc văn bản có công chứng, chứng thực

d Quyền sửa đổi, bổ sung, thay thế, huỷ bỏ di chúc chung:

Ngày đăng: 29/01/2016, 17:12

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w