1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Việc thừa kế của những người có quyền thừa kế của nhau mà chết cùng mộtthời điểm

17 197 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 124,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Địa điểm mở thừa kế là nơi cư trú cuối cùng của người để lại di sản; nếu không xác định được nơi cư trú cuối cùng thì địa điểm mở thừa kế là nơi có toàn bộ hoặc phần lớn di sản.. Việc th

Trang 1

Mục lục

trang

A Một số quy định chung về thừa kế 1

B Tìm hiểu các vụ việc có tranh chấp về quyền sử dụng đất ở 2

I TÌNH HUỐNG THỨ NHẤT 2

II TÌNH HUỐNG THỨ HAI 7

III TÌNH HUỐNG THỨ BA 11

IV NHẬN XÉT CỦA NHÓM PHÁP LUẬT 14

VỀ THỪA KẾ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT

Tài liệu tham khảo

Trang 2

Đề bài: Tìm hiểu 3 vụ việc có tranh chấp về thừa kế quyền sử dụng đất ở

Yêu cầu:

- có địa chỉ rõ ràng

- tóm tắt sự kiện có tranh chấp

- những tranh chấp đó dã đc tòa án nào giải quyết chưa?

- Bình luận và đánh giá của nhóm về cách giải quyết của tòa

- Cách giải quyết của nhóm?

- nhận xét của nhóm về quy định PL hiện hành về thừa kế quyền sử dụng đất

Bài làm

A Một số quy định chung về thừa kế

1 Người để lại di sản

Là người có tài sản sau khi chết để lại cho người còn sống theo ý chí của họ thể hiện trong di chúc hay theo quy định của pháp luật Người để lại di sản có thể là

cá nhân, không phân biệt bất cứ điều kiện nào (thành phần xã hội, mức độ năng lực hành vi )

2 Người thừa kế

Là người được hưởng di sản thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật Người thừa kế theo pháp luật chỉ có thể là cá nhân và phải là người có quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng đối với người để lại di sản Người thừa kế theo di chúc có thể là cá nhân hoặc tổ chức hoặc Nhà nước

Người thừa kế có các quyền, nghĩa vụ về tài sản do người chết để lại

3 Thời điểm, địa điểm mở thừa kế

Thời điểm mở thừa kế là thời điểm phát sinh quan hệ thừa kế Theo quy định tại khoản 1 Điều 633 BLDS quy định thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sản chết Trong trường hợp tòa án tuyên bố một người là đã chết thì thời điểm

mở thừa kế là ngày được xác định theo quy định tại khoản 2 Điều 18 BLDS

Địa điểm mở thừa kế là nơi cư trú cuối cùng của người để lại di sản; nếu không xác định được nơi cư trú cuối cùng thì địa điểm mở thừa kế là nơi có toàn bộ hoặc phần lớn di sản Địa điểm mở thừa kế được xác định theo đơn vị hành chính cấp cơ sở (xã, phường, thị trấn)

4 Di sản thừa kế

Di sản thừa kế là toàn bộ tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của người đã chết, quyền về tài sản của người đó

5 Người quản lý di sản

Là người được chỉ định trong di chúc hoặc do những người thừa kế thỏa thuận cử ra để quản lý, trông coi di sản

Trang 3

6 Việc thừa kế của những người có quyền thừa kế của nhau mà chết cùng một thời điểm

Nếu hai người thừa kế tài sản của nhau được coi là chết cùng một thời điểm thì họ sẽ không được thừa kế của nhau Di sản của mỗi người được chia cho những người thừa kế của họ

7 Những người không được hưởng di sản

Là những người đáng ra được hưởng thừa kế nhưng đã vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ của mình, có những hành vi trái pháp luật, trái đạo đức xã hội, trái với thuần phong mĩ tục của nhân dân Việt Nam, xâm phạm đến danh dự, uy tín, tính mạng, sức khỏe của bố, mẹ, em, vợ, chồng Những người như vậy không xứng đáng được hưởng di sản thừa kế

8 Thời hiệu khởi kiện về thừa kế

Đối với những người thừa kế thì thời hiệu khởi kiện là mười năm kể từ thời điểm mở thừa kế còn đối với các chủ nợ của người để lại di sản là ba năm kể từ thời điểm mở thừa kế

B Tìm hiểu các vụ việc có tranh chấp về quyền sử dụng đất ở

I TÌNH HUỐNG THỨ NHẤT

1.Tóm tắt sự kiện có tranh chấp

Nguyên đơn: ông Nguyễn Viết Hà, sinh năm 1934 (ông Hà đã uỷ quyền cho

con là chị Nguyễn Thị Hồng, sinh năm 1974), chị Hồng và ông Hà đều trú tại thôn Vân Trì, xã Minh Khai, huyện Từ Liêm, Hà Nội

Bị đơn: bà Nguyễn Thị Thái, sinh năm 1952, trú tại thôn Vân Trì, xã Minh

Khai, huyện Từ Liêm, Hà Nội

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1 Ông Nguyễn Viết Minh, sinh năm 1938.

2 Bà Nguyễn Thị Liên, sinh năm 1945.

Đều trú tại thôn Vân Trì, xã Minh Khai, huyện Từ Liêm, Hà Nội

3 Anh Nguyễn Viết Bình, sinh năm 1956.

4 Anh Nguyễn Viết Năng, sinh năm 1964.

Đều trú tại thôn Trí Phú, xã Sơn Đà, huyện Ba Vì, Hà Nội

5 Chị Nguyễn Thị Lựu, sinh năm 1955, trú tại xã Dư Hàng Kênh, huyện An

Hải, Hải Phòng

6 Chị Nguyễn Thị Tĩnh, sinh năm 1960, trú tại thôn Đoàn Khê, xã Sơn Đà,

huyện Ba Vì, Hà Nội

Trang 4

7 Chị Nguyễn Thị Tình, sinh năm 1962, trú tại thôn Trí Phú, xã Sơn Đà, huyện

Ba Vì, Hà Nội

8 Chị Nguyễn Thị Phương, sinh năm 1974, trú tại thôn Trí Phú, xã Sơn Đà,

huyện Ba Vì, Hà Nội

9 Chị Nguyễn Thị Phú, sinh năm 1971, trú tại thông Bằng Tạ, xã Cẩm Bình,

huyện Ba Vì, Hà Nội

(Chị Lựu, chị Tĩnh, chị Tình, chị Phương, chị Phú uỷ quyền cho anh Bình)

10 Chị Nguyễn Thị Thu Hiền, sinh năm 1972.

11 Anh Nguyễn Viết Tiền, sinh năm 1974.

Đều trú tại thôn Vân Trì, xã Minh Khai, huyện Từ Liêm, Hà Nội

12 Chị Nguyễn Thị Hậu, sinh năm 1976, trú tại tập thể Vĩnh Hồ, quận Đống

Đa, Hà Nội

(Chị Hậu và anh Tiền uỷ quyền cho bà Nguyễn Thị Thái và chị Nguyễn Thị Thu Hiền)

13 Bà Nguyễn Thị Hẹo, sinh năm 1931, trí tại số 1, tổ 53, phường Dịch Vọng,

huyện Từ Liêm, Hà Nội

14 Chị Phạm Thị Kim Thanh, sinh năm 1959, trú tại số 1, tổ 53, phường Dịch

Vọng, huyện Từ Liêm, Hà Nội

Sự kiện tranh chấp:

- Cụ Sâm và Cụ Liễn có 5 người con chung là ông Khả (chết vào tháng 4/1979,

có vợ là bà Lựu và 7 người con), ông Hà, ông Minh, bà Liên và ông Ky

- Cụ Sâm chết tháng 9/1979, cụ Liễn chết năm 1999 Di sản của 2 cụ để lại gồm:

+ ½ ngôi nhà ba gian lợp ngói, sân gạch, bể nước trên diện tích 526m2 đất tại thôn Vân Trì, xã Minh Khai, huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội (1/2 ngôi nhà là phần đóng góp xây dựng của vợ chồng ông Ky và bà Thái) Di sản do bà Thái (vợ ông Ky) quản lý, sử dụng

+ ½ ao có diện tích 436m2 tại xóm Cầu, thôn Vân Trì, xã Minh Khai, huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội Phần di sản này do ông Minh và bà Liên quản lý, san lấp làm nhà và trồng cây

- Trong quá trình quản lý, sử dụng nhà đất, vợ chồng ông Ky bà Thái phá 2 gian bếp cũ, xây bếp mới, tôn nền sân gạch, xây thêm bể nước, lát nền đá hoa, xây thêm ngôi nhà cấp 4 Năm 1994, bà Thái xây tường bao xung quanh thửa đất Năm 1999, bà Thái xây nhà mái bằng có diện tích 38m2

- Năm 1994, anh Bình (con trai của ông Khả) bán cho bà Thái 192m2 đất trong khối di sản của 2 cụ với giá 8 triệu đồng Năm 1998 và 2001, bà Thái bán cho bà Hẹo và chị Thanh 303m2

- Tại đơn khởi kiện ngày 16/11/2000, ông Hà khai rằng cụ Sâm có để lại di chúc

và xuất trình hai tài liệu để chứng minh (cả hai tài liệu đều không rõ ràng), theo

đó, di sản sẽ chia như sau: chia thửa đất 1 sào cho ông Minh và bà Liên, chia

Trang 5

thửa đất 1 sào 10 thước trên có ngôi nhà cấp 4 cho 3 người gồm anh Bình (8 thước), ông Hà (8 thước), ông Ky (9 thước) Do bà Thái không giao trả đất cho ông nên ông yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật Ông Minh và thừa kế của ông Khả cũng công nhận lời khai của ông Hà và xin chia thừa kế theo pháp luật

- Bà Thái không đồng ý chia thừa kế quyền sử dụng đất vì cho rằng mặc dù nhà đất là của 2 cụ để lại nhưng 2 cụ không đứng tên chủ sử dụng thửa đất, bà không công nhận di chúc do ông Hà xuất trình Nếu phải chia thừa kế bà xin nhận toàn

bộ hiện vật

- Bà Hẹo, chị Thanh yêu cầu tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền

sử dụng đất với bà Thái

2 Những cơ quan đã giải quyết vụ tranh chấp

1 Tòa án nhân dân huyện Từ Liêm đã giải quyết với bản án dân sự sơ thẩm số

09/DSST ngày 09/04/2001

2 Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã giải quyết với bản án dân sự phúc

thẩm số 111/DSPT ngày 12/7/2001

3 Phó Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đã kháng nghị bản án dân sự phúc

thẩm số 111/DSPT ngày 12/7/2001 bằng Quyết định số 27/KNDS ngày 15/3/2002

4 Việm kiểm sát nhân dân tối cao nhất trí với kháng nghị của Phó Chánh án

Tòa án nhân dân tối cao bằng Kết luận số 81/KL-VKSTC-KSXXDS ngày 24/5/2002

5 Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao đã giải quyết với Quyết định giám đốc

thẩm số 99/GĐT-DS ngày 18/6/2002 (Hủy bản án dân sự sơ thẩm số 09/DSST ngày 09/4/2001 của Tòa án nhân dân huyện Từ Liêm và bản án dân sự phúc thẩm số 111/DSPT ngày 12/7/2001 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, giao hồ sơ cho Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử theo thủ tục sơ thẩm

6 Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã giải quyết vụ việc với bản án dân sự

sơ thẩm số 04/DSST ngày 19/2/2003

7 Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội đã giải quyết bằng bản án

dân sự phúc thẩm số 103/DSPT ngày 07/7/2003

8 Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao kháng nghị bản án dân sự phúc

thẩm số 103/DSPT ngày 07/7/2003 tại Quyết định số 64/QĐ-KNGĐT-DS ngày 05/7/2006

3 Bình luận, đánh giá của nhóm về cách giải quyết của Tòa án

- Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm đã xác định đúng thời điểm mở thừa kế, di sản thừa kế, những người được hưởng thừa kế, di sản của cụ Sâm, cụ Liễn, xác định diện tích đất 90,09m2 đất mà vợ chồng bà Thái, ông Ky lấn chiếm, đồng thời trích công sức tôn tạo, bảo quản di sản cho vợ chồng ông Ky, bà

Trang 6

Thái bằng 30% giá trị di sản là có căn cứ đúng pháp luật Hơn nữa, những vấn đề nêu trên các đương sự không khiếu nại và Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao cũng không kháng nghị nên không xem xét

- Sau khi cụ Sâm, cụ Liễn chết thì vợ chồng bà Thái, ông Ky quản lý sử dụng toàn bộ nhà đất của 2 cụ, quá trình sử dụng khoảng từ năm 1970 đến năm

1994 vợ chồng bà Thái lấn chiếm 90,09m2 đất công xung quanh thửa đất của hai cụ Khi vợ chồng bà Thái lấn chiếm đất công, chính quyền địa phương không có ý kiến phản đối Mặt khác, tại bản đồ địa chính năm 1986 và năm 1994, ông Ky (chồng bà Thái) được đứng tên là chủ sử dụng toàn bộ thửa đất, bao gồm đất của các cụ và đất lấn chiếm; năm 1994 bà Thái đã xây tường rào xung quanh thửa đất Như vậy, mặc

dù có việc vợ chồng bà Thái, ông Ky lấn chiếm đất, nhưng phần lấn chiếm này xen lẫn với diện tích đất là di sản của hai cụ và việc lấn chiếm xảy ra đã lây, nay không thể xác định hoàn toàn chính xác đất lấn chiếm cụ thể ở chỗ nào; đồng thời đất lấn chiếm phù hợp với quy hoạch khu dân cư và vợ chồng bà Thái được đứng tên chủ

sở dụng; do đó theo quy định của pháp luật đất đai thì diện tích đất lấn chiếm nêu trên bà Thái được tiếp tục sử dụng Vì vậy, không cần thiết phải xác định vị trí đất

mà vợ chồng bà Thái lấn chiếm như nội dung kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã nêu

- Về chia hiện vật: ông Hà đã có nhà ổn định ở vị trí khác trên diện tích

221m2 đất Còn căn nhà cấp 4 trên diện tích 236,72m2 gia đình bà Thái đã quản lý

sử dụng ổn định từ sau khi cụ Sâm, cụ Liễn chết, trong thực tế diện tích đất còn lại trong khối di sản có thể chia được mà vẫn đảm bảo giá trị sử dụng Hơn nữa, giá trị

kỷ phần mà Tòa án cấp sơ thẩm phân chia cho ông Hà lại lớn hơn 2 lần so với kỷ phần mà ông Hà được hưởng (194.094.832 đồng/93.743.883,3 đồng) là không hợp

lý và không phù hợp với thực tế Tòa án cấp phúc thẩm chia cho ông Hà 125,31m2 (ở vị trí S3 của sơ đồ hiện trạng khu đất) có giá trị sử dụng 93.982.000 đồng là đã lớn hơn giá trị kỷ phần của ông Hà được hưởng và không buộc ông Hà phải thanh toán chênh lệch là có lý, có tình và có lợi cho ông Hà Về ngõ đi chung: năm 2001,

bà Thái đã đổi cho dòng họ Nguyễn Đình 22,08m2 đất để sử dụng ngõ đi chung và theo sơ đồ hiện trạng thửa đất thì phần đất chia cho ông Hà (S3) có chiều mặt đường ngõ chung là 8,7m nên ông Hà có thể mở lối đi về phía ngõ chung này Vì vậy, việc kháng nghị nêu cần chia cho ông Hà ngôi nhà để thờ cúng và phần đất chia cho ông

Hà không có lối đi là không chính xác, không phù hợp với thực tế

- Về việc xác định mốc giới đất chia cho anh Bình và anh Năng: phần

quyết định của bản án dân sự phúc thẩm đã chia cho anh Bình và anh Năng (đại diện cho các thừa kế của ông Khả) 72,38m2 đất (sau ngôi nhà ngói cổ) có chiều mặt đường xã là 4,7m và chiều dài mặt đường xóm là 15.4m Tại sơ đồ hiện trạng khu đất thì thửa đất S1 có hai hướng giáp lối đi Như vậy, có thể xác định là anh Bình, anh Năng được chia phần đất ở phía Bắc của thửa S1 Do đó, Tòa án cấp phúc thẩm

Trang 7

giao phần đất cho anh Bình, anh Năng đã có ranh giới rõ ràng và đã được thi hành xong, không có khiếu nại Vì vậy, kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao cho rằng phần đất giao cho anh Bình, anh Năng không có mốc giới là không có cơ sở

- Về 22,08m 2 đất bà Thái đổi cho dòng họ Nguyễn Đình: năm 2001,

bà Thái đã đổi 22,08m2 đất cho dòng họ Nguyễn Đình để đổi lấy ngõ đi chung, nhưng các đương sự không có ý kiến phản đối và hiện nay dòng họ Nguyễn Đình cũng không khiếu nại Tòa án cấp phúc thẩm xác định 526m2 đất là di sản của cụ Sâm, cụ Liễn là đúng, đồng thời chia cho các thừa kế của ông Khả (do anh Bình và anh Năng đại diện)72,38m2, chia cho ông Hà 125,31m2, phần còn lại bà Thái và các con được chia Như vậy, Tòa án cấp phúc thẩm đã chia toàn bộ di sản của hai cụ cho những người thừa kế, nhưng tại kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao lại cho rằng Tòa án cấp phúc thẩm không chia 22,08m2 đất nêu trên là không đúng

Vì các lẽ trên, căn cứ vào khoản 3 Điều 291 và khoản 1 ĐIều 297 Bộ luật

tố tụng dân sự, Quyết định:

1 Không chấp nhận kháng nghị số 64/QĐ-KNGĐT-DS ngày 5/7/2006 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao đối với bản án dân sự phúc thẩm số 103/PTDS ngày 7/7/2003 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội

2 Giữ nguyên bản án dân sự phúc thẩm số 103/PTDS ngày 7/7/2003 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội

Lý do không chấp nhận kháng nghị: Quyết định của bán án phúc thẩm là đúng

pháp luật, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án

4.Cách giải quyết vụ việc của nhóm

- Nhóm đồng ý với các xác định thời điểm mở thừa kế (thời điểm mở thừa kế lần thứ nhất vào tháng 9/1979 khi cụ Sâm chết; thời điểm mở thừa kế lần hai là vào năm 1999 khi cụ Liễn chết), di sản thừa kế, những người được hưởng thừa kế, di sản của 2 cụ, xác định diện tích đất 90,09 m2 mà vợ chồng bà Thái, ông

Ky lấn chiếm, đồng thời trích công sức tôn tạo, bảo quản di sản cho vợ chồng ông

Ky, bà Thái bằng 30% giá trị di sản của Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm

- Giải quyết vụ tranh chấp theo bản án Dân sự phúc thẩm số 103/PTDS ngày 7-7-2003 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao thành phố Hà Nội

Trang 8

II TÌNH HUỐNG THỨ HAI

1 Tóm tắt nội dung vụ việc

Hai cụ Nguyễn Phú Ngân và Vũ Thị Dượu sinh được năm người con là:

1 Bà Nguyễn Thị Bùi, sinh năm 1931

Địa chỉ: tổ 10 phường Ngọc Thụy, quận Long Biên, Hà Nội

2 Bà Nguyễn Thị Thơm, sinh năm 1937

Địa chỉ: tổ 16 phường Ngọc Thụy, quận Long Biên, Hà Nội

3 Bà Nguyễn Thị Ngọt, sinh năm 1938

Địa chỉ: 210 Trần Quý Cáp, thị trấn Ninh Hòa, huyện Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa

4 Bà Nguyễn Thị Liên, sinh năm 1941

Địa chỉ: tổ 16 phường Ngọc Thụy, quận Long Biên, Hà Nội

5 Ông Nguyễn Phú Hồi đã mất năm 1997, có vợ là Đặng Thị Quất, sinh năm

1935 và có ba người con là anh Nguyễn Phú Quốc sinh năm 1967, anh Nguyễn Phú Huy sinh năm 1976 và anh Nguyễn Phú Hương sinh năm 1969

Năm 1947, cụ Vũ Thị Dượu mất Năm 1953, cụ Ngân nhận một người con nuôi đặt tên là Nguyễn Phú Định Năm 1954, cụ Ngân lấy thêm một người vợ là Nguyễn Thị Sách Cụ Ngân và cụ Sách không có con chung Ông Định vẫn sinh sống cùng cụ Ngân, cụ Sách cả khi các chị và anh trai lớn lên rồi đi xây dựng gia đình ở nơi khác

Năm 1974 do nhà đất đang ở tại bãi giữa Trung Hà bị ngập lụt, gia đình cụ Ngân lúc đó có ba nhân khẩu: cụ Ngân, cụ Sách, anh Định được ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội và huyện Gia Lâm cho di chuyển vào Bắc Biên và được cấp 360 m2 đất cấp tại Bắc Biên, Ngọc Thụy làm nhà ở Gia đình cụ Ngân đem toàn bộ khung nhà cũ dựng trên đất được cấp và sinh sống tại đó Đến năm 1977, cụ Ngân

ốm nặng và được người con trai cả là ông Nguyễn Phú Hồi đưa về chăm sóc và mất tại nhà ông Hồi vào năm 1980 Nhà đất của cụ Ngân, cụ Sách được cụ Sách quản lý,

sử dụng suốt từ khi cụ Ngân mất đến khi cụ Sách mất năm 1998 Năm 1982, vợ chồng ông Định đã dỡ nhà đất mà hai người sinh sống để xây dựng một nhà mới và còn tận dụng một số vì kèo từ nhà cụ Ngân, cụ Sách đưa vào nhà mới

Cụ Ngân, cụ Sách mất đi đều không để lại di chúc Sau khi cụ Sách mất, vợ chồng ông Định tiếp tục quản lý di sản của bố mẹ Tháng 10/2005, ông Định có mời năm chị em là bà Bùi, bà Thơm, bà Ngọt, bà Liên và bà Quất đến thống nhất chia một phần tài sản đất ở của bố mẹ cho năm chị em Cuộc họp đã thống nhất cho để ông Định được sử dụng 240 m2 đất Còn lại 120 m2 chia cho 5 chị em gái (có văn

Trang 9

bản) Nhưng khi Ủy ban nhân dân phường tiến hành đo đạc phân chia mốc giới thì

bà Chén vợ ông Định phản đối nên việc phân chia không thực hiện được

Nay các bà: bà Bùi, bà Thơm bà Ngọt, bà Liên và bà Quất yêu cầu Tòa án phân chia di sản của cụ Ngân và chia thừa kế phần di sản của cụ Sách cho các bà theo quy định của pháp luật Trước yêu cầu khởi kiện của các chị, ông Định đề nghị tòa án căn cứ pháp luật giải quyết

*Tranh chấp đã được Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội giải quyết theo bản

án số 08/2007/DS-ST ngày 7/2/2007.

Tòa án đã xác định quan hệ huyết tộc, di sản còn lại và chia theo diện và hàng thừa

kế theo pháp luật

Nội dung giải quyết:

Về quan hệ huyết tộc.

Tòa án xác định thừa kế được mở vào ba thời điểm như sau:

+ Thừa kế lần 1 được mở vào năm 1947 khi cụ Dượu chết Hàng thừa kế thứ nhất

của cụ Dượu gồm cụ Ngân, ông Hồi, bà Bùi, bà Ngọt, bà Liên, bà Thơm

+ Thừa kế lần 2 được mở vào năm 1980 khi cụ Ngân chết Hàng thừa kế thứ nhất

của cụ Ngân gồm cụ Sách, ông Hồi, bà Bùi, bà Ngọt, bà Liên, bà Thơm, ông Định

+ Thừa kế lần thứ 3 được mở vào năm 1998 khi cụ Sách chết Hàng thừa kế thứ nhất

của cụ gồm bà Bùi, bà Ngọt, bà Liên, bà Thơm, ông Định và những người thừa kế thế vị của ông Hồi là anh Huy, anh Quốc, anh Hương

Về di sản.

Các đương sự đều thừa nhận sau khi cụ Dượu chết Năm 1974, nhà đất trước đây cụ Dượu và cụ Ngân sinh sống đã bị nước lụt cuốn trôi Vì vậy, di sản chung giữa cụ Dượu và cụ Ngân không còn

Di sản giữa cụ Ngân, cụ Sách và ông Định là một mảnh đất có diện tích 360 m2 do HTX Bắc Cầu, xã Ngọc Thụy, huyện Gia Lâm cấp cho gia đình cụ Ngân năm 1974 Tuy nhiên, năm 1993, khi Ủy ban nhân dân xã Ngọc Thụy tiến hành đo đạc trên thực tế diện tích đất đã thành 451m2 Việc lấn chiếm đất diễn ra trong thời gian dài, nay đia phương không có chủ trương thu lại phần đất đã bị lấn chiếm, hơn nữa phần đất này cũng không nằm trong quy hoạch của thành phố nên Hội đồng xét

xử đã xác định diện tích đất thực tế 451 m2 là tài sản chung của cụ Ngân, cụ Sách, ông Định Do vậy, mỗi người được quyền sử dụng 1/3 diện tích đất trên, tương ứng với 150,3 m2

Tại bản án số 08/2007/DS-ST ngày 7/2/2007, Tòa án nhân dân thành phố

Hà Nội đã ra quyết định xử như sau:

1/ Chấp nhận yêu cầu chia thừa kế và phân chia tài sản chung thuộc sở hữu chung của bà Nguyễn Thị Bùi, bà Nguyễn Thị Thơm, bà Nguyễn Thị Liên, bà Đặng Thị

Trang 10

Quất đối với di sản của cụ Nguyễn Thị Sách và tài sản của cụ Nguyễn Phú Ngân để lại

2/ Xác định di sản và tài sản của cụ Nguyễn Thị Sách và cụ Nguyễn Phú Ngân để

lại gồm có:

Diện tích 300,6 m2 đất (trong tổng số 451 m2) thuộc thửa đất số 44 tờ bản đồ 01-theo bản đồ đo vẽ năm 1993 tại tổ 10, thuộc Ủy ban nhân dân phương Ngọc Thụy, quận Long Biên, Hà Nội có giá trị là 1.803.600.000 đồng

3/ Thanh toán tài sản chung vợ chồng cụ Ngân cụ Sách mỗi cụ được hưởng ½ giá

trị tài sản là 901.800.000 đồng

4/ Cụ Nguyễn Phú Ngân chết năm 1980 thời hiệu khởi kiện thừa kế đã hết từ ngày

10/3/2003 Phân chia tài sản của cụ cho các thừa kế thuộc hàng thừa kế thứ nhất

của cụ gồm: bà Bùi, bà Thơm, bà Ngọt, bà Liên, ông Định và các thừa kế chuyển tiếp của ông Hồi là bà Quất, anh Quốc, anh Hương, anh Huy Mỗi kỷ phần được hưởng có giá trị tài sản là: 901.800.000 đồng : 6 = 150.300.000 đồng

5/ Cụ Nguyễn Thị Sách chết năm 1998, thời điểm mở thừa kế năm 1998.

+ Hàng thừa kế thứ nhất của cụ Sách gồm: bà Bùi, bà Thơm, bà Ngọt, bà Liên, ông Định và các thừa kế thế vị của ông Hồi là anh Quốc, anh Hương, anh Huy Mỗi thừa

kế được hưởng kỷ phần có trị giá là 901.800.000 đồng : 6 = 150.300.000 đồng

+ Ghi nhận sự tự nguyện của bà Quất và ba con là anh Quốc, anh Hương, anh Huy tính gộp chung kỷ phần giá trị được hưởng gộp chung vào một khối

Tổng cộng bà Bùi, bà Thơm, bà Ngọt, bà Liên, ông Định, bà Quất và ba con

là anh Quốc, anh Hương, anh Huy mỗi người được hưởng giá trị khi phân chia tài sản của cụ Ngân và kỷ phần thừa kế của cụ Sách có giá trị là 150.300.000 đồng + 150.300.000 đồng = 300.600.000 đồng

6/ Chia hiện vật bằng hiện vật cụ thể như sau:

+ Ghi nhận sự tự nguyện của bà Bùi, bà Thơm, bà Ngọt, bà Liên, ông Định, bà Quất cùng ba người con là anh Quốc, anh Hương, anh Huy yêu cầu chia hiện vật gộp vào một khối

Giao bà Bùi, bà Thơm, bà Ngọt, bà Liên, bà Quất cùng ba con là anh Quốc, anh Hương, anh Huy được sử dụng phần đất phía bên tay trái đứng từ đường đi chung nhìn vào (giáp nhà đất ông Tụng) Có chiều rộng giáp đường đi chung của xóm 7,5m Chiều rộng cuối thửa đất giáp ao công 4m Có chiều dài giáp nhà đất ông Tụng 25,6m (tính từ điểm giáp đường đi chung của xóm kéo sâu vào phía trong đến hết thửa đất, giáp ao công) Có chiều dài giáp phần nhà đất ông Định 26,65m (tính từ điểm tiếp giáp với đường đi chung của xóm kéo sâu vào phía trong đến hết thửa đất, giáp ao công), có diện tích là 146,24 m2 = 877.440.000 đồng

Bà Bùi, bà Thơm, bà Ngọt, bà Liên, bà Quất cùng các con được sở hữu và sử dụng toàn bộ các công trình xây dựng và cây cối có trên diện tích 146, 24 m2 đất

Ngày đăng: 29/01/2016, 17:12

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w