Doanh nghiệp tư nhân.... Doanh nghiệp liên doanh.... Thành lập doanh nghiệp..... Những quy định của Luật Doanh nghiệp Lào... Thứ ba, doanh nghiệp tư nhân không có tư cách
Trang 1MỤC LỤC
Trang MỤC LỤC 1
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT 2
MỞ BÀI 3
NỘI DUNG 3
I Khái quát về hoàn cảnh ra đời luật doanh nghiệp năm 2005 của Lào 3
II Những quy định của Luật Doanh nghiệp Lào 4
1. Các loại hình doanh nghiệp 4
1.1. Doanh nghiệp tư nhân 4
1.2. Công ty hợp danh 5
1.3. Công ty TNHH 5
1.4. Công ty cổ phần 7
1.5. Công ty nhà nước 7
1.6. Doanh nghiệp liên doanh 8
2.Vốn và chế độ tài chính 9
2.1 Vốn điều lệ 9
2.2 Chế độ tài chính 10
3 Tổ chức quản lý nội bộ doanh nghiệp 12
3.1 Doanh nghiệp tư nhân 12
3.2 Công ty hợp danh 12
3.3 Công ty TNHH 13
3.4 Công ty cổ phần 13
3.5 Công ty nhà nước 13
3.6 Doanh nghiệp liên doanh 14
4.Thành lập, tổ chức, giải thể doanh nghiệp 14
4.1 Thành lập doanh nghiệp 14
4.2 Tổ chức lại doanh nghiệp 15
4.3 Giải thể doanh nghiệp 15
5.Các giải pháp cụ thể hoàn thiện Luật doanh nghiệp Lào 16
KẾT BÀI 17
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 18
Trang 2DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
CNĐKKD : Chứng nhận đăng ký kinh doanh
MỞ BÀI
Trang 3Luật Doanh nghiệp là một đạo luật quan trọng, có vị trí trung tâm trong hệ thống pháp luật kinh tế Nó điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong quá trình thành lập hoạt động và giải thể doanh nghiệp Đặc biệt, trong bối cảnh toàn cầu hóa, khu vực hóa hiện nay, Luật Doanh nghiệp càng thể hiện vai trò to lớn của nền kinh tế Để phát triển nền kinh tế thị trường và hội nhập với nền kinh tế thế giới, Nhà nước Lào đã chú trọng xây dựng và hoàn thiện Luật Doanh nghiệp cho phù hợp với hoàn cảnh trong nước và tình hình thế giới
NỘI DUNG
I Khái quát về hoàn cảnh ra đời luật doanh nghiệp năm 2005 của Lào
Đại hội Đảng NDCM Lào lần thứ IV năm 1986 được coi là dấu mốc quan trọng, là bước ngoặt đối với sự phát triển kinh tế xã hội Lào Từ đây, nền kinh tế Lào có những bước phát triển vượt bậc, chuyển từ cơ chế tập trung, bao cấp sang cơ chế thị trường định hướng XHCN Với sự nỗ lực không ngừng, Lào đã từng bước kiện toàn hệ thống pháp luật xây khung pháp lý làm tiền đề cho sự phát triển kinh tế Trải qua chặng đường 25 năm đổi mới, kinh tế Lào gặt hái được nhiều thành quả Nền kinh tế nhiều nước trên thế giới phát triển vượt bậc, nhanh chóng, một số nước trong khu vực trở thành con rồng Châu Á, cả thế giới bước vào xu thế hội nhập sâu rộng trên mọi lĩnh vực
Pháp luật là cơ sở quan trọng phản ánh phần nào trình độ kinh tế, thể hiện mức độ mở cửa hợp tác của đất nước với thế giới Luật Doanh nghiệp (LDN) đầu tiên của Lào được Quốc hội thông qua ngày 23/12/2000 và có hiệu lực thi hành từ ngày 15/1/2001 Sau 4 năm áp dụng LDN
2001 đã tỏ ra có nhiều bất cập, không đáp ứng được nhu cầu thực tế Vì vậy, dưới sự tác động của hội nhập kinh tế, để đáp ứng đòi hỏi gia nhập WTO, việc sửa đổi, hoàn thiện LDN 2001 của Lào là vô cùng cần thiết Cùng với tư tưởng đổi mới của Đại hội IV, các Đại hội Đảng V, VI đều khuyến khích việc phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, một mặt nêu lên tầm quan trọng của thành phần kinh tế nhà nước, mặt khác vẫn khẳng định tiềm năng của các thành phần kinh tế khác đối với nền kinh tế Lào Để đảm bảo xây dựng thành công chế độ XHCN, mục tiêu đến năm 2030 Lào cơ bản trở thành nước công nghiệp Chính điều kiện kinh tế xã hội, yêu cầu hội nhập thế giới và chủ trương đường lối của Đảng đã tác động thúc đẩy sự ra đời nhanh chóng của LDN 2005
II Những quy định của Luật Doanh nghiệp Lào
Trang 41 Các loại hình doanh nghiệp
1.1 Doanh nghiệp tư nhân
Theo Điều 152 LDN Lào thì “doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm
chủ doanh nghiệp tư nhân”.
Như vậy Doanh nghiệp tư nhân có các đặc điểm sau đây:
Thứ nhất, doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ DN tư nhân được
xếp với các loại hình công ty nhà nước, công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên thành nhóm các doanh nghiệp một chủ sở hữu Biểu hiện cụ thể đó là: Chủ DN tư nhân bỏ toàn bộ số vốn ra thành lập DN, tự quyết định việc quản lý DN, thu toàn bộ lợi nhuận có được nếu có Nguồn vốn để doanh nghiệp thành lập, hoạt động đó là của một mình chủ DN Chủ DN là người chủ sở hữu duy nhất và là người đại diện theo pháp luật của DN, vì thế được toàn quyền quyết định mọi vấn đề của DN Đây chính là ưu điểm lớn nhất của DN tư nhân so với các hình thức khác Chủ DN có toàn quyền định đoạt tài sản cũng như quyết định việc tổ chức, quản lý DN, có thể tự mình quản lý DN hoặc thuê người khác quản lý DN là của một mình chủ sở hữu vì vậy toàn bộ lợi nhuận thu được sẽ thuộc về một mình chủ sở hữu doanh nghiệp Đây cũng chính là lý do khiến không ít nhà đầu tư muốn lựa chọn hình thức này khi bắt tay vào đầu tư Tuy nhiên, mặt trái của những ưu điểm này lại chính là những nhược điểm làm cho nhiều người thấy
lo ngại Đó là việc chỉ có duy nhất cá nhân hưởng lợi nhuận thì đồng nghĩa với việc duy nhất cá nhân gánh chịu những rủi ro xảy ra đối với doanh nghiệp
Thứ hai, chủ DN tư nhân chịu trách nhiệm vô hạn trước những khoản nợ phát sinh trong quá
trình hoạt động Nếu xảy ra thua lỗ thì chủ DN phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình, kể cả những tài sản không đưa vào kinh doanh, chứ không như các loại hình DN khác khi nhà đầu tư chỉ chịu trách nhiệm trong phạm vi phần vốn đã đăng ký với cơ quan đăng ký kinh doanh Đây là hạn chế lớn nhất khiến mỗi nhà đầu tư khi có ý định lựa chọn loại hình DN này đều phải xem xét đến
Thứ ba, doanh nghiệp tư nhân không có tư cách pháp nhân Dựa theo quy định của Điều 79
BLDS 2005 Lào thì chủ thể có tư cách pháp nhân khi chủ thể đó có tài sản riêng rõ ràng và chịu trách nhiệm bằng chính tài sản đó DN tư nhân không thỏa mãn được điều này Việc không có
tư cách pháp nhân là điểm đặc trưng của DN tư nhân Như vậy, LDN 2005 của Lào không thừa nhận tư cách pháp nhân cho doanh nghiệp tư nhân
1.2 Công ty hợp danh
Trang 5Theo quy định tại Điều 142 LDN Lào quy định: “Công ty hợp danh có tư cách pháp nhân.
LDN 2005 của Lào đã trao cho công ty hợp danh tư cách pháp nhân, mang lại những thuận lợi cho quá trình tham gia thì trường của công ty; số vốn góp đã cam kết”.
Như vậy, theo quan điểm của các nhà làm luật Lào thì công ty hợp danh gồm hai loại: hợp danh thường và hợp danh hữu hạn
Công ty hợp danh thường chỉ bao gồm các thành viên hợp danh và ít nhất là tồn tại hai thành viên Các thành viên này chịu trách nhiệm vô hạn với các rủi ro của công ty Nếu tài sản của công ty không đủ trang trải cho số nợ của công ty thì các thành viên hợp danh phải chịu trách nhiệm thanh toán hết sợ nợ còn lại của công ty, trách nhiệm này là vô hạn và liên đới Đặc điểm trách nhiệm vô hạn này giống như DN tư nhân, điều này góp phần tạo ra sự an tâm cho các đối tác khi tiến hành làm ăn với công ty hợp danh Tuy nhiên, do pháp luật quy định trong công ty tồn tại ít nhất hai thành viên hợp danh, do đó dù chịu trách nhiệm vô hạn mọi gánh nặng đều được san sẻ giữa các thành viên hợp danh, các thành viên trong công ty vốn là những người quen biết, sẽ “ngồi cùng hội cùng thuyền”
Công ty hợp danh hữu hạn là công ty hợp danh mà trong đó không chỉ có các thành viên hợp danh mà còn có các thành viên góp vốn Thành viên góp vốn chỉ phải chịu trách nhiệm hữu hạn trong số vốn góp đó Xuất phát từ việc tồn tại loại thành viên này mà người ta đặt tên cho công
ty là hợp danh hữu hạn, mục đích là phân biệt nó với công ty hợp danh thường, để từ đó giúp cho các đối tác khi tham gia làm ăn có thể biết rằng trong công ty sẽ tồn tại những thành viên chỉ chịu TNHH Thực tế loại công ty này trên thế giới thường gọi là công ty hợp vốn đơn giản Việc thừa nhận công ty hợp danh hữu hạn là một sự mở rộng pháp luật Lào để thu hút các chủ thể góp vốn vào công ty, tăng khả năng tài chính của công ty.Một mặt, các thành viên hợp danh vẫn giữ quyền quản lý, điều hành công ty, mặt khác họ lại có các thành viên góp vốn chia sẻ gánh nặng tài chính, có nguồn vốn để sử dụng vào kinh doanh và giải quyết các rủi ro
1.3 Công ty TNHH
a Công ty TNHH 2 thành viên trở lên
Điều 34 LDN Lào quy định về công ty TNHH 2 thành viên trở lên như sau:
“ Công ty có tư cách pháp nhân từ ngày được cấp giấy chúng nhận đăng ký kinh doanh Thành
viên có thể là tổ chức cá nhân; số lượng không quá năm mươi; Thành viên công ty chịu trách nhiệm trong phạm vi số vốn góp vào công ty”;
Trang 6Qua quy định trên của LDN Lào, ta có thể rút ra một số đặc điểm cơ bản của công ty TNHH hai thành viên trở lên:
Thứ nhất, công ty là một loại hình doanh nghiệp có tư cách pháp nhân, có tài sản riêng và tài
sản của công ty hoàn toàn tách biệt với tài sản của thành viên
Thứ hai, công ty có tối thiểu 2 thành viên và tối đa 50 thành viên.Việc quy định tối thiểu này
nhằm để phân biệt với công ty TNHH một thành viên, công ty cổ phần;quy định tối đa để giới hạn mức thành viên công ty không quá đông,nếu muốn đông hơn,công ty phải chuyển sang hoạt động theo loại hình công ty cổ phần
Thứ ba, công ty chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ trong phạm vi số vốn góp vào trong
công ty Có nghĩa là dù khoản nợ của công ty là bao nhiêu thì công ty cũng phải gánh chịu trên
cơ sở tài sản của công ty, thành viên chịu trách nhiệm trong số vốn cam kết mà thôi
Thứ tư, công ty không được phát hành cổ phiếu ra công chứng để huy động vốn mà chỉ được
phát hành trái phiếu
Thứ năm, Vốn góp của các thành viên không được thể hiện dưới hình thức cổ phần nên việc
chuyển nhượng cũng gặp khó khăn hơn việc chuyển nhượng vốn ở công ty cổ phần Chỉ khi những thành viên trong công ty không mua hoặc không hết trong thời hạn ba mươi ngày kể từ ngày chào bán thì mới được chuyển nhượng cho người khác không phải là thành viên
Từ những đặc điểm trên cho thấy công ty TNHH thể hiện sự kết hợp của các loại hình công
ty đối nhân và đối vốn Xuất phát từ TNHH nên khi thành lập công ty người ta chủ yêu quan tâm đến số vốn góp của mỗi thành viên chứ không quan tâm đến nhân thân của người đó nhiều lắm, nhưng khi công ty đã đi vào hoạt động thì việc kết nạp thành viên qua chuyển nhượng vốn phải được chấp thuận của thành viên khác bằng cách từ chối mua lại vốn góp của thành viên chuyển nhượng Như vậy, công ty đã thể hiện là loại hình công ty “đóng” chứ không có tính chất “mở” như công ty cổ phần
b Công ty TNHH một thành viên
Theo Điều 55 LDN Lào thì: “Công ty có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng
nhận đăng ký kinh doanh; vốn điều lệ công ty”;
LDN 2005 thừa nhận cá nhân có thể được phép làm chủ công ty, nhưng phải đáp ứng điều kiện tách biệt rõ tài sản của cá nhân với tài sản công ty Như vậy, thông qua cách quy định của
Trang 7LDN Lào thì công ty TNHH một thành viên và DN tư nhân đều do một cá nhân làm chủ sở hữu nhưng giữa hai loại hình này có những điểm khác nhau cơ bản như:
Thứ nhất, công ty TNHH một thành viên có tư cách pháp nhân, mọi hoạt động kinh doanh
đều nhân danh công ty, dựa trên tư cách độc lập của công ty Trong khi DN tư nhân đến nay là loại hình doanh nghiệp duy nhất không được công nhận tư cách pháp nhân
Thứ hai, công ty TNHH một thành viên có sự tách bạch rõ ràng về tài sản còn DN tư nhân lại
không có sự rõ ràng này Tài sản công ty TNHH độc lập với tài sản cá nhân người góp vốn thì tài sản DN tư nhân không tách bạch với tài sản chủ doanh nghiệp tư nhân
Thứ ba, khi xảy ra rủi ro, chủ DN tư nhân chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về
các khoản nợ, nghĩa là khi kinh doanh thì mang cả tài sản của mình ra đánh cược, trong khi đó ở công ty TNHH, chủ sở hữu chỉ phải chịu trách nhiệm trong phần phạm vi vốn góp, nếu DN có phá sản thì chủ DN chỉ mất phần vốn góp này mà thôi
1.4.Công ty cổ phần
Theo Điều 74 LDN Lào, công ty cổ phần là doanh nghiệp như sau: “Có tư cách pháp nhân
từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ trường hợp cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi biểu quyết và cổ đông sáng lập trong ba năm”.
Công ty có tư cách pháp nhân và chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ bằng chính tài sản của mình Công ty cổ phần là loại hình công ty đối vốn điển hình và số vốn của công ty được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần, đây là đặc điểm chỉ có duy nhất ở công ty cổ phần Mặt khác, công ty được phép phát hành nhiều loại chứng khoán, nhờ đó mà công ty có khả năng huy động vốn lớn, do vậy mà công ty có thể kinh doanh ở những lĩnh vực đòi hỏi vốn cao, hay lĩnh vực có độ rủi ro lớn Vì nếu cần vốn, công ty sẽ huy động được vốn dưới nhiều hình thức chỉ trong một thời gian ngắn; nếu có nhiều rủi ro thì rủi ro sẽ được chia sẻ cho nhiều thành viên Vì vậy, đây là một loại hình công ty được ưa chuộng
1.5.Công ty nhà nước
Cùng với các loại hình DN khác, DN nhà nước Lào cũng được quy định trong LDN 2005, theo đó DN nhà nước được hiểu là những cơ sở sản xuất kinh doanh do nhà nước sở hữu toàn
bộ hay một phần vốn góp trong DN Điều 169 LDN 2005 quy định: “Doanh nghiệp nhà nước
là tổ chức kinh tế do nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, vốn góp chi phối;
Trang 8được tổ chức dưới dạng công ty nhà nước, công ty cổ phần, công ty TNHH” DN nhà nước
được hiểu là những DN nhà nước sở hữu từ 50% số vốn góp trở lên đều được gọi là DN nhà nước Qua quy định của pháp luật Lào, ta có thể nhận ra mộ số đặc điểm của DN nhà nước Lào như sau:
Thứ nhất, về sở hữu DN nhà nước là DN do Nhà nước sở hữu toàn bộ số vốn điều lệ hoặc có
cổ phần, vốn góp chi phối Đó là những DN do nhà nước đầu tư toàn bộ số vốn để thành lập hoặc những DN mà cổ phần hoặc vốn góp của nhà nước chiếm trên 20% vốn điều lệ Như vậy, điểm nổi bật của DN nhà nước là vốn thuộc sở hữu nhà nước hoặc cơ bản thuộc về nhà nước
Thứ hai, quyền quyết định, chi phối đối với DN Nhà nước thông qua đại diện của mình có
toàn quyền quyết định các vấn đề liên quan đến DN như điều lệ DN, việc bổ nhiệm, miễn nhiệm các chức danh, việc tổ chức quản lý các vấn đề quan trọng của doanh nghiệp
Thứ ba, tư cách pháp lý, trách nhiệm tài sản của DN Doanh nghiệp có tư cách pháp nhân,
thực hiện hạch toán độc lập, lấy thu bù chi Doanh nghiệp có tài sản riêng và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình (trách nhiệm hữu hạn) Tức là doanh nghiệp nhà nước độc lập về kinh tế và có tư cách pháp lý độc lập
Thứ tư, hình thức tồn tại Doanh nghiệp nhà nước có thể được tổ chức dưới nhiều hình thức
khác nhau, có thể là công ty nhà nước, công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên, công ty TNHH nhà nước hai thành viên trở lên
1.6 Doanh nghiệp liên doanh
Theo Điều 224 LDN Lào, công ty liên doanh là công ty có sự liên kết của nhà nước với tổ chức, cá nhân khác trong nước hoặc nhà nước với tổ chức cá nhân có quốc tịch nước ngoài LDN Lào bắt buộc mọi trường hợp phải có sự xuất hiện của Nhà nước với tư cách là một bên trong liên doanh
LDN Lào yêu cầu phần vốn góp đối với mỗi bên chiếm tỷ lệ bắt buộc là 50% Thực tế doanh nghiệp liên doanh của Lào cũng hoạt động theo các loại hình công ty TNHH hai thành viên trở lên, công ty cổ phần nhưng nhà làm luật Lào vẫn quy định doanh nghiệp liên doanh ở một chương riêng, tiếp tục quy định lại tại Luật đầu tư, dẫn tới việc quy định một vấn đề quá nhiều lần mà không cần thiết
Trang 92.Vốn và chế độ tài chính
2.1 Vốn điều lệ
Vốn điều lệ là số vốn được ghi nhận trong điều lệ khi thành lập công ty, vì do các doanh nghiệp tư nhân khai báo Để tạo nên nguồn vốn này, các thành viên công ty phải đống góp, mức đóng góp của mỗi người cũng được ghi nhận rõ ràng Nhìn chung pháp luật không hạn chế số vốn tối đa, tuy nhiên đối với những lĩnh vực kinh doanh mà pháp luật yêu cầu số vốn pháp định thì vốn điều lệ của doanh nghiệp phải lớn hơn hoặc bằng số vốn pháp định đó
Trong quá trình kinh doanh, doanh nghiệp được quyền tăng hoặc giảm vốn điều lệ nhưng phải thông báo với cơ quan đăng ký kinh doanh Đối với các công ty đối nhân, nhìn chung vấn đề quản lý vốn không chặt chẽ bằng công ty đối vốn Cụ thể, trong DN tư nhân chủ doanh nghiệp tự khai báo với cơ quan đăng ký kinh doanh, thực tế số vốn ấy luân chuyển như thế nào rất khó kiểm soát DN tư nhân cũng có quyền tăng hoặc giảm vốn điều lệ, tuy nhiên, do sự không tách bạch rõ ràng về tài sản DN với chủ sở hữu mà chủ DN chỉ phải khai báo với cơ quan đăng ký kinh doanh khi vốn điều lệ đã giảm dưới mức đã đăng ký ban đầu Nhưng thực tế, số vốn điều lệ chỉ thực sự quan trọng với việc tăng khả năng làm ăn của chủ DN, bởi nếu số vốn cao thì nó thể hiện tiềm lực tài chính của DN, góp phần khẳng định giá trị DN với các đối tác Dù đăng ký số vốn là bao nhiêu thì khi xảy ra rủi ro DN tư nhân vẫn phải chịu trách nhiệm vô hạn đối với khoản nợ ấy Mặt khác, tài sản DN với tài sản chủ sở hữu không tách bạch rõ ràng, vì vậy việc khai báo vốn điều lệ hầu như dựa trên thông báo của chủ DN, do đó mà chủ DN thường đưa ra số vốn khá lớn Theo Điều 142 LDN Lào thì công ty hợp danh là loại hình công
ty đối nhân, không được quyền phát hành bất cứ một loại chứng khoán nào để huy động vốn trong công chúng So với DN tư nhân, công ty hợp danh có nhiều thành viên hơn, ít nhất cũng phải tồn tại hai thành viên hợp danh, vì vậy nếu DN tư nhân tăng vốn điều lệ khi chủ DN chủ động tăng thêm thì công ty hợp danh tăng vốn bằng cách kết nạp thêm thành viên mới, hoặc tăng phần vốn góp của các thành viên Số vốn này được ghi nhận trong điều lệ công ty, các thành viên sẽ được hưởng lợi nhuận tương ứng góp vào vốn điều lệ (khoản 2 Điều 145 LDN Lào) Nếu công ty muốn kinh doanh ở những lĩnh vực yêu cầu vốn pháp định thì mức vốn điều lệ thấp nhất phải bằng số vốn pháp định
Quy định về vốn trong công ty TNHH được ghi nhận tại Điều 34, Điều 38 đến Điều 42 LDN Lào Công ty TNHH 2 thành viên trở lên được quyền tăng hoặc giảm vốn điều lệ Để tăng vốn điều lệ công ty có thể tiếp nhận vốn góp của thành viên mới, hoặc điều chỉnh mức vốn góp của các thành viên Ngoài ra mức vốn này còn tăng theo tỷ lệ tăng tương ứng trong giá trị tài
Trang 10sản của công ty Để giảm vốn điều lệ thì công ty có thể hoàn trả một phần vốn góp cho các thành viên của mình, hoặc giảm vốn theo mức giảm của giá trị tài sản công ty Khi tăng hoặc giảm vốn này phải thông báo đến cơ quan đăng ký kinh doanh, khi giảm vốn phải có báo cáo tài chính kèm theo Nhưng công ty TNHH một thành viên không được giảm vốn điều lệ, bởi công
ty chỉ có một thành viên Vì vậy nếu DN giảm vốn, thì chủ DN có thể lạm dụng để sử dụng vào các mục đích cá nhân; mặt khác công ty chỉ chịu TNHH, vì vậy, khi đứng trước rủi ro, việc cho phép giảm vốn sẽ dẫn tới chủ thể rút vốn trước, ảnh hưởng tới việc trả nợ cho các chủ thể có quyền khác
Trong các loại hình công ty, công ty cổ phần là loại công ty điển hình cho chế độ đối vốn Vì vậy, các vấn đề quản lý vốn đặt ra khá chặt chẽ với công ty Khi thành lập công ty phải có vốn điều lệ, trong Điều lệ công ty phải ghi đúng số vốn điều lệ Điểm đặc biệt chỉ tồn tại ở công
ty cổ phần là vốn điều lệ của công ty phải được thể hiện dưới hình thức cổ phần Các cổ đông sáng lập phải cùng nhau nắm giữ ít nhất 20% số cổ phần phổ thông được chào bán của công ty Bởi công ty cổ phần được quyền huy động vốn rất lớn, do rất nhiều chủ thể khác nhau nắm giữ, và việc chuyển nhượng vốn cũng khá tự do Vì vậy, để kiểm soát số vốn điều lệ thực của công
ty, pháp luật quy định tỷ lệ 20% này Vốn điều lệ của công ty có thể có một phần là cổ phiếu ưu đãi (Điều 74, Điều 80 LDN Lào)
Doanh nghiệp nhà nước hay công ty liên doanh Lào được tổ chức theo mô hình nào thì tuân theo quy định của pháp luật về mô hình đó Riêng công ty nhà nước, xuất phát từ đặc điểm toàn bộ số vốn công ty là của Nhà nước, do đó khi đưa vào thành vốn điều lệ công ty thì nhà nước sử dụng trong phạm vi số vốn đó để kinh doanh, và chịu trách nhiệm rủi ro trong phạm vi số vốn đó Trong công ty nhà nước thì 100% vốn đầu tư đều thuộc sở hữu nhà nước, chủ thể được giao sử dụng phải quản lý và sử dụng hiệu quả nguồn vốn này theo các mục đích hoạt động của công
ty Doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam là các loại hình công ty theo LDN nên vấn đề vốn và chế độ tài chính riêng không được đặt ra
2.2.Chế độ tài chính
Chế độ tài chính được hiểu là những vấn đề liên quan đến sử dụng vốn của công ty, việc quản lý ghi chép sổ sách Đối với LDN Lào chế độ tài chính quy định sau:
Đối với doanh nghiệp tư nhân, chủ DN chính là người khai báo, chịu trách nhiệm về chế độ tài chính của doanh nghiệp Trong mọi thời điểm kinh doanh, chủ DN tư nhân có thể điều chuyển giữa tài sản DN với tài sản của chủ sở hữu, không có giới hạn nào Hầu như nhà nước tạo ra một cơ chế rất thoáng đối với DN tư nhân trong việc quản lý nguồn vốn Đối với công ty