Mối quan hệ của lạm phát và các yếu tố tiền tệ tại VN
Trang 1CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1 Tìm hiểu chung về một số yếu tố tiền tệ
1.1.1 Tiền
1.1.1.1 Khái niệm về Tiền
Tiền tệ là một thuật ngữ quen thuộc trong đời sống chúng ta Tuy nhiên, việc tìm
ra một định nghĩa thống nhất về tiền tệ lại rất khó khăn
Mác đã định nghĩa trừu tượng về tiền tệ là “tiền tệ là một thứ hàng hóa đặc biệt, được tách ra khỏi thế giới hàng hóa, dùng để đo lường và biểu hiện giá trị của hàng hóa khác ”
Theo một số nhà kinh tế phái trọng tiền lại cho rằng tiền chỉ có chức năng làm trung gian trao đổi nên tiền là tài sản không sinh lợi Nó đại diện cho sức mua chứ không tạo ra một khoản lợi tức nào như tài sản tài chính Chính vì lý do này, họ cho rằng định nghĩa tiền thích hợp nhất là khối tiền M1 bao gồm tiền mặt lưu thông và tiền gửi ngân hàng không kì hạn
Tuy nhiên ngày nay, không chỉ có tiền mặt, tiền gửi ngân hàng không kì hạn được dùng để thanh toán mà còn có tiền tiết kiệm, tiền gửi kì hạn…(M2) Do đó các nhà kinh tế hiện đại đã định nghĩa rằng tiền là bất cứ cái gì được chấp nhận chung trong thanh toán để đổi lấy hàng hóa, dịch vụ hay để trả nợ bao gồm khối tiền M2 1.1.1.2 Cung tiền
Cung tiền tệ là khối lượng tiền cung ứng cho nền kinh tế đảm bảo đáp ứng
nhu cầu của các chủ thể trong nền kinh tế
Nói cách khác, mức cung tiền tệ là toàn bộ khối tiền đã được cung cấp cho nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định Mức cung tiền tạo thành khối tiền tệ (Monetary Block) và bao gồm các thành phần sau:
Tiền giao dịch (M1): Là khối tiền trực tiếp làm phương tiện lưu và phương tiện thanh toán trong nền kinh tế Khối tiền này có tính “lỏng” cao nhất trong các khối tiền,
nó bao gồm: Tiền mặt (Tiền pháp định/giấy bạc ngân hàng trung ương), tài khoản tiền gửi không kỳ hạn, các thẻ thanh toán, ngoại tệ tự do chuyển đổi, Vàng, Séc các loại, Các chứng từ có giá có khả năng thanh toán
Trang 2Khối M2 là những phương tiện có tính “lỏng” thấp hơn khối tiền M1 Nó bao gồm M1, tiền gửi có kỳ hạn, chứng chỉ tiền gửi, tiền gửi trong các quỹ tín dụng trong thị trường tiền tệ
Khối M3: Có tính lỏng thấp nhất Nó bao gồm: M2, thương phiếu, tín phiếu và
cổ phiếu
Lượng tiền được cung ứng vào nền kinh tế phụ thuộc vào nhiều yếu tố như lạm phát, cán cân thanh toán, thặng dư ngân sách… do Ngân hàng trung ương, ngân hàng thương mại và một số chủ thể khác quyết định
1.1.1.3 Cầu tiền
Cầu tiền tệ là tổng khối lượng tiền mà các tổ chức và cá nhân cần có để thỏa mãn các nhu cầu Nhu cầu tiền tệ không trực tiếp quyết định mức tiền tệ cung ứng vì mức tiền cung ứng nhiều hay ít phụ thuộc vào quyết định của NHTW, mà nó chỉ có tác động gián tiếp đến mức cung tiền thông qua sự biến động về giá cả trên thị trường, lãi suất…
Nhìn chung, trong nền kinh tế có hai nhu cầu lớn chi phối nhu cầu tiền đó là nhu cầu đầu tư và nhu cầu tiêu dùng Rõ ràng, nền kinh tế muốn phát triển được đòi hỏi các chủ thể cần gia tăng đầu tư, tạo thêm nhiều của cải vật chất Khi nhu cầu đầu tư càng
Trang 3phụ thuộc chủ yếu vào lãi suất tín dụng và tỷ suất sinh lời từ hoạt động đầu tư và chính sách điều tiết vĩ mô nền kinh tế của nhà nước Đặc biệt, Nhà nước có thể khuyến khích các chủ thể gia tăng đầu tư bằng việc sử dụng công cụ lãi suất và chính sách thuế, chính sách chi tiêu công cộng Việc nhà nước khuyến khích hay hạn chế nhu cầu đầu
tư còn tùy thuộc vào tình trạng của nền kinh tế Nếu nền kinh tế phát triển quá “nóng” hoặc khi đang lạm phát cao thì cần hạn chế khối lượng tiền trong lưu thông Điều này
có thể làm giảm nhu cầu đầu tư của các chủ thể
Nhu cầu tiêu dùng tăng hay giảm cũng phụ thuộc nhiều vào mức thu nhập và lãi suất Nếu lãi suất cho vay tiêu dùng càng tăng thì nhu cầu tiêu dùng có xu hướng giảm
và ngược lại Như vậy cầu về tiền tỷ lệ thuận với thu nhập và tỷ lệ nghịch với lãi suất Hàm cầu tiền tổng quát:
Trong đó:
k(%) là hệ số co giãn của cầu tiền theo thu nhập Y
h (%) là hệ số co giãn của cầu tiền theo lãi suất i
1.1.2 Lãi suất:
1.1.1.1 Khái niệm:
Lãi suất(tỷ suất lợi tức) là tỷ số giữa lợi tức thu được (phải trả) so với vốn đầu tư (vốnvay) trong một đơn vị thời gian
Hay nói cách khác, lãi suất là giá mà người vay phải trả khi sử dụng tiền không thuộc sở hữu của họ và là tỷ suất lợi tức mà người cho vay nhận được nhờ vào sự trì hoãn chi tiêu
1.1.1.2Vai trò:
Lãi suất có vai trò hết sức quan trọng trong nền kinh tế và là trung tâm trong chính sách tiền tệ của Chính Phủ Cụ thể là:
Trang 4• Lãi suất nắm giữ vai trò phân bổ nguồn lực khan hiếm trong xã hội và là yếu tố tiên quyết cho một quyết định đầu tư vào một kinh tế, dự án hay một tài sản
• Lãi suất còn là công cụ hiệu quả trong việc điều chỉnh tỷ lệ tiền tiết kiệm và tiền tiêu dùng trong thu nhập của các chủ thể kinh tế Nếu lãi suất hấp dẫn sẽ thu hút lượng tiền tiết kiệm càng nhiều, lượng tiền tiêu dùng vào lưu thông sẽ ít lại và ngược lại Điều này có ý nghĩa quan trọng trong chính sách điều hành của chính phủ
•Đối với các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp thì lãi suất là yếu tố đầu vào rất quan trọng Nếu lãi suất cao làm cho chi phí đầu vào của doanh nghiệp cao Khi chi phí cao, doanh nghiệp không có lý do nào mà không đưa giá sản phẩm cao hơn Trong nền kinh tế hội nhập như ngày nay, giá sản phẩm trong nước cao sẽ làm mất khả năng cạnh tranh so với các mặt hàng nước ngoài Điều này làm việc sản xuất của doanh nghiệp trở nên khó khăn, đời sống công nhân bị ảnh hưởng, tỷ lệ tiêu dùng han chế
1.1.1.3 Nguyên tắc xác định lãi suất
•Căn cứ vào cơ chế lãi suất dương Theo cơ chế lãi suất dương thì lãi suất xác định như sau:
Tỷ lệ lạm phát bình quân < lãi suất huy động bình quân <lãi suất cho vay bình quân
≤ tỷ suất lợi nhuận bình quân
Ngân hàng là trung gian tín dụng, là cầu nối cho vay giữa doanh nghiệp và dân cư
Để có thể huy động được vốn từ dân cư, ngân hàng phải đồng ý chi trả một mức lãi suất bình quân lớn hơn tỷ lệ lạm phát Mặc khác, Ngân hàng cũng là một doanh nghiệp nên luôn muốn kinh doanh có lãi để duy trì hoạt động của ngân hàng và ổn định thị trường tài chính quốc gia Điểu này giải thích cho việc lãi suất cho vay bình quân luôn lớn hơn lãi suất huy động bình quân Một vấn đề cuối cùng được đề cập trong cơ chế lãi suất dương đó là tại sao lãi suất cho vay bình quân lại nhỏ hơn tỷ suất sinh lợi bình quân của doanh nghiệp Việc ngân hàng cho doanh nghiệp vay được xem là một hoạt động đầu tư gián tiếp của ngân hàng Ngân hàng không trực tiếp tạo ra lợi nhuận mà chỉ hỗ trợ đầu tư vốn để doanh nghiệp kinh doanh Do đó, phần lợi tức doanh nghiệp chia cho ngân hàng không được lớn hơn lợi nhuận doanh nghiệp tạo ra Tức là lãi suất cho vay bình quân phải nhỏ hơn hoặc bằng tỷ suất sinh lợi bình quân
•Căn cứ quan hệ cung cầu về vốn
Trang 5Lãi suất được coi là giá cả của hàng hóa đặc biệt - tiền tệ Vì vậy, theo cơ chế thị trường, lãi suất cũng được xác định bởi quan hệ cung cầu về tiền tệ
Nhìn vào đồ thị về quan hệ cung cầu tiền tệ, chúng ta có thể thấy khi cung tiền tệ
MS0 cân bằng với cầu tiền tệ LP0 thì lãi suất được ổn định tại mức i0
Sự dịch chuyển của đường cung tiền hay cầu tiền trong đồ thị làm thay đổi điểm cân bằng lãi suất i0 theo 2 trường hợp:
• Khi NHTW tác động đến lượng cung tiền giả sử như bán trái phiếu hay tăng
dự trữ bắt buộc làm cung tiền giảm từ MS0 đến MS1 Điều này làm lượng cung tiền thiếu hụt trong so với lượng cầu tiền tệ cần trong lưu thông nên lãi suất i0 tăng lên nhằm điều chỉnh lượng cầu tiền tệ cho tương ứng
• Khi thu nhập thực GNP tăng lên làm nhu cầu tiền giao dịch tăng lên Điều này làm lượng cầu tiền LP0 dịch chuyển thành LP1 Với lượng cung tiền không đổi MS1, lãi suất tiếp tục thay đổi từ i1 sang i2.
•Căn cứ vào thời gian:
1.1.1.4 Một số loại lãi suất thông thường
•Lãi suất trên thị trường mở: là lãi suất mà Ngân hàng nhà nước(NHNN) bơm vốn cho Ngân hàng thương mại (NHTM) trong thị trường mở, được giao dịch thông qua việc mua bán ngắn hạn tín phiếu kho bạc, chứng chỉ tiền gửi, tín phiếu Ngân hàng Nhà nước và các loại giấy tờ có giá khác trên thị trường tiền tệ để thực hiện
Trang 6chính sách tiền tệ quốc gia Đây là dạng lãi suất vay “nóng” (qua đêm) nên thường cao hơn lãi suất tái cấp vốn và lãi suất tái chiết khấu
•Lãi suất tái cấp vốn là lãi suất được sử dụng trong trường hợp NHNN cấp tín dụng có bảo đảm cho các NHTM nhằm cung ứng vốn ngắn hạn
•Lãi suất tái chiết khấu là hình thức lãi suất tái cấp vốn được áp dụng khi NHNN tái chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá khác cho các tổ chức tín dụng Nó đồng thời là công cụ điều tiết lượng cung tiền của NHNN thông qua mối quan hệ giữa lãi suất tái chiết khấu và lãi suất thị trường:
Nếu lãi suất chiết khấu bằng hoặc thấp hơn lãi suất thị trường thì ngân hàng thương mại sẽ tiếp tục cho vay đến khi tỷ lệ dự trữ tiền mặt giảm đến mức tối thiểu cho phép
vì nếu thiếu tiền mặt họ có thể vay từ NHNN mà không phải chịu bất kỳ thiệt hại nào
Nếu lãi suất chiết khấu cao hơn lãi suất thị trường, các ngân hàng thương mại không thể để cho tỷ lệ dự trữ tiền mặt giảm xuống đến mức tối thiểu cho phép, thậm chí phải
dự trữ thêm tiền mặt để tránh phải vay tiền từ NHTM với lãi suất cao hơn lãi suất thị trường khi phát sinh nhu cầu tiền mặt bất thường từ phía khách hàng
Như vậy, với một tiền cơ sở nhất định, bằng cách quy định lãi suất chiết khấu cao hơn lãi suất thị trường, NHNN có thể buộc các ngân hàng thương mại phải dự trữ tiền mặt
bổ sung khiến cho số nhân tiền tệ giảm xuống (vì bội số của tiền gửi so với tiền mặt giảm) để làm giảm lượng cung tiền Ngược lại, khi lãi suất chiết khấu giảm xuống thì các ngân hàng thương mại có thể giảm tỷ lệ dự trữ tiền mặt và do vậy số nhân tiền tệ tăng lên dẫn đến tăng lượng cung tiền
•Lãi suất cơ bản là lãi suất do Ngân hàng Nhà nước công bố làm cơ sở
cho các tổ chức tín dụng ấn định lãi suất kinh doanh Theo Luật Ngân hàng Nhà nước,
lãi suất cơ bản chỉ áp dụng cho nội tệ do Ngân hàng Nhà nước công bố, làm cơ sở cho các tổ chức tín dụng ấn định lãi suất kinh doanh Lãi suất cơ bản là lãi suất thấp nhất được xác định dựa trên cơ sở lãi suất thị trường liên ngân hàng, lãi suất nghiệp vụ thị trường mở của Ngân hàng Nhà nước, lãi suất huy động đầu vào của tổ chức tín dụng
và xu hướng biến động cung cầu vốn Theo Luật Dân sự, các tổ chức tín dụng không được cho vay với lãi suất cao gấp rưỡi lãi suất cơ bản
Theo quy định của NHNN thì 4 lãi suất trên được sắp xếp theo trình tự như sau:
Trang 7•Lãi suất bình quân liên ngân hàng là lãi suất vay mượn qua lại nhằm đảm bảo tính thanh khoản liên tục giữa các ngân hàng với nhau
Lãi suất bình quân liên ngân hàng biến động liên tục tùy thuộc vào thời điểm trong ngày và tùy thuộc vào khả năng thanh toán của từng ngân hàng
1.1.3 Tỷ giá:
1.1.3.1 Khái niệm:
Trong nền kinh tế toàn cầu, việc trao đổi mua bán, đầu tư giữa các quốc gia hay các nhóm quốc gia với nhau là điều tất yếu Do đó, nhu cầu sử dụng, trao đổi tiền tệ của nhau là hiển nhiên Từ những nhu cầu đó, thuật ngữ tỷ giá hối đoái đã ra đời Theo những quan điểm khác nhau thì tỷ giá hối đoái được định nghĩa như sau:
Theo quan điểm kinh tế học, tỷ giá hối đoái là một phạm trù kinh tế quan trọng trong thương mại, đầu tư quốc tế Tỷ giá ảnh hưởng tới giá cả và tác động đến các hoạt động kinh tế xã hội trong và ngoài nước
Theo các nhà kinh doanh, tỷ giá hối đoái là sự so sánh mối tương quan giá trị giữa hai đồng tiền phát sinh trong các hoạt động liên quan đến xuất nhập khẩu hàng hóa, đầu
tư, giao dịch tài chính quốc tế… Hoặc tỷ giá là giá cả của một đồng tiền được biểu thị bằng số lượng đơn vị tiền tệ khác
Vd: Tỷ giá hối đoái của một số ngoại tệ so với VND ngày 23/2/2012 như sau:
Trang 8USD US DOLLA 20.850
1.1.3.2 Sự hình thành tỷ giá:
Tỷ giá hối đoái của ngoại tệ so với đồng nội tệ được xem là giá cả của hàng hóa đặc biệt Đó là tiền tệ trên thị trường ngoại hối Do đó, tỷ giá được hình thành theo quy luật cung cầu ngoại tệ
•Cầu ngoại tệ:
Cầu ngoại tệ được hình thành từ nhu cầu người trong nước mua hàng hóa, tài sản, dịch vụ từ nước ngoài Do đó, đường cầu ngoại tệ được hình thành từ cầu hàng hóa nhập khẩu
Hàm cầu hàng hóa nhập khẩu được xem là hàm số của giá nhập khẩu hàng hóa được tính bằng nội tệ Như vậy, hàm cầu hàng hóa nhập khẩu(Qm) có dạng:
Qm =α0-α1*Pm
Trong đó: α0, α1 là hệ số dương không đổi
Pm là giá hàng hóa nhập khẩu tính bằng nội tệ Với Pm=S*Pm’
Pm’ là giá hàng hóa nhập khẩu tính bằng ngoại tệ
S là tỷ giá hối đoái của đồng ngoại tệ so với nội tệ
Từ trên, chúng ta thấy được hàm cầu hàng hóa theo tỷ giá hối đoái và giá hàng hóa tính bằng ngoại tệ như sau: Q(m) =α0-α1*S*Pm’
Nếu Giá hàng hóa nhập khẩu tính bằng ngoại tệ là không đổi, thì Cầu hàng hóa nhập khẩu tỷ lệ nghịch với tỷ giá hối đoái Tức là khi tỷ giá hối đoái tăng hàng hóa nhập khẩu trở nên đắc hơn trong mắt người tiêu dùng trong nước nên cầu về hàng hóa nhập khẩu sẽ giảm và ngược lại
Từ sự thay đổi của tỷ giá và cầu hàng hóa nhập khẩu, chúng ta sẽ vẽ đường cầu ngoại
tê Đường cầu ngoại tệ là tập hợp những điểm có tọa độ là các mức tỷ giá và lượng cầu ngoại tệ tương ứng Đường cầu ngoại tệ là đường thằng dốc xuống từ trái sang phải
Trang 9Điều này giải thích rằng cầu ngoại tệ tỷ lệ nghịch với tỷ giá hối đoái Khi đồng ngoại
tệ tăng giá so với nội tệ, nếu giá hàng hóa nhập khẩu theo ngoại tệ không đổi thì nhu cầu hàng hóa nhập khẩu từ nước ngoài giảm xuống kéo theo nhu cầu về lượng tiền ngoại tệ trong nước giảm theo( Với điều kiện các yếu tố liên quan khác không đổi) Ps’ không đổi, S tăng Qm giảm Cầu ngoại tệ giảm
• Cung ngoại tệ:
Cung ngoại tệ xuất phát từ nhu cầu hàng hóa xuất khấu của người nước ngoài Do đó, cung ngoại tệ được xác định dựa vào nhu cầu hàng hóa xuất khẩu của người nước ngoài đối với sản phẩm trong nước
Hàm cầu hàng hóa xuất khẩu của người nước ngoài là hàm theo giá xuất khẩu tính bằng ngọai tệ nên có dạng: Qx = β0 - β1*Px’
Trong đó: β0, β1 là các hằng số dương không đổi
Px’ là giá hàng hóa xuất khẩu tính theo ngoại tệ Với Px’ = Px/S thì ta có hàm cầu hàng hóa xuất khẩu theo tỷ giá hối đoái như sau:
Qx = β0 - β1* Px/S
Như vậy, Khi giá hàng hóa xuất khẩu theo nội tệ không đổi(Px) thì tỷ giá hối đoái tăng
sẽ làm cho cầu hàng hóa xuất khẩu của người nước ngoài đối với hàng trong nước tăng lên Điều này được giải thích rằng: Khi tỷ giá hối đoái tăng lên làm hàng hóa xuất khẩu sang nước nước ngoài trở nên rẻ hơn trong mắt người nước ngoài Vì thế họ có nhu cầu nhiều hơn về hàng hóa xuất khẩu này Điều này kéo theo lượng ngoại tệ do xuất khẩu mang về trong nước sẽ nhiều hơn hay lượng cung ngoại tệ tăng lên
Trang 10Px không đổi, S Qx Cung ngoại tệ
Như vậy, sau khi thiết lập 2 mô hình cung cầu ngoại tệ thì chúng tôi dễ dàng thiết lập
đô thị kết hợp giữa cung ngoại tẹ và cầu ngoại tệ Đồ thị kết hợp cho ta thấy được tỷ giá hổi đoán tại điểm cân bằng (S0) nên mà cung ngoại tệ (Sf) bằng cầu ngoại tệ (Df)
1.1.3.3 Phân loại tỷ giá hối đoái:
Trang 11Trong thị trường tài chính, tỷ giá hối đoái thường xuyên được nhắc đi nhắc lại nhiều lần trong ngày Tuy nhiên ở những lúc khác nhau thỉnh thoảng tỷ giá lại được gọi những tên khác nhau Nguyên nhân của vấn đề này là do có nhiều cách phân loại khác nhau về tỷ giá hối đoái Sau đây là một số cách phân loại thông dụng:
•Căn cứ vào phương tiện chuyển ngoại hối:
Tỷ giá điện hối là tỷ giá thường được niêm yết tại ngân hàng
Đó là tỷ giá chuyển ngoại hối bằng điện Tỷ giá điện hối là tỷ giá cơ sở để xác định các loại tỷ giá khác
Tỷ giá thư hối:tức là tỷ giá chuyển ngoại hối bằng thư Tỷ giá thư hối thường thấp hơn tỷ giá điện hối
•Căn cứ vào đối tượng xác định:
Tỷ giá chính thức là tỷ giá do Ngân hàng trung ương của nước
đó xác định Trên cơ sở của tỷ giá này các ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng sẽ ấn định tỷ giá mua bán ngoại tệ giao ngay, có kỳ hạn, hoán đổi.
Tỷ giá thị trường là tỷ giá được hình thành trên thị trường ngoại hối, không có các sự can thiệp của chính phủ và NHTW
•Căn cứ vào cơ chế quản lí:
Tỷ giá thả nổi là tỷ giá biến động theo cung cầu ngoại tệ không có hoặc ít có sự can thiệp của chính phủ
Tỷ giá cố định là tỷ giá hối đoái mà được giữ cố định trong một thời gian dài với biên độ dao động nhỏ ở mức cho phép Thông thường, đồng nội tệ sẽ được xác định TGHDCD với một đồng ngoại tệ mạnh (USA,GBP.JPY,UREO,CAD ) hoặc với vàng và được giữ cố định trong một khoảng thời gian dài nhất định
•Căn cứ vào nghiệp vụ kinh doanh:
Tỷ giá mua là tỷ giá hối đoái mà Ngân Hàng Thương Mại mua ngoại hối cho khách hàng
Tỷ giá bán là tỷ giá hối đoái mà Ngân Hàng Thương Mại bán ngoại hối cho khách hàng