1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tìm hiểu hai (02) vụ việc có thật có liên quan đến việc tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu về mặt hình thức

17 364 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 48,93 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Văn bản có Công chứng chứng nhận, UBND cấp có thẩm quyền chứng thực: được áp dụng trong những trường hợp có quy định giao dịch dân sự bắt buộc phải được thành lập thành văn bản hoặc cá

Trang 1

MỞ BÀI Giao dịch dân sự có một quá trình phát triển không ngừng theo trình độ văn minh của loài người Đặc biệt, trong nền kinh tế thị trường phát sinh nhiều loại hình giao dịch mà pháp luật dân sự phải từng bước hệ thống hoá bằng các quy định

cụ thể Có thể khẳng định rằng, giao dịch dân sự là loại quan hệ có tính chất phổ biến, được áp dụng rộng rãi nhất trong giao lưu dân sự, xảy ra hàng ngày và tất cả các chủ thể tiến hành xác lập, thực hiện giao dịch dân sự được Bộ luật dân sự ghi nhận là căn

cứ pháp lý để xác lập quyền và nghĩa vụ dân sự Hiện nay, Bộ luật dân sự đã phần nào đáp ứng được yêu cầu của cuộc sống và thoả mãn các điều kiện vật chất, tinh thần hàng ngày của nhân dân Tuy nhiên thực tế đời sống dân sự là rất phức tạp, cho nên không thể tránh khỏi tình trạng giao dịch dân sự bị vô hiệu, mà trong đó giao dịch dân

sự vô hiệu do không tuân thủ các quy định về hình thức chiếm tỷ lệ không nhỏ Vì

vậy, nhóm chúng em xin chọn đề bài số 3: “Tìm hiểu hai (02) vụ việc có thật có liên quan đến việc tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu về mặt hình thức?”, để thấy rõ thực

trạng xét xử của Toàn án hiện nay

NỘI DUNG

A Cơ sở lý luận:

1 Giao dịch dân sự

Theo điều 121 BLDS năm 2005 quy định: “Giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”.

2 Hình thức của giao dịch dân sự

Hình thức của giao dịch dân sự là phương tiện thể hiện nội dung của giao dịch Hình thức của giao dịch có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong tố tụng dân sự Nó là chứng cứ xác nhận các quan hệ đã, đang tồn tại giữa các bên, qua đó xác định trách nhiệm dân sự khi có hành vi vi phạm xảy ra Hình thức của giao dịch dân sự được chia như sau:

Trang 2

+ Hình thức miệng (bằng lời nói): Hình thức này được coi là phổ biến nhất trong xã

hội hiện nay, mặc dù vậy hình thức này có độ xác thực thấp nhất

+ Hình thức văn bản:

- Văn bản thường: Các bên tham gia giao dịch dân sự thỏa thuận hoặc pháp luật quy định giao dịch phải thể hiện theo hình thức văn bản Nội dung giao dịch được thể hiện trên văn bản có chữ ký xác nhận của chủ thể đã tham gia vào một giao dịch dân

sự rõ ràng hơn nhiều trường hợp giao dịch được thể hiện bằng lời nói

- Văn bản có Công chứng chứng nhận, UBND cấp có thẩm quyền chứng thực: được áp dụng trong những trường hợp có quy định giao dịch dân sự bắt buộc phải được thành lập thành văn bản hoặc các bên có thỏa thuận phải có chứng nhận, chứng thực, đăng ký xin phép thì khi xác lập giao dịch các bên phải tuân thủ hình thức, thủ tục đó

+ Hình thức bằng hành vi: Giao dịch dân sự có thể được xác lập thông qua những

hành vi nhất định theo quy ước định trước Đây là hình thức giản tiện nhất của giao dịch Giao dịch có thể được xác lập thông qua hình thức này mà không nhất thiết phải

có sự hiện diện đồng thời của tất cả các bên tại nơi giao kết Hình thức này càng ngày càng trở nên phổ biến, nhất là tại những quốc gia có nền công nghiệp tự động hóa phát triển.[1]

3 Giao dịch dân sự vô hiệu về mặt hình thức

Theo Điều 130 BLDS: “Trong trường hợp pháp luật quy định hình thức giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch mà các bên không tuân thủ thì theo yêu cầu của một hoặc các bên, tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác quyết định buộc các bên thực hiện quy định về hình thức của giao dịch trong một thời hạn; quá thời hạn đó mà không thực hiện thì giao dịch vô hiệu” Như vậy, đối với các giao

dịch dân sự mà pháp luật buộc các bên phải thông qua một hình thức nhất định nhưng các bên lại không thông qua hình thức này thì tòa án hoặc cơ quan Nhà nước có thẩm quyền sẽ ấn định một thời hạn để các bên hoàn thành , quá thời hạn này mà các bên không hoàn thành thì giao dịch dân sự vô hiệu.(2)

1[1] Trường Đại học Luật Hà Nội Giáo trình Luật Dân sự Việt Nam (Tập I) Năm 2012 NXB Công an nhân dân Trg

146 -148

Trang 3

B Hai vụ việc liên quan đến giao dịch dân sự vô hiệu về mặt hình thức:

I Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất – Huyện Đông Anh:

Ngày 18 và 23 tháng 5 năm 2012, tại Tòa án nhân dân huyện Đông Anh xét xử

sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 97/2011/TLST/DS ngày 15 tháng 11 năm 2011 về việc: tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

- Nguyên đơn: Ông Bùi Khánh Hưởng – sinh năm 1953

- Bị đơn: Ông Nguyễn Mạnh Công – sinh năm 1959

Bà Nguyễn Thị Nhung – sinh năm 1961 (vợ ông Công)

- Những người có lợi ích liên quan:

1 Bà Nguyễn Thị Thạo – sinh năm 1941 (chị ông Công)

2 Ông Nguyễn Thủy Chiến – sinh năm 1946 (anh ông Công)

3 Bà Nguyễn Thị Thắng – sinh năm 1952 (chị ông Công)

4 Bà Nguyễn Thị Mai Thành – sinh năm 1957 (chị ông Công)

5 Bà Nguyễn Thị Huynh – sinh năm 1964 (em ông Công)

6 Anh Nguyễn Hoài Nam – sinh năm 1980 (con ông Công)

7 Anh Nguyễn Thành Vinh – sinh năm 1982 (con ông Công)

8 Chị Nguyễn Vân Anh – sinh năm 1984 (con ông Công)

9 Chị Vũ Thị Tùng Diệp – sinh năm 1987 (vợ anh Nam)

10 Chị Nguyễn Thị Thanh Tâm – sinh năm 1987 (vợ anh Vinh)

1 Mô tả tóm tắt nội dung sự việc:

Ông Hưởng và gia đình ông Công không có quan hệ gia đình với nhau.Năm

1996, do hoàn cảnh gia đình khó khăn, bản thân ông Công lại là thương binh loại ¼, thương tật 85% phải nuôi 3 con ăn học nên vợ chồng ông Công có nhu cầu chuyển nhượng đất và ông Hưởng có nhu cầu sử dụng đất Sau khi thoả thuận, hai bên đi đến thống nhất, vợ chồng ông Công chuyển nhượng cho ông Hưởng 136m2 đất ở, với trị giá tiền = 47.000.000đ.Việc chuyển nhượng đất được thành lập thành văn bản viết tay

“Biên bản mua bán đất”, ghi ngày 24/3/1996, có kí nhận của vợ chồng ông Công, ông Hưởng và có xác nhận của UBND xã Nam Hồng.Nhưng trên thực tế, hai bên chuyển nhượng cho nhau 136m2 đất ở với giá = 122.400.000đ Việc giao nhận tiền được lập

Trang 4

thành văn bản ghi ngày 30/3/1996.Việc chuyển nhượng đến nay chưa hoàn tất thủ tục chuyển nhượng qua cơ quan nhà nước có thẩm quyền, đến nay, đất ông Hưởng nhận chuyển nhượng vẫn chưa được cấp GCNQSD đất

Năm 2008, gia đình ông Công chiếm toàn bộ 136m2 đất đã chuyển nhượng cho ông Hưởng và xây dựng nhà cấp 4 trên đó Gia đình ông Công không thực hiện làm thủ tục chuyển nhượng sang tên cho ông Hưởng.Ông Hưởng yêu cầu tòa án huyện Đông Anh giải quyết buộc vợ chồng ông Công thực hiện hợp đồng chuyển nhượng đất, tháo dỡ nhà cấp 4 xây trên đất và giao 136m2 đất ở đã chuyển nhượng cho ông Hưởng theo hợp đồng chuyển nhượng đất Bố mẹ ông Công có 5 người con chung (đã liệt kê ở trên), vợ chồng ông Công có 3 người con chung (đã nêu ở trên) Bố mẹ ông Công có thửa đất số 7, tờ bản đồ số 5, có tổng diện tích 592m2 ở thôn Đoài xã Nam Hồng huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội Sau khi bố ông Công chết, mẹ ông Công chia cho anh trai là Nguyễn Thủy Chiến sử dụng 195m2 đất ở, còn lại 397m2 đất ông Công sử dụng, nhưng đất vẫn chung một thửa và chưa được cấp GCNQSD đất

Sau khi vợ chồng ông Công chuyển nhượng đất cho ông Hưởng, các anh chị

em ông Công không nhất chí nên ông Công đã nhiều lần mời ông Hưởng về để thỏa thuận lại để ông Công trả lại tiền (theo giá thị trường) cho ông Hưởng và nhận lại đất, nhưng ông Hưởng không nhất chí mà còn có những lời nói xúc phạm gia đình ông Công nên dẫn đến hợp đồng chuyển nhượng đất không thực hiện được

Đến năm 2003, thửa đất số 7, tờ bản đồ số 5 có tổng diện tích 592m2 ở thôn Đoài xã Nam Hồng, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội của gia đình ông Công sử dụng được cấp giấy CNQSD đất trong đó có: thửa số 7A, tờ bản đồ số 5, có diện tích 395m2 đứng tên chủ hộ ông Nguyễn Mạnh Công

Sau khi thẩm tra chứng cứ tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét toàn bộ các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, xem xét lời khai của các bên đương sự, lời đề nghị của luật sư và kết quả tranh tụng Xét thấy:

- Về nguồn gốc đất ở: Thửa đất số 7, tờ bản đồ số 5, có tổng diện tích 592m2, ở thôn

Đoài, xã Nam Hồng, huyện Đông Anh, TP Hà Nội là bố, mẹ ông Nguyễn Mạnh Công

để lại tuy nhiên họ không để lại di chúc gì về di sản và không có thỏa thuận gì về di

Trang 5

sản Năm 2003, ông Công được cấp GCNQSDĐ Thửa số 7A, tờ bản đồ số 5, có diện tích 397m2

- Về hình thức: hợp đồng chuyển nhượng đất ở ở giữa ông Hưởng với vợ chồng ông

Công, là có thực Sự thỏa thuận chuyển nhượng đất giữa 2 bên là hoàn toàn tự nguyện

và được lập thành văn bản “Biên bản mua bán đất’, có chữ ký của các bên, có xác nhận của UBND xã Nam Hồng Nhưng viêc chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa 2 bên chưa hoàn tất thủ tục qua cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật

là vi phạm pháp luật về hình thức của hợp đồng theo quy định tại Điều 689 BLDS

- Về nội dung của hợp đồng: Biên bản mua bán đất ghi có thửa đất 136m2 không đúng

với diện tích thực tế của thửa đất và không có số thửa cụ thể Trị giá tiền chuyển nhượng ghi trong hợp đồng không đúng với thực tế tiền chuyển nhượng Đất chuyển nhượng là di sản thừa kế chưa chia là tài sản chung của tất cả anh chị em ông Công Ông Công và bà Nhung không có quyền định đoạt chuyển nhượng việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất là si sản thừa kế chưa chia của bợ chồng ông Công cho ông Bùi Khánh Hưởng không có sự đồng ý của các đồng thừa kế là vi phạm pháp luật về nội dung

2 Quyết định của Tòa án:

- Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Bùi Khánh Hưởng với ông Nguyễn Mạnh Công, bà Nguyễn Thị Nhung lập ngày 24/3/1996 là hợp đồng vô hiệu và hủy “biên bản mua bán đất” ghi ngày 24/3/1996 giữa vợ chồng ông Nguyễn Mạnh công, bà Nguyễn Thị Nhung với ông Bùi Khánh Hưởng

- Bác yêu cầu thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở của ông Bùi Khánh Hưởng với ông Nguyễn Mạnh Công, bà Nguyễn Thị Nhung

- Buộc ông Nguyễn Mạnh Công, bà Nguyễn Thị Nhung phải có trách nhiệm thanh toán trả ông Bùi Khánh Hưởng số tiền là 1.229.101.000đ (Một tỉ hai trăm hai mươi chín triệu, một trăm lẻ một ngàn đồng) (gồm: 122.400.000đ tiền nhận khi chuyển nhượng đất và 1.097.067.000đ tiền thiệt hại của hợp đồng chuyển nhượng đất

và 9.634.000đ tiền xây tường, làm cổng)

- Buộc ông Bùi Khánh Hưởng trả lại ông Nguyễn Mạnh Công, bà Nguyễn Thị Nhung quyền sử dụng 136m2 đất ở trong thửa số 7A, tờ bản đồ số 5, có diện tích

Trang 6

397m2 ở thôn Đoài xã Nam Hồng, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội cho gia đình ông Nguyễn Mạnh Công sử dụng (đất đã được cấp GCNQSDĐ đất đứng tên 2 con ông Nguyễn Mạnh Công)

- Án phí: Án phí dân sự 65.473.000đ

+ Ông Công và bà Nhung phải nộp 43.649.000đ tiền án dân sự phí sơ thẩm Miến toàn bộ án phí sơ thẩm cho ông Công và bà Nhung

+ Ông Hưởng phải nộp 21.824.000đ tiền án phí dân sự phí sơ thẩm

- Bác các yêu cầu khác của các đương sự

3 Phân tích quy định của luật áp dụng:

Theo khoản 3, Điều 122 BLDS 2005 quy định: “Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện” Nhưng trong giao dịch giữa ông Hưởng và vợ chồng ông Công đã

không có sự tự nguyện của các đồng chủ sở hữu khác (ở đây là anh, chị, em ông Công) Ông Công đã tự ý chuyển quyền sử dụng đất mà các ông bà Thạo, Chiến, Thắng, Thành, và Huynh không biết

Dựa vào khoản 1 điều 137 BLDS 2005 quy định: “Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm xác lập” Nếu hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất trong vụ việc này bị

tuyên là vô hiệu thì cần xác định lỗi cuả các bên để yêu cầu bồi thường thiệt hại, nhằm trả các bên trở lại trạng thái ban đầu trước khi giao kết hợp đồng

Theo Khoản 2 Điều 124 về hình thức giao dịch dân sự: "Trong trường hợp pháp luật quy định giao dịch dân sự phải được thể hiện bằng văn bản, phải có công chứng hoặc chứng thực, phải đăng ký hoặc xin phép thì phải tuân theo các quy định đó." và Khoản 2 Điều 689 về hình thức chuyển quyền sử dụng đất: "Hợp đồng chuyển quyền

sử dụng đất phải được lập thành văn bản, có công chứng, chứng thực theo quy định của pháp luật." Nhóm em xét thấy, trong vụ việc này, hợp đồng giữa ông Hưởng và

vợ chồng ông Công, bà Nhung là hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nên hình thức bắt buộc ở đây đã thỏa mãn điều kiện phải được lập thành văn bản và phải

có sự xác nhận của UBND xã Nam Hồng

4 Cách giải quyết của nhóm:

Trang 7

Thứ nhất, nhóm em đồng ý với cách giải quyết của tòa tại bản án số 03/2012

/DSST ngày 18+23/5/2012 Việc toà án huỷ hợp đồng mua bán giữa ông Hưởng và vợ chồng ông Công do hợp đồng mua bán vô hiệu là hoàn toàn chính xác, tuy nhiên nhóm

em chỉ muốn bổ sung đây là hợp đồng vô hiệu về mặt hình thức Nguyên nhân là dohợp đồng chuyển nhượng đất giữa ông Hưởng và ông Công tuy đã được xác nhận bởi UBND nhưng hai bên vẫn chưa hoàn tất thủ tục chuyển nhượng đất theo quy định của pháp luật Cụ thể là khi ông Hưởng và ông Công giao kết hợp đồng, chỉ có biên bản mua bán đất được viết tay và có chứng nhận của UBND xã Nam Hồng chứ tại thời điểm đó ông Công không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Điều này cho thấy khi các bên giao kết hợp đồng, ông Công không phải là chủ sở hữu của mảnh đất đó Bên cạnh đó, tên hợp đồng chuyển nhượng đất là “Biên bản mua bán đất” giữa ông Công và ông Hưởng là không đúng pháp luật Theo pháp luật quy định, đất đai là sở hữu của nhà nước (Khoản 1 Điều 688 BLDS 2005), không thể mua bán Các chủ thể khác chỉ có quyền sử dụng và chuyển nhượng quyền sử dụng đó Như vậy, tuyên bố

vô hiệu này của tòa là có căn cứ.Bên cạnh đó việc tranh chấp giữa 2 bên có 1 phần lỗi

của UBND xã Nam Hồng đã thực hiện sai về thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Hưởng và vợ chồng ông Công, bà Nhung Vì theo mục b khoản 1 Điều

127 Luật Đất đai năm 2003thì hồ sơ chuyển nhượng đất phải bao gồm hợp đồng

chuyển nhượng quyền sử dụng đất và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhưng khi

xác nhận hợp đồng giữa ông Hưởng và vợ chồng ông Công, bà Nhung chỉ có “Biên bản mua bán đất” chứ không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà UBND vẫn đóng dấu xác nhận Như vậy, UBND xã Nam Hồng đã không tuân thủ theo các thủ tục

mà pháp luật đã quy định

Thứ hai, việc phân định trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hợp đồng vô hiệu

như toà án giải quyết cũng hợp lý: Buộc ông Hưởng phải trả lại quyền sử dụng 136m2 đất cho vợ chồng ông Công; Buộc vợ chồng ông Công hoàn trả lại tiền cho ông Hưởng Ông Công phải chịu 2/3 thiệt hại của hợp đồng và ông Hưởng chịu 1/3 thiệt hại của hợp đồng cho 2 ông bà cùng có lỗi (thực hiện hợp đồng chuyển nhượng đất cho nhau khi đất chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và chưa hoàn tất thủ tục chuyển nhượng qua cơ quan nhà nước có thẩm quyền)

Trang 8

Thứ ba, nhóm em đồng ý với cách tuyên án phí của tòa, căn cứ vào khoản 2

Điều 5 Thông tư liên tịch Hướng dẫn về chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí thi hành án dân sự số 144 /2010/TTLT-BTC-BTP năm 2010: “Miễn phí thi hành án đối với các đối tượng được quy định tại Điều 2 Pháp lệnh Ưu đãi người có công với Cách mạng năm 2006 và các văn bản hướng dẫn thi hành.” Vì ông Công là thương binh loại

¼ nên được miễn nộp án phí là hoàn toàn chính xác

II.Tranh chấp hợp đồng mua bán nhà số 9 Nguyễn Chế Nghĩa – Hà Nội

 Chủ thể của vụ việc:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thế–sinh năm 1949

Chị Phạm Thu Hằng – sinh năm 1976

Cùng trú tại 5A6 tập thể nhà máy cơ khí Trần Hưng Đạo – Dốc Thọ Lão – Đồng Nhân – Hai bà Trưng - Hà Nội CHị Hằng ủy quyền cho bà Thế

- Bị đơn: Chị Lê Thị Nhung - sinh năm 1956

Trú tại : 9 Nguyễn Chế Nghĩa – Hà Nội

Chị Lê Thị Hoa – sinh năm 1969

Đăng ký hộ khẩu : 336 Nghi Tàm – Tây Hồ - Hà Nội

Hiện ở tại : D3 – F2 Tập thể khách sạn Thắng Lợi – AN Dương – Yên Phụ Tây Hồ

-Hà Nội

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1, Công ty quản lý và phát triển nhà Hà Nội

Trụ sở : 221B Trần Đăng Ninh, Cầu Giấy, Hà Nội

Ủy quyền cho Xí nghiệp quản lý và phát triển nhà số 3

Do bà Nguyễn Thị Dung – Giám đốc làm đại diện

2, Anh Nguyễn Sơn Hải – sinh năm 1947

Trú tại : 9 Nguyễn Chế Nghĩa – Hà Nội

3, Chị Lê Thị Tuyết – sinh năm 1963

Trú tại : 9 Nguyễn Chế Nghĩa – Hà Nội

4, Chị Lê Thị Sơn – sinh năm 1954

Trú tại : Số 4 ngõ 75 Đội Cấn, Ba Đình, Hà Nội

Trang 9

Trú tại : P311 – C2 Tập thể Kim Liên, Đống Đa, Hà Nội

 Cơ quan giải quyết vụ việc: Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội.

1 Mô tả tóm tắt nội dung sự việc:

Theo trình bày của nguyên đơn (bà Thế) : Tháng 9/2000 bà đã mua căn buồng

13m 2tại số 9 Nguyễn Chế Nghĩa của chị Nhung và chị Hoa với giá 14 cây vàng tương

đương 68.400.000 đồng, khi mua chị Nhung và chị Hoa nói rằng sẽ giải quyết ổn

thỏa trong gia đình, sẽ không ai tranh chấp gì nên bà Thế mới mua Giấy mua bán

ghi tên con gái bà là PhạmThu Hằng nhưng thực tế mọi giao dịch mua bán đều do bà

đứng ra Sau khi thỏa thuận bà đã giao đủ tiền cho chị Nhung và chị Hoa là 68.500.000 đồng nhưng chị Hoa không giao nhà cho bà Nay bà đề nghị Tòa án hủy

hợp đồng mua nhà giữa hai bên, yêu cầu chị Nhung và chị Hoa trả bà số tiền đã mua nhà theo thời giá và trả một lúc, không chấp nhận trả dần

Sau khi nhận đủ tiền và viết giấy bán nhà, chị Nhung đã yêu cầu bà ứng tiền làm nhiều lần với tổng số tiền là 24.700.000 đồng dưới hình thức viết giấy vay tiền Chị Nhung đã trả bà được 20.000.000 đồng ngày 28/10/2004, nay còn thiếu 4.700.000 đồng bà không yêu cầu giải quyết nữa

 Về phía bị đơn :

- Chị Lê Thị Nhung trình bày : tháng 9/2000 chị và em gái là Lê Thị Hoa có ký

giấy viết tay bán cho bà Thế một căn hộ diện tích 12m 2 tại số 9 Nguyễn Chế Nghĩa

với giá 68.500.000 đồng Căn hộ này là của bố mẹ chị thuê của nhà nước, hiện đang

sử dụng 12m2 Khi bố mẹ mất để lại cho năm chị em là Lê Thị Sơn, Lê Thị Nhung, Lê

Thị Tuyết, Lê Thị Mai và Lê Thị Hoa nhưng khi bán chỉ có chị Nhung và chị Hoa

biết và ký vào giấy bán nhà Chị đã hứa với bà Thế sẽ giải quyết ổn thỏa trong gia

đình và đã nhận của bà Thế số tiền là 68.500.000 đồng Sau một thời gian không thuyết phục được chị Tuyết và cũng không sang tên hợp đồng cho bà Thế được nên chị đã gặp bà Thế xin trả lại tiền nhưng bà Thế không chịu

Nay bà Thế có đơn khởi kiện ra tòa, chị xác định việc mua bán là sai nên chị xin được thanh toán lại tiền cho bà Thế theo phương thức trả dần Chị đã nhận của bà Thế 68.500.000 đồng và đã sử dụng vào việc gia đình còn 20.000.000 chị Hoa cầm với danh nghĩa là vay của chị, không có giấy tờ gì và đến nay chưa trả Nhà số 9 Nguyễn

Trang 10

Chế Nghĩa trong quá trình ở trong 2 chị em không ai xây dựng sửa chữa gì, sau khi bán cho bà Thế mới sửa một vài thứ như đã kê khai tại buổi xem xét nhà của Tòa án

- Chị Lê Thị Hoa trình bày : chị có biết việc mua bán nhà giữa chị Nhung và bà Thế và có ký vào giấy bán nhà Bà Thế giao tiền chị có chứng kiến nhưng không sử dụng số tiền đó Chị không vay của chị Nhung 20 triệu Nay bà Thế khởi kiện việc trả tiền như thế nào là do chị Nhung

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan :

Chị Lê Thị Tuyết, ông Nguyễn Sơn Hải, bà Lê Thị Sơn đều không biết việc chị Nhung bán nhà nên không có ý kiến gì đến vụ án Chị Lê Thị Mai hiện không có mặt tại địa chỉ cư trú nên không lấy được lời trình bày

Xí nghiệp nhà số 3 có ý kiến: Nhà số 9 Nguyễn Chế Nghĩa được Sở quản lý ký hợp đồng cho 4 hộ dân thuê trong đó bà Trần Thị Ba trả tiền thuê 27,2m2, hộ bà Đặng Thị Nga trả tiền thuê 9m2 Hai hộ này đổi diện tích cho nhau không thông qua cơ quan Nhà đất Hiện gia đình chị Nhung là con gái bà Ba đang sử dụng để ở Việc chị Nhung mua bán chuyển nhượng này không qua cơ quan Nhà đất do đó đề nghị Tòa án giải quyết theo pháp luật

2 Quyết định của Tòa án:

Khi thực hiện việc mua bán nhà các bên chỉ có giấy viết tay với nhau không thông qua cơ quan quản lý nhà và cho đến nay cơ quan quản lý nhà vẫn yêu cầu giải quyết theo pháp luật Như vậy giao dịch mua bán nhà giữa chị Lê Thị Nhung, Lê Thị Hoa với bà Nguyễn Thị Thế là trái pháp luật Căn cứ Điều 131, Điều 200, Điều 494

Bộ Luật dân sự năm 1996, Điều 3 mục I Nghị quyết 01/2003 ngày 16/4/2003 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án Tối cao thì giao dịch dân sự trên là vô hiệu Yêu cầu hủy hợp đồng mua bán nhà giữa chị Lê Thị Nhung, Lê Thị Hoa với bà Nguyễn Thị Thế được chấp nhận

Các bên phải khôi phục lại tình trang ban đầu, trả lại cho nhau những gì đã nhận, Như vậy bà Thế chưa nhận nhà nên không phải trả lại Chị Nhung và chị Hoa đã nhận của bà Thế 68.500.000 đồng, trên thực tế không có cơ sở xác định chị Hoa đã được chia phần trong số tiền bà Thế giao nên buộc chị Nhung hoàn trả toàn bộ số tiền

Ngày đăng: 29/01/2016, 17:06

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w