Vai trò của pháp luật thuế ở nước ta hiện nay...4 a Pháp luật thuế tạo cơ sở pháp lý quan trọng và ổn định cho nguồn thu, đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước...4 b Pháp luật thuế được
Trang 1ĐỀ SỐ 9: Vai trò của pháp luật thuế ở nước ta hiện nay – các giải pháp
chủ yếu để phát huy vai trò đó trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường
và hội nhập quốc tế
MỤC LỤC
1 PHẦN MỞ ĐẦU 3
2 PHẦN NỘI DUNG 3
2.1 Những vấn đề cơ bản về pháp luật thuế 3
2.1.1 Thuế và pháp luật thuế 3
2.1.2 Vai trò của pháp luật thuế ở nước ta hiện nay 4
a) Pháp luật thuế tạo cơ sở pháp lý quan trọng và ổn định cho nguồn thu, đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước 4
b) Pháp luật thuế được sử dụng như một công cụ điều tiết nền kinh tế, thực hiện đường lối trong một thời kỳ nhất định của nhà nước 5
c) Nhà nước có thể sử dụng công cụ pháp luật thuế để kiểm tra gián tiếp hoạt động sản xuất kinh doanh 6
d) Pháp luật thuế là công cụ góp phần đảm bảo sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế và công bằng xã hội 7
2.2 Thực trạng việc áp dụng pháp luật thuế ở Việt Nam 8
2.2.1 Năng lực thuế thấp 8
2.2.2 Thất thu thuế lớn 8
2.2.3 Việc áp dụng pháp luật trong lĩnh vực thuế còn nhiều yếu kém và bất cập 9
a) Xác định sai số tiền thuế 9
b) Thụ động trong việc ra quyết định, còn trông chờ hướng dẫn của cấp trên 9
c) Chậm trễ trong việc thực hiện các ưu đãi thuế: 10
d) Còn nhiều tranh chấp về thuế dẫn đến khiếu nại tố cáo không được giải quyết thỏa đáng 10
2.2.4 Nguyên nhân của thực trạng thực thi pháp luật thuế 11
a) Ý thức chấp hành pháp luật thuế của nhiều chủ thể nộp thuế còn yếu kém 11
b) Trình độ công chức quản lý thuế còn nhiều hạn chế 11
c) Trong công tác quản lý và ra quyết định quản lý thuế còn nhiều tiêu cực 11
d) Cơ sở hạ tầng đầu tư cho ngành thuế còn chưa thỏa đáng để đáp ứng nhu cầu nhiệm vụ 12
e) Còn nhiều hạn chế về tính hợp lý và sự minh bạch của hệ thống pháp luật thuế 12 2.3 Một số giải pháp để phát huy vai trò của pháp luật thuế trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế 12
2.3.1 Hoàn thiện nhanh chóng hệ thống pháp luật thuế 13
2.3.2 Tăng cường thanh tra kiểm tra để phát hiện và xử lý ngay sai phạm 13
2.3.3 Tăng cường kỷ cương kỷ luật, đổi mới phương pháp làm việc, củng cố năng cao chất lượng đội ngũ cán bộ và phát triển cơ sở hạ tầng ngành thuế 14
2.3.4 Tuyên truyền phổ biến, giáo dục pháp luật thuế và tăng cường ý thức pháp luật cho mỗi người dân 15
3 PHẦN KẾT LUẬN 15
Trang 21 PHẦN MỞ ĐẦU
Lý luận và thực tiễn đã chỉ ra rằng thuế ra đời và tồn tại là khách quan,
là điều kiện vật chất quan trọng để nhà nước tồn tại và phát triển Để tạo lập
cơ sở pháp lý ổn định vững chắc cho nguồn thuế, thực hiện các mục tiêu kinh
tế - xã hội, đòi hỏi nhà nước vần phải ban hành hệ thống pháp luật thuế đồng
bộ Việc nghiên cứu vai trò của pháp luật thuế trong điều kiện phát triển kinh
tế thị trường và hội nhập quốc tế có ý nghĩa rất quạn trọng trong việc nâng cao hệ thống pháp luật thuế Từ việc nghiên cứu đó hệ thống quy phạm pháp luật thuế có thể thường xuyên sửa đổi, thay thế, bổ sung để đáp ứng như cầu của nhà nước và phù hợp với đời sống kinh tế - xã hội
2.1 Những vấn đề cơ bản về pháp luật thuế
2.1.1 Thuế và pháp luật thuế
● Thuế vừa là phạm trù kinh tế, vừa là phạm trù lịch sử Lịch sử xã hội loài ngươi đã chứng minh rằng thuế ra đời là một tất yếu khách quan, gắn với
sự hình thành và phát triển của nhà nước Có rất nhiều cách định nghĩa, nhưng
chúng đề có các nét chung sau: Thuế là khoản thu nộp mang tính bắt buộc mà
các tổ chức hoặc các nhân phải nộp cho nhà nước khi có đủ những điều kiện nhất định, phát sinh trên cơ sở các văn bản pháp luật do nhà nước ban hành, không mang tính chất đối giá và hoàn trả trực tiếp cho đối tượng nộp thuế.
● Thuế bao giờ cũng mang những đặc tính nhất định Đó là: Thuế là
khoản thu bắt buộc nộp vào ngân sách; Thuế gắn với yếu tố quyền lực nhà nước; Thuế không mang tính đối giá và hoàn trả trực tiếp.
● Thuế liên quan đến quyền lợi trực tiếp của người nộp thuế và nhà nước Người nộp thuế phải trích một phần tài sản để chuyển cho nhà nước mà không thể khước từ hay trì hoãn Ngược lại, nhà nước nào cũng phải thu thuế
để đảm bảo nguồn vật chất đầu vào cho việc thực hiện chức năng nhiệm vụ Việc thu thuế phải đạt được mục tiêu điều hòa lợi ích giữa hai bên Bởi vậy, việc đánh thuế cần tuân thủ một số nguyên tắc sau:
Trang 3- Thứ nhất, đánh thuế phải đảm bảo công bằng Mọi đối tượng có năng
lực chịu thuế đều phải nộp thuế và mọi người có điều kiện liên quan đến thuế như nhau phải đươc đối xử về thuế như nhau
- Thứ hai, đánh thuế phải đảm bảo cân bằng lợi ích giữa nhà nước và
người nộp thuế Thuế phải đảm bảo nguồn thu cho ngân sách nhà nước nhưng
không được để cho người nộp thuế lâm vào tình trạng khốn cùng Đây là yêu cầu quan trọng để đảm bảo tính "trung lập" của thuế
- Thứ ba, đánh thuế phải đản bảo dễ hiểu, đạt hiệu quả Các loại thuế
phải đảm bảo rõ ràng, dễ hiểu cho mọi đối tượng và có tính ổn định đồng thời
hệ thống thuế phải tổ chức sao cho chi phí quản lý thu thuế không cao hơn mức mà mục tiêu đề ra cho phép
- Thứ tư, đánh thuế phải đảm bảo không xảy ra tình trạng một đối
tượng tính thuế phải chịu một loại thuế nhiều lần Điều này đặt ra yêu cầu hệ
thống pháp luật thuế một quốc gia phải "bóc tách" những phần của đối tượng tính thuế đã nằm trong diện chịu loại thuế đó ở giai đoạn trước
● Nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển của luật thuế ở Việt Nam cho thấy pháp luật thuế ra đời rất sớm Nhà nước với tư cách là chủ thể quyền lực, sử dụng công cụ riêng là pháp luật để tập trung bộ phận của cái xã hội mà không phụ thuộc vào ý chí của đối tượng nắm giữ của cải đó Điều này cũng giúp cho việc phân biệt giữa luật thuế với luật ngân sách Nhà nước mặc dù giữa luật thuế và luật ngân sách Nhà nước có mối liên hệ nội tại
Pháp luật thuế là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình thu, nộp thuế giữa cơ quan nhà nước
có thẩm quyền và người nộp thuế nhằm hình thành nguồn thu ngân sách nhà nước để thực hiện các mục tiêu xác định trước.
2.1.2 Vai trò của pháp luật thuế ở nước ta hiện nay
a) Pháp luật thuế tạo cơ sở pháp lý quan trọng và ổn định cho nguồn thu, đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước
Trang 4Nhà nước ban hành pháp luật thuế bao gồm các quy phạm pháp luật xác định quyền thu thuế của nhà nước, nghiwã vụ nộp thuế của các chủ thể có điều kiện Thuế là nguồn tài chính quan trọng, chiếm tỉ trọng lớn trong cơ cấu nguồn thu ngân sách Nhà nước Theo kết quả nghiên cứu về lịch sử tồn tại và pháp triển của thuế qua các thời kỳ, ở các quốc gia đã cho thấy: thu từ thuế chiếm phần lớn tổng thu ngân sách Nhà nước Ở Việt Nam, từ những năm
1990 trở lại đây, nguồn thu từ thuế đáp ứng phần lớn các khoản chi tiêu ngân
sách Nhà nước Các luật thuế được ban hành đều xác nhận “động viên một
phần thu nhập vào ngân sách Nhà nước” như một lý do cơ bản Khoản thu từ
thuế chiếm khoản 90% tổng thu ngân sách Nhà nước Điều này lý giải cơ cấu cân đối ngân sách Nhà nước được pháp luật ghi nhận Điều 8 Luật Ngân sách
Nhà nước quy định rõ “Ngân sách Nhà nước được cân đối theo nguyên tắc
tổng thu từ thuế, phí, lệ phí phải lớn hơn tổng số chi thường xuyên và góp phần tích lũy ngày càng cao vào đầu tư phát triển”.
Hầu hết các quốc gia, thuế là hình thức chủ yếu mà pháp luật quy định
để thu ngân sách Nhà nước Một nền tài chính quốc gia lành mạnh phải dựa chủ yếu vào nguồn thu nội bộ của nền kinh tế quốc dân Trong điều kiện kinh
tế thị trường, xuất phát từ phạm vi hoạt động mà đòi hỏi Nhà nước phải ban hành và tổ chức thực hiện pháp luật thuế để tập trung nguồn tài chính vào ngân sách Nhà nước, từ đó mới đáp ứng được nhu cầu chi ngày càng tăng
b) Pháp luật thuế được sử dụng như một công cụ điều tiết nền kinh tế, thực hiện đường lối trong một thời kỳ nhất định của nhà nước
Nhà nước, bằng pháp luật có khả năng quản lý, điều tiết tới mọi mặt của đời sống kinh tế xã hội Bằng hệ thống pháp luật thuế, Nhà nước thể hiện
ý chí của mình đối với đường lối phát triển kinh tế một cách gián tiếp, thông qua đó thực hiện công bằng xã hội
Pháp luật thuế còn có vai trò quan trọng trong việc điều tiết vĩ mô đối với nền kinh tế của Nhà nước Thông qua việc ban hành và thực hiện pháp luật thuế, Nhà nước thể chế hóa và thực hiện chính sách điều tiết đối với nền
Trang 5kinh tế, điều tiết thu nhập và tiêu dùng xã hội Điều tiết đối với nền kinh tế là yêu cầu khách quan, thường xuyên của Nhà nước trong điều kiện nền kinh tế thị trường
Thông qua hệ thống pháp luật thuế, nhà nước có thể thay đổi cơ cấu đầu tư, cơ cấu ngành kinh tế mà không cần can thiệp hành chính Để thực hiện cơ cấu đầu tư định trước, pháp luật thuế có những quy định cụ thể khcá nhau giữa nghĩa vụ thuế của đối tượng ưu tiên và đối tượng bị hạn chế Điều này sẽ làm ảnh hưởng tới cơ hội tìm kiếm thu nhập của đối tượng đầu tu, qua
đó có thể làm thay đổi luồng vốn từ khu vực đầu tư này sang khu vực đầu tư khác
Thông qua các quy định của pháp luật thuế, Nhà nước chủ động can thiệp đến cung - cầu của nền kinh tế, định hướng chi tiêu xã hội Để hạn chế việc tiêu dùng đối với một số hàng hóa, dịch vụ chưa thực sự phù hợp với giai đoạn hiện tại, Nhà nước tăng thuế suất, thuế giá trị gia tăng, thuế xuất nhập khẩu… đối với việc sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng các loại hàng hóa đó Để thực hiện chính sách bảo hộ, khuyến khích sản xuất trong nước và khuyến khích xuất khẩu, pháp luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu có các quy định khuyến khích hoặc hạn chế việc xuất khẩu, nhập khẩu đối với một số hàng hóa Sự khuyến khích hoặc hạn chế này thể hiện tập trung ở biểu thuế áp dụng
có tính chấp phân biệt đối với các loại hàng hóa xuất nhập khẩu Đối với những ngành nghề, lĩnh vực sản xuất, kinh doanh cần khuyến khích, tạo cơ hội tối đa cho mọi đối tượng đều có thể tiếp cận; ngoài các quy định chung, pháp luật thuế còn có các quy định ưu đãi, miễn, giảm thuế nhằm khắc phục
sự suy thoái về tài chính, tạo sự ổn định và phát triển của các doanh nghiệp Thông qua pháp luật thuế, Nhà nước có tác động tích cực trong việc thúc đẩy sản xuất phát triển trên cơ sở tận dụng và sử dụng hợp lý và có hiệu quả các nguồn lực của đất nước trong việc điều chỉnh cung – cầu và cơ cấu kinh tế
c) Nhà nước có thể sử dụng công cụ pháp luật thuế để kiểm tra gián tiếp hoạt động sản xuất kinh doanh
Trang 6Để thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ nộp thuế, các cơ quan quản lý thuế cùng với đối tượng nộp thuế buộc phải quan tâm và tuân thủ những quy định gắn với chế độ chứng từ hóa đơn, nội dung kinh doanh, quy mô kinh doanh, hình thức kinh doanh, cơ cấu tổ chức… Điều đó cũng có nghĩa bằng việc quy định những vấn đề liên quan đến nghĩa vụ thuế, nhà nước gián tiếp quản lý nền kinh tế, trên cơ sở đó có hệ thông pháp luật được ban hành, sửa đổi, bổ sung phù hợp với định hướng trong từng giai đoạn ở tầm vĩ mô cũng như tìm biện pháp hỗ trợ phù hợp cho các đối tượng nộp thuế ở tầm vi mô Mặt khác, cũng thông qua việc kiểm tra việc tuân thủ pháp luật thuế, các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cũng có khả năng phát hiện và xử lý kịp thời những hành vi vi phạm pháp luật thuế nói riêng và vi phạm trong quá trình hoạt động gắn với tư cách của đối tượng nộp thuế nói chung
d) Pháp luật thuế là công cụ góp phần đảm bảo sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế và công bằng xã hội
Hệ thống pháp luật thuế mới được áp dụng thống nhất chung cho các ngành nghề, các thành phần kinh tế, các tầng lớp dân cư nhằm đảm bảo sự bình đẳng và công bằng xã hội về quyền lợi và nghĩa vụ đối với mọi thể nhân
và pháp nhân Sự bình đẳng và công bằng được thể hiện thông qua chính sách động viên giống nhau giữa các đơn vị, cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế
có những điều kiện hoạt động giống nhau, đảm bảo sự bình đẳng và công bằng
Sự vận động của nền kinh tế theo cơ chế thị trường đòi hỏi Nhà nước phải sử dụng đồng bộ nhiều công cụ khác nhau để khắc phục những sự mất cân đối về mặt xã hội trong đó có mất cân đối về thu nhập Nhà nước sử dụng pháp luật thuế làm công cụ để điều hòa vĩ mô thu nhập trong xã hội Nhà nước thực hiện việc điều tiết thu nhập của các đối tượng nộp thuế và các thành viên trong xã hội Sự thay đổi của pháp luật thuế và cơ cấu các loại thuế trong hệ thống thuế, về thuế suất… đều có tác động đến thu nhập và sử dụng
Trang 7thu nhập trong xã hội Pháp luật thuế còn được nhà nước sử dụng như một công cụ thể hiện chính sách xã hội
2.2 Thực trạng việc áp dụng pháp luật thuế ở Việt Nam
2.2.1 Năng lực thuế thấp
Nguồn thu thuế ở nước ta chiếm tỷ trọng còn hạn chế trong tổng thu Ngân sách Nhà nước với khoảng 60% trong khi đó các nước phát triển trên 90% (các nước Bắc Âu trên 95%) Thu từ thuế gián thu (bao gồm thuế nhập khẩu, thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt, phí xăng, dầu) chiểm tỷ trọng lớn trong đóng góp ngân sách Nhà nước, 46% trong giai đoạn 2001
-2005 Trong đó thuế nhập khẩu đóng góp tới 1/3 tổng thu ngân sách Nhà nước Tuy nhiên, khoản thu này đang giảm đi do các hiệp định tự do hóa thương mại mà Việt Nam đang tham gia
Kể từ khi gia nhập WTO, thu thuế về xuất nhập khẩu, tiêu thụ đặc biệt
và VAT hàng nhập khẩu bị giảm sút do cam kết hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực Việc cắt giảm thuế quan theo các hiệp định đã ký kết dẫn đến tổng thu nhập nhập khẩu giảm theo Kinh tế thế giới khủng hoảng và kinh tế Việt Nam cũng chịu tác động mạnh Ngoài ra chính sách giãn thuế và giảm thuế cũng đã làm cho giảm thu thuế 5 – 6% so với được giao Theo báo cáo của Tổng cục thống kê, việc thực hiện các giải pháp về thuế làm giảm số thu ngành thuế năm 2009 khoảng 16 – 20% so với dự toàn được giao
2.2.2 Thất thu thuế lớn
Mặc dù ngành thuế ngày càng có nhiều nỗ lực, nhưng các biện pháp chống thất thu thuế xem ra chưa hữu hiệu, dường như người ta mới tận thu được với các đơn vị và công dân gương mẫu trong nghĩa vụ thuế, còn những người cố tình trốn thuế thì không bị chế tài Tình trạng này không những thể hiện trong thuế thu nhập cá nhân mà thể hiện rất dễ thấy trong thuế giá trị gia tăng Rất nhiều doanh nghiệp, khách sạn, cửa hàng… không làm hóa đơn cho khách hàng, còn khách hàng thì rất nhiều người cũng không có nhu cầu lấy hóa đơn (trừ những doanh nghiệp cần có hóa đơn để khấu trừ thuế giá trị gia
Trang 8tăng) Phần lớn khoản doanh thu không nhỏ đó Nhà nước không thu được thuế, cả thuế giá trị gia tăng lẫn thuế thu nhập doanh nghiệp Tình trạng đó không những gây tổn hại cho lợi ích của đất nước mà còn tạo ra sự bất bình đẳng về nghĩa vụ thuế của công dân, vô hình chung tạo thêm sự cạnh tranh không lành mạnh giữa các doanh nghiệp
Thanh tra Chính phủ đã có một cuộc điều tra về tổng lượng thất thu của ngành thuế trong thời gian qua Thanh tra chính phủ cho biết, sau khi hoàn tất việc thanh tra tại Tổng Cục thuế, Cục thuế Hà Nội và Cục thuế Tp Hồ Chí Minh đã phát hiện nhiều sai phạm Thanh tra Chính phủ cho rằng, việc Bộ Tài Chính, Tổng cục thuế và một số Cục thuế địa phương ban hành văn bản không đúng quy định của pháp luật về thuế đã dẫn đến thất thu thuế và trực tiếp ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường đầu tư, kinh doanh
Qua thanh tra, Cục thuế Hà Nội bị cho là phải có trách nhiệm khi để tất thu 459,8 tỷ đồng tiền thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập doanh nghiệp trong hoạt động kinh doanh ôtô và xe máy trên địa bàn từ năm 2005 tới năm
2007 Đồng thời Cục thuế Hà Nội phải có trách nhiệm thu hồi 3,736 tỷ đồng tiền thuế do 48 doanh nghiệp thuộc đơn vị này quản lý kê khai thiếu
2.2.3 Việc áp dụng pháp luật trong lĩnh vực thuế còn nhiều yếu kém và bất cập
a) Xác định sai số tiền thuế
Trong nhiều trường hợp, cơ quan quản lý thuế là chủ thể trực tiếp xác định số tiền thuế hoặc kiểm tra việc tự xác định số thuế của chủ thể nộp thuế nhưng đã xác định sai số thuế Việc xác định sai số thuế thường dẫn đến tranh chấp, khiếu nại do cơ quan thuế đã xác định số tiền thuế phải nộp nhiều hơn thực tế
b) Thụ động trong việc ra quyết định, còn trông chờ hướng dẫn của cấp trên
Một trong những đặc trưng của áp dụng pháp luật chính là đưa những quy định áp dụng chung vào từng trường hợp cụ thể Tuy những hướng dẫn
Trang 9của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền như Bộ Tài chính và Tổng cục thuế đã tương đối đầy đủ, nhưng việc vận dụng tại các cơ quan quản lý thuế tại địa phương còn nhiều lúng túng Điều đó chứng tỏ, việc nắm vững và vận dụng pháp luật thuế của các Cục thuế địa phương còn rất nhiều hạn chế
c) Chậm trễ trong việc thực hiện các ưu đãi thuế:
Ưu đãi thuế là những quy định nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho chủ thể nộp thuế trong hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc chia sẻ gánh nặng thuế khi chủ thể nộp thuế gặp những sự cố khách quan bất lợi (thiên tai, địch họa, tai nạn bất ngờ…) Chính sách ưu đãi thuế chỉ thực sự có hiệu quả khi việc triển khai thực hiện được nhanh chóng và đúng đối tượng
Thực tế cho thấy, nhiều trường hợp, những hồ sơ đề nghị miễn thuế, giảm thuế hoặc hoàn thuế bị cơ quan thuế xử lý một cách chậm trễ Đôi khi, công chức quản lý thuế còn đòi hỏi những điều kiện về giấy tờ, hồ sơ, sổ sách vượt ra ngoài những yêu cầu của pháp luật Không kể dến mục đích gây khó khăn để thực hiện hành vi tham nhũng, thì những yêu cầu quá mực này đã cản trở chủ thể nộp thuế thực hiện quyền của mình một cách hợp pháp, làm giảm hiệu ứng tốt của chính sách ưu đãi thuế
d) Còn nhiều tranh chấp về thuế dẫn đến khiếu nại tố cáo không được giải quyết thỏa đáng.
Hiện nay có nhiều việc khiếu nại, tố cáo việc thực hiện pháp luật thuế Đây là quyền của cá nhân, tổ chức và việc có khiếu nại, tố cáo không đồng nghĩa với việc công chức quản lý thuế hay cơ quan quản lý thuế đã vi phạm pháp luật Bên cạnh những trường hợp giải quyết khiếu nại, tố cáo thỏa đáng, đúng pháp luật, cũng vẫn còn xảy ra tình trạng khiếu nại, tố cáo không được giải quyết đúng thời hạn, dây dưa, vòng vo dẫn đến những phản ứng tiêu cực tiếp theo của cá nhân, tổ chức khiếu nại, tố cáo Bên cạnh đó, hiện tượng bao biện, không nhận trách nhiệm và không xử lý đúng pháp luật công chức quản
lý thuế, cơ quan quản lý thuế mắc sai phạm cũng làm cho sự việc càng trở nên phức tạp hơn
Trang 102.2.4 Nguyên nhân của thực trạng thực thi pháp luật thuế
a) Ý thức chấp hành pháp luật thuế của nhiều chủ thể nộp thuế còn yếu kém.
Việc nộp thuế là nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật nhằm đảm bảo duy trì hoạt động của bộ máy Nhà nước, và đồng thời để nhà nước thực hiện các chức năng của mình Tuy nhiên, do các lợi ích nhận được của nhà nước thường không cụ thể, nên đối với một số chủ thể nộp thuế, những thiệt hại vật chất cụ thể dường như lớn hơn so với những giá trị vô hình mà nhà nước đem lại Chính vì vậy, thay vì hợp tác, nhiều chủ thể nộp thuế sử dụng nhiều thủ đoạn để làm giảm số thuế phải nộp một cách trái pháp luật
b) Trình độ công chức quản lý thuế còn nhiều hạn chế.
Trong những năm vừa qua, hệ thống pháp luật thuế có nhiều thay đổi căn bản, số lượng chủ thể nộp thuế ngày càng nhiều hơn Bên cạnh đó, những thủ đoạn gian lận thuế ngày càng tinh vi hơn đã gây khó khăn không nhỏ cho công tác quản lý thuế Mặc dù hầu hết công chức quản lý thuế đều ý thức được việc trau dồi, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, nhưng mức độ không đồng đều Nhiều địa phương, trình độ học vấn của công chức quản lý thuế chưa đáp ứng được yêu cầu công tác, nên khi thực hiện công tác áp dụng pháp luật còn nhiều lúng túng, làm sai hoặc sợ làm sai dẫn đến chậm trễ trong việc
ra quyết định
c) Trong công tác quản lý và ra quyết định quản lý thuế còn nhiều tiêu cực.
Những tiêu cực như đưa và nhận hối lộ, công chức thuế thông đồng với chủ thể nộp thuế để gian lận thuế vẫn còn xảy ra Mặc dù trong thời gian vừa qua, công tác phòng và chống tham nhũng được đẩy mạnh, nhưng nhiều vụ việc trốn lậu thuế bị phát hiện thường có liên quan đến công chức quản lý thuế Từ những phản ánh trên các phương tiện thông tin đại chúng và các vụ việc đã được cơ quan chức năng phát hiện và xử lý, thì có thể khẳng định