Thu nhập chịu thuế từ kinh doanh trong các trường hợp cụ thể được xác định theo quy định tại Điều 10 Luật TNCN năm 2007 như sau * Đối với cá nhân kinh doanh thực hiện đầy đủ chế độ kế to
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Xã hội và kinh tế ngày càng phát triển, các khoản thu nhập cá nhân (TNCN) cũng theo đó ngày càng phong phú, tuy nhiên, thực tế không phải toàn bộ các khoản thu nhập đều là đối tượng điều chỉnh của thuế thu nhập cá nhân (TNCN) Thuế thu nhập cá nhân chỉ điều chỉnh phần thu nhập chịu thuế Thu nhập chịu thuế trong thuế TNCN thường được xác định là phần thu nhập làm cơ sở đánh thuế thu nhập và được xác định trên cơ sở phần thu nhập thực tế nhận được đã trừ một số khoản thu nhập và chi phí hợp lý Tuy nhiên,
để có cái nhìn toàn diện hơn về vấn đề thu nhập chịu thuế trong thuế TNCN, nhóm chúng em xin được lựa
chọn đề tài “Phân tích và làm sáng tỏ quy định của pháp luật về thu nhập chịu thuế trong thuế thu nhập cá nhân; những hạn chế, hướng khắc phục khi xác định thu nhập chịu thuế khi tuân thủ pháp luật thuế thu nhập cá nhân.” làm đề tài cho bài tập nhóm lần thứ II, nhằm qua việc tìm hiểu, nghiên cứu các quy định của
pháp luật thuế TNCN, chúng em phần nào có thể nhận ra một số hạn chế để qua đó sẽ đề ra, kiến nghị một
số giải pháp khắc nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật
I Khái quát về thuế thu nhập cá nhân (TNCN), thu nhập chịu thuế của thuế TNCN
1.1 Khái niệm thuế thu nhập cá nhân
Bất kỳ một quốc gia nào có nền kinh tế vận động theo cơ chế thị trường cũng đều coi thuế TNCN là một sắc thuế có tầm quan trọng lón trong việc huy động nguồn thu cho ngân sách nhà nước và thực hiện công bằng xã hội Ở Việt Nam, thuế TNCN dần được thực hiện theo thời gian Từ 1991-trước 2009, để phù hợp với tình hình thực tế, thuế TNCN ở Việt Nam được quy định dưới hình thức thuế thu nhập đối với người
có thu nhập cao Từ 01/01/2009, Luật thuế TNCN chính thức có hiệu lực, đánh dấu bước phát triển quan trọng của sắc thuế này Theo đó khái niệm thuế TNCN ở Việt Nam cũng dần được bổ sung đầy đủ như sau:
“Thuế TNCN là khoản đóng góp bằng tiền mà cá nhân có đủ điều kiện theo luật định phải nộp cho nhà nước theo nguyên tắc bắt buộc, không hoàn trả khi phát sinh thu nhập chịu thuế trong kỳ tính thuế”.
Qua đó, có thể thấy rằng thuế TNCN là một loại thuế trực thu vì nó đánh trực tiếp vào thu nhập của
cá nhân Với loại thuế này, cá nhân khó có thể chuyển gánh nặng thuế sang cho chủ thể khác.
1.2 Khái niệm thu nhập chịu thuế.
Có thể hiểu thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân là các khoản thu nhập phát sinh từ kinh doanh, từ lao động và từ các khoản thu nhập khác không từ kinh doanh của các cá nhân mà đây chính là cơ sở cho việc đánh thuế thu nhập và được xác định trên cơ sở các khoản thu nhập nhận được sau khi đã trừ đi một số khoản thu nhập và chi phí Thu nhập chịu thuế có những đặc điểm chính như sau:
Thứ nhất, thu nhập chịu thuế luôn luôn gắn với một chủ thể nhất định trong nền kinh tế -thể hiện tính
sở hữu của thu nhập pháp luật quy định chủ thể nộp thuế thu nhập cá nhân bao gồm:cá nhân cư trú và cá nhân không cư trú có thu nhập chịu thuế phát sinh trong lãnh thổ Việt Nam, được quy định tại Điều 3 Luật thuế TNCN 2007.
Thứ hai, thu nhập chịu thuế là thu nhập phát sinh của mỗi cá nhân Các loại thuế khác như thuế giá trị
gia tăng đánh vào hành vi tiêu dùng của người chịu thuế trả một phần thu nhập do hành vi tiêu dùng Đặc điểm này gây tâm lý muốn thoái thác nghĩa vụ đóng thuế, cá nhân thuộc diện nộp thuế cho rằng những thu nhập của họ là do quá trình lao động, sáng tạo mới có lại phải nộp cho nhà nước nên tình trạng gian lận, trốn thuế TNCN thường chiếm tỷ lệ cao, đặc biệt là những nước có trình độ quản lý thuế còn hạn chế, ý thức chấp hành pháp luật của người dân thấp Đây chính là sự khác biệt giữa thuế đánh vào TNCN so với loại thuế khác.
Trang 2Thứ ba, thu nhập chịu thuế thường là những khoản thu nhập hợp pháp, đã thực tế phát sinh, có tính
phổ biến và nhà nước có thể kiểm soát được nhằm đảm bảo tính khả thi, tính công bằng cho các đối tượng nộp thuế, nguồn thu ổn định cho ngân sách nhà nước.
Thứ tư, thu nhập chịu thuế làm cơ sở cho việc tính thuế thu nhập và các khoản thu nhập chịu thuế ở
mỗi quốc gia khác nhau thì không giống nhau, phụ thuộc vào nguồn gốc phát sinh của các khoản thu nhập
và căn cứ vào đặc điểm cư trú hay một số điểm khác tùy theo luật từng nước.
II Quy định pháp luật về thu nhập chịu thuế của thuế TNCN
2.1 Phân loại thu nhập chịu thuế (TNCT)
Để giải quyết sự bất công bằng thu nhập chịu thuế (TNCT) của Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao, luật thuế thu nhập cá nhân không chia TNCT thành 2 loại thu nhập thường xuyên và thu nhập không thường xuyên, mà chia TNCT thành các 10 loại sau theo quy định tại Điều 3 Luật thuế TNCN:
“1 Thu nhập từ kinh doanh, bao gồm:
a) Thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ;
b) Thu nhập từ hoạt động hành nghề độc lập của cá nhân có giấy phép hoặc chứng chỉ hành nghề theo quy định của pháp luật.
2 Thu nhập từ tiền lương, tiền công, bao gồm:
a) Tiền lương, tiền công và các khoản có tính chất tiền lương, tiền công;
b) Các khoản phụ cấp, trợ cấp, trừ các khoản phụ cấp, trợ cấp theo quy định của pháp luật về ưu đãi người có công, phụ cấp quốc phòng, an ninh, phụ cấp độc hại, nguy hiểm đối với những ngành, nghề hoặc công việc ở nơi làm việc có yếu tố độc hại, nguy hiểm, phụ cấp thu hút, phụ cấp khu vực theo quy định của pháp luật, trợ cấp khó khăn đột xuất, trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, trợ cấp một lần khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi, trợ cấp do suy giảm khả năng lao động, trợ cấp hưu trí một lần, tiền tuất hàng tháng, trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm theo quy định của Bộ luật lao động, các khoản trợ cấp khác do Bảo hiểm xã hội chi trả, trợ cấp giải quyết tệ nạn xã hội;
c) Tiền thù lao dưới các hình thức;
d) Tiền nhận được từ tham gia hiệp hội kinh doanh, hội đồng quản trị, ban kiểm soát, hội đồng quản
lý và các tổ chức;
đ) Các khoản lợi ích khác mà đối tượng nộp thuế nhận được bằng tiền hoặc không bằng tiền;
e) Tiền thưởng, trừ các khoản tiền thưởng kèm theo các danh hiệu được Nhà nước phong tặng, tiền thưởng kèm theo giải thưởng quốc gia, giải thưởng quốc tế, tiền thưởng về cải tiến kỹ thuật, sáng chế, phát minh được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận, tiền thưởng về việc phát hiện, khai báo hành vi vi phạm pháp luật với cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
3 Thu nhập từ đầu tư vốn, bao gồm:
a) Tiền lãi cho vay;
b) Lợi tức cổ phần;
c) Thu nhập từ đầu tư vốn dưới các hình thức khác, trừ thu nhập từ lãi trái phiếu Chính phủ.
Trang 34 Thu nhập từ chuyển nhượng vốn, bao gồm:
a) Thu nhập từ chuyển nhượng phần vốn trong các tổ chức kinh tế;
b) Thu nhập từ chuyển nhượng chứng khoán;
c) Thu nhập từ chuyển nhượng vốn dưới các hình thức khác.
5 Thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản, bao gồm:
a) Thu nhập từ chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất;
b) Thu nhập từ chuyển nhượng quyền sở hữu hoặc sử dụng nhà ở;
c) Thu nhập từ chuyển nhượng quyền thuê đất, thuê mặt nước;
d) Các khoản thu nhập khác nhận được từ chuyển nhượng bất động sản.
6 Thu nhập từ trúng thưởng, bao gồm:
a) Trúng thưởng xổ số;
b) Trúng thưởng trong các hình thức khuyến mại;
c) Trúng thưởng trong các hình thức cá cược, casino;
d) Trúng thưởng trong các trò chơi, cuộc thi có thưởng và các hình thức trúng thưởng khác.
7 Thu nhập từ bản quyền, bao gồm:
a) Thu nhập từ chuyển giao, chuyển quyền sử dụng các đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ;
b) Thu nhập từ chuyển giao công nghệ.
8 Thu nhập từ nhượng quyền thương mại.
9 Thu nhập từ nhận thừa kế là chứng khoán, phần vốn trong các tổ chức kinh tế, cơ sở kinh doanh, bất động sản và tài sản khác phải đăng ký sở hữu hoặc đăng ký sử dụng.
10 Thu nhập từ nhận quà tặng là chứng khoán, phần vốn trong các tổ chức kinh tế, cơ sở kinh doanh, bất động sản và tài sản khác phải đăng ký sở hữu hoặc đăng ký sử dụng.
Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Điều này.”
Như vậy, không những thay đổi tiêu chí phân chia các loại TNCT, Luật thuế TNCN còn mở rộng diện thu nhập để tính thuế, bao gồm cả thu nhập từ chuyển nhượng vốn, lợi tức cổ phần, tài sản thực tế là cổ phần, trái phếu, quyền sử hữu công ty, nhà đất Một số thay đổi đáng kể nữa là việc xóa bỏ luật thuế chuyển quyền sử dụng đất và đưa thu nhập từ hoạt động chuyển quyền sử dụng đất vào điều chỉnh thống nhất trong luật thuế TNCN.
Liên quan đến TNCT từ chuyển nhượng, thừa kế, quà tặng có một quy định đáng chú ý là luật thuế TNCN quy định miễn thuế đối với thu nhập từ chuyển nhượng thừa kế, quà tặng giữa vợ với chồng; cha mẹ đẻ; cha mẹ nuôi; mẹ nuôi với con đẻ, con nuôi; cha chồng mẹ chồng với con dâu; cha vợ mẹ vợ với con rể; ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại với cháu nội, cháu ngoại; anh chị em ruột với nhau.
2.2 Cách xác định các khoản TNCT theo quy định của pháp luật thuế TNCN
2.2.1 Xác định TNCT từ kinh doanh
Trang 4TNCT từ kinh doanh của cá nhân cư trú được xác định bằng doanh thu trừ các khoản chi phí hợp lý theo quy định và liên quan trực tiếp đến việc tạo ra TNCT trong kỳ tính thuế Thu nhập chịu thuế từ kinh doanh trong các trường hợp cụ thể được xác định theo quy định tại Điều 10 Luật TNCN năm 2007 như sau
* Đối với cá nhân kinh doanh thực hiện đầy đủ chế độ kế toán hóa đơn, chứng từ, thu nhập chịu thuế được xác định:
TNCT= Doanh thu - Các khoản chi phí hợp lý liên quan đến việc tạo ra thu nhập chịu thuế từ kinh doanh trong kỳ tính thuế.
Trong đó:
- Doanh thu là toàn bộ tiền bán hàng, tiền gia công, tiền hoa hồng, tiền cung ứng hàng hoá, dịch vụ phát sinh trong kỳ tính thuế từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ.
Thời điểm xác định doanh thu là thời điểm chuyển giao quyền sở hữu hàng hoá, hoàn thành dịch vụ hoặc thời điểm lập hoá đơn bán hàng, cung ứng dịch vụ.
- Chi phí hợp lý liên quan đến việc tạo ra thu nhập chịu thuế từ kinh doanh trong kỳ tính thuế.
Việc xác định doanh thu, chi phí dựa trên cơ sở định mức, tiêu chuẩn, chế độ và chứng từ, sổ kế toán theo quy định của pháp luật.
Theo quy định tại Điều 7, Điều 8, Điều 9 Nghị định số 100/2008/NĐ-CP thì, thu nhập chịu thuế từ
kinh doanh được xác định bằng doanh thu tính TNCT - các khoản chi phí hợp lý Trong đó:
- Doanh thu tính TNCT từ kinh doanh là toàn bộ tiền bán hàng, tiền gia công, tiền hoa hồng, tiền cung ứng hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong kỳ tính thuế
- Chi phí hợp lý là các khoản chi thực tế phát sinh và có đủ hóa đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật.
Theo hướng dẫn tại điểm 1.3 khoản 1 mục I phần B Thông tư số 84/2008/TT-BTC thì, TNCT đối
với cá nhân kinh doanh thực hiện đầy đủ chế độ kế toán hóa đơn, chứng từ được xác định theo công thức như sau:
TNCT trong kỳ tính thuế = Doanh thu để tính TNCT trong kỳ tính thuế - Chi phí hợp lý liên quan đến việc tạo ra thu nhập trong kỳ tính thuế + TNCT khác trong kỳ tính thuế.
Trong đó:
- Doanh thu và chi phí được xác định theo sổ sách kế toán hóa đơn chứng từ Trường hợp, cá nhân kinh doanh thuộc đối tượng nộp thuế giá trị gia tăng thì doanh thu làm căn cứ xác định thu nhập chịu thuế phù hợp với doanh thu tính thuế giá trị gia tăng.
- Doanh thu để tính thu nhập chịu thuế từ kinh doanh là toàn bộ số tiền bán hàng hóa, tiền gia công, tiền hoa hồng, tiền cung ứng hàng hóa, dịch vụ sẽ phát sinh trong kỳ tính thuế bao gồm cả khoản trợ giá, phụ thu, phụ trội mà cá nhân kinh doanh được hưởng không phân biệt đã thu được tiền hay chưa thu được tiền.
- TNCT khác là các khoản thu nhập phát sinh trong quá trình kinh doanh như: tiền phạt vi phạm hợp đồng; tiền phạt do chậm thanh toán; tiền lãi ngân hàng trong quá trình thanh toán, tiền lãi do bán hàng trả chậm, trả góp, tiền lãi do bán tài sản cố định; tiền bán phế liệu, phế phẩm
Trang 5Việc xác định doanh thu, chi phí dựa trên cơ sở định mức, tiêu chuẩn, chế độ và chứng từ, sổ kế toán theo quy định của pháp luật Trường hợp nhiền người cùng tham gia trong một đăng ký kinh doanh thì thu nhập chịu thuế của mỗi người được xác định theo một trong các nguyên tắc sau đây:
- tính theo tỷ lệ vốn góp của từng cá nhân ghi trong đăng ký kinh doanh;
- tính theo thỏa thuận giữa các cá nhân ghi trong đăng ký kinh doanh;
- tính bằng bình quân thu nhập đầu người trong trường hợp đăng ký kinh doanh không xác định tỷ lệ vốn góp hoặc không có thỏa thuận phân chia thu nhập giữa các cá nhân.
* Đối với cá nhân kinh doanh không thực hiện chế độ kế toán hóa đơn, chứng từ nộp thuế theo phương pháp khoán, thu nhập chịu thuế thuế thu nhập cá nhân được xác định:
Theo quy định tại khoản 6 Điều 10 Luật thuế TNCN năm 2007, trường hợp cá nhân kinh doanh chưa tuân thủ đúng chế độ kế toán, hóa đơn, chứng từ mà không xác định được doanh thu, chi phí và thu nhập chịu thuế thì cơ quan Thuế có thẩm quyền ấn định doanh thu, tỷ lệ TNCT để xác định TNCT phù hợp với từng ngành, nghề sản xuất, kinh doanh theo quy định của pháp luật về quản lý thuế.
Theo quy định tại Điều 10 Nghị định số 100/2008/NĐ-CP thì, đối với những trường hợp này, căn cứ vào kết quả ấn định thu nhập chịu thuế, cơ quan Thuế xác định mức thuế khoán theo nguyên tắc, trình tự, thủ tục quy định tại Điều 38 Luật quản lý thuế.
Theo hướng dẫn tại điểm 1.1 khoản 1 mục I phần B Thông tư số 84/2008/TT-BTC thì, thu nhập chịu thuế TNCN đối với cá nhân kinh doanh không thực hiện chế độ kế toán hóa đơn, chứng từ nộp thuế theo phương pháp khoán, được xác định theo công thức
TNCT= Doanh thu ấn định trong kỳ tính thuế x Tỷ lệ thu nhập chịu thuế ấn định.
Doanh thu ấn định được xác định căn cứ vào kê khai của cá nhân kinh doanh, kết quả điều tra của cơ quan thuế và ý kiến tham gia của hội đồng tư vấn thuế xã, phường.
* Đối với cá nhân kinh doanh chỉ hạch toán được doanh thu bán hàng hóa, dịch vụ, không hạch toán, xác định được chi phí
Theo quy định tại khoản 6 Điều 10 Luật thuế TNCN năm 2007 trường hợp cá nhân kinh doanh chưa tuân thủ đúng chế độ kế toán, hóa đơn, chứng từ mà không xác định được doanh thu, chi phí và thu nhập chịu thuế thì cơn quan Thuế có thẩm quyền ấn định doanh thu tỷ lệ TNCTđể xác định TNCT phù hợp với từng ngành, nghề sản xuất, kinh doanh theo quy định của pháp luật về quản lý thuế.
Theo quy định tại Điều 10 Nghị định số 100/2008/NĐ-CP, căn cứ vào kết quả ấn định TNCT nêu trên cơ quan Thuế xác định mức thuế khoán theo nguyên tắc, trình tự, thủ tục quy định tại Điều 38 Luật quản
lý thuế.
Theo hướng dẫn tại điểm 1.2 khoản I mục I phần B Thông tư số 84/2008/TT-BTC thì, thu nhập chịu thuế TNCN đối với cá nhân kinh doanh chỉ hạch toán được doanh thu bán hàng, dịch vụ, không hạch toán được chi phí, được xác định theo công thức như sau:
TNCT = Doanh thu để tính TNCT trong kỳ tính thuế x Tỷ lệ thu nhập chịu thuế ấn định.
Trong đó doanh thu để tính TNCT được xác định theo sổ sách kế toán, hóa đơn, chứng từ phù hợp với doanh thu để tính thuế giá trị gia tăng.
Tổng cục thuế quy định cụ thể tỷ lệ thu nhập chịu thuế trên doanh thu để áp dụng, đối với trường hợp
cá nhân kinh doanh không hạch toán được chi phía hoặc không hạch toán kế toán.
Trang 6Quy định như vậy nhằm thực hiện điều tiết bình đẳng thu nhập cá nhân và không phân biệt thu nhập từ kinh doanh hay thu nhập từ tiền lương, tiền công tạo ra sự thống nhất trong các quy định của pháp luật, đúng như bản chất vốn có của nó, tạo ra sự công bằng trong nghĩa vụ nộp thuế của cá nhân.
Việc chuyển thu nhập từ kinh doanh của cá nhân sang chịu sự điều chỉnh của Luật thuế TNCN là phù hợp với thông lệ quốc tế, cũng thuận tiện cho việc so sánh, đối chiếu pháp luật các nước về vấn đề phục vụ cho hoạt động liên quan, nghiên cứu khoa học
Lưu ý: đối với cá nhân có TNCT từ tiền lương, tiền công và vừa có TNCT từ kinh doanh thì TNCT sẽ là
tổng TNCT từ tiền lương, tiền công cộng với TNCT từ kinh doanh.
Bên cạnh đó, theo quy định tại khoản 2 Điều 10 Luật thuế TNCN năm 2007, khoản 1 Điều 8 Nghị định số 100/2008/NĐ-CP thì, thời điểm xác định doanh thu là thời điểm chuyển giao quyền sở hữu hàng hóa, hoàn thành cung ứng dịch vụ hoặc thời điểm lập hóa đơn bán hàng, cung ứng dịch vụ không phân biệt
đã thu được tiền hay chưa thu được tiền
Theo hướng dẫn tại tiết 1.3.1 (a) điểm 1.3 khoản 1 mục I phần B Thông tư số 84/2008/TT-BTC thì thời điểm xác định doanh thu để tính thu nhập chịu thuế từ hoạt động kinh doanh như sau: Đối với hàng hóa
là thời điểm chuyển giao quyền sở hữu hàng hóa hoặc thời điểm lập hóa đơn bán hàng Đối với dịch vụ là thời điểm dịch vụ hoàn thành hoặc thời điểm lập hóa đơn cung ứng dịch vụ.
Trường hợp , thời điểm lập hóa đơn trước thời điểm chuyển giao quyền sở hữu hàng hóa (hoặc dịch
vụ hoàn thành) thì thời điểm xác định doanh thu được tính theo thời điểm lập hóa đơn hoặc ngược lại.
2.2.2 Đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công
Theo quy định tại khoản 2 Điều 3, khoản 1 Điều 11 Luật Thuế TNCN năm 2007; khoản 2 Điều 3; khoản 1 Điều 11 Nghị định số 100/2008/NĐ-CP; khoản 2 mục II phần A, điểm 2.1 khoản2 mục I phần B Thông tư số 84/2008/TT-BTC thì TNCT từ tiền lương, tiền công được xác định bằng tổng số tiền tiền lương, tiền công, tiền thù lao và các khoản thu nhập khác có tính chất tiền lương, tiền công mà người nộp thuế nhận được trong kỳ tính thuế, bao gồm:
a Tiền lương, tiền công và các khoản có tính chất tiền lương tiền công nhận được dưới các hình thức bằng tiền hoặc không bằng tiền;
b Các khoản phụ cấp, trợ cấp, kể cả sinh hoạt phí mà người lao động nhận được trừ các khoản phụ cấp trợ cấp theo quy định của pháp luật được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 3 Nghị định số 100/2008/NĐ-CP và hướng dẫn tại điểm 2.2 khoản 2 mục II phần A Thông tư số 84/2008/TT-BTC, khoản 3 Điều 1 Thông tư số 62/2009/TT-BTC.
c Tiền thu lao nhận được dưới các hình thức như: tiền hoa hồng, tiền môi giới, tiền tham gia các đề tài nghiên cứu khoa học, kỹ thuật; tiền tham gia các dự án, đề án; tiền nhuận bút do viết sách, báo, dịch tài liệu; tiền tham gia các hoạt động giảng dạy; biểu diễn văn hóa, nghệ thuật, thể dục, thể thao; tiền thu được từ các dịch vụ quảng cáo và từ các dịch vụ khác.
d Tiền nhận được từ tham gia hiệp hội kinh doanh, hội động quản trị, ban kiểm soát, hội đồng quản
lý, các hiệp hội, hội nghề nghiệp và các tổ chức khác.
e Các khoản lợi ích khác bằng tiền hoặc không bằng tiền ngoài tiền lương, tiền công do người sử dụng lao động trả hoặc trả hộ đối tượng nộp thuế dưới mọi hình thức.
f Các khoản thưởng như tháng, quý, năm, thưởng đột xuất, thưởng tháng lương thứ 13 bằng tiền hoặc không bằng tiền (kể cả thưởng bằng chứng khoán), trừ một số khoản tiền thưởng mà pháp luật đã quy
Trang 7định tại điểm 2.3 khoản 2 mục II phần A Thông tư số 84/2008/TT-BTC Trường hợp người lao động được thưởng bằng cổ phiếu thì gái trị thưởng được xác định theo mức thưởng ghi trên sổ sách kế toán của đơn vị trả thưởng.
Các khoản thu nhập nêu trêu làm căn cứ xác định TNCT là thu nhập trước khi khấu trừ thuế TNCN (thu nhập trước thuế) Trường hợp thu nhập thực nhận không bao gồm thuế TNCN (thu nhập sau thuế) thì phải quy đổi thành thu nhập trước thuế theo Phụ lục số 01/PL-TNCN ban hành kèm theo Thông tư số 84/2008/TT-BTC.
Về thời điểm xác định TNCT từ tiền lương, tiền công theo quy định tại khoản 2 Điều 11 Luật thuế TNCN năm 2007 quy định: thời điểm xác định TNCT từ đầu tư vốn là thời điểm tổ chức, cá nhân trả thu nhập cho đối tượng nộp thuế hoặc thời điểm đối tượng nộp thuế nhận được thu nhập.
Theo quy định tại khoản 2 Điều 11 Nghị định 100/2008/NĐ-Cp thì, thời điểm xác định TNCT từ tiền lương, tiền công là thời điểm người sử dụng lao động trả tiền lương, tiền công cho người nộp thuế hoặc thời điểm đối tượng nộp thuế nhận được thu nhập.
2.2.3 Đối với TNCT từ đầu tư vốn:
Theo quy định tại khoản 1 Điều 12 Luật thuế TNCN, thì thu nhập chịu thuế từ đầu tư vốn là tổng số thu nhập quy định tại khoản 3 Điều 3 Luật thuế TNCN năm 2007 mà đối tượng nộp thuế nhận được trong
kỳ tính thuế Theo khoản 3 Điều 3 Luật thuế TNCN năm 2007 thì thu nhập từ đầu tư vốn, bao gồm các khoản tiền cho vay (không bao gồm lãi tiền gửi từ ngân hàng, tổ chức tín dụng, lãi từ trái phiếu chính phủ, công trái, tín phiếu kho bạc nhà nước); lợi tức cổ phần; thu nhập từ đầu tư vốn (bằng tiền và không bằng tiền) dưới các hình thức khác, trừ thu nhập từ lãi trái phiếu Chính phủ
Theo hướng dẫn tại khoản 3 mục II phần A Thông tư số 84/2008/TT-BTC và khoản 1 Điều 1 Thông
tư số 12/2011/TT-BTC thu nhập từ đầu tư vốn là khoản thu nhập nhận được từ hoạt động cho cơ sở sản xuất, kinh doanh vay, mua cổ phần hoặc góp vốn sản xuất, kinh doanh dưới các hình thức:
- Tiền lãi nhận được từ các hoạt động cho các tổ chức, doanh nghiệp, hộ gia đình, nhóm cá nhân kinh doanh, cá nhân vay theo hợp đồng vay (trừ lãi tiền gửi nhận được từ ngân hàng, tổ chức tín dụng).
- Lợi tức, cổ tức nhận được từ việc góp vốn cổ phần.
- Lợi tức nhận được do tham gia góp vốn vào công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh, hợp tác xã, liên doanh, hợp đồng hợp tác kinh doanh và các hình thức kinh doanh khác theo quy định của Luật Doanh nghiệp hiện hành và Luật Hợp tác xã hiện hành.
- Phần tăng thêm của giá trị vốn góp nhận được khi giải thể doanh nghiệp, chuyển đổi mô hình hoạt động sáp nhập, hợp nhất doanh nghiệp hoặc khi rút vốn (không bao gồm vốn gốc được nhận lại).
- Thu nhập nhận được từ các khoản lãi trái phiếu, tín phiếu và các giấy tờ có giá khác do các tổ chức trong nước phát hành (kể cả các tổ chức nước ngoài được phép thành lập và hoạt động tại Việt Nam), trừ thu nhập từ lãi trái phiếu do Chính phủ Việt Nam phát hành và thu nhập từ lãi tiền gửi quy định tại điểm 7, mục III, phần A Thông tư số 84/2008/TT-BTC.
- Các khoản thu nhập nhận được từ đầu tư vốn dưới các hình thức khác kể cả trường hợp góp vốn đầu tư bằng hiện vật, bằng danh tiếng, bằng quyền sử dụng đất, bằng phát minh, sáng chế
- Thu nhập từ cổ phiếu trả thay cổ tức.
Trang 8Bên cạnh đó, theo quy định tại khoản 2 Điều 12 Luật thuế TNCN năm 2007 quy định thời điểm xác định thu nhập chịu thuế từ đầu tư vốn là thời điểm tổ chức, cá nhân trả thu nhập cho đối tượng nộp thuế hoặc thời điểm đối tượng nộp thuế nhận được thu nhập.
2.2.4 Đối với TNCT từ chuyển nhượng phần vốn góp
Theo quy định tại khoản 1,2 Điều 13 Luật thuế TNCN năm 2007 thì, TNCT từ chuyển nhượng vốn được xác định bằng giá bán trừ giá mua và các khoản chi phí hợp lý liên quan đến việc tạo ra thu nhập từ chuyển nhượng vốn Trường hợp không xác định được giá mua và chi phí liên quan đến việc chuyển nhượng chứng khoán thì TNCT được xác định là giá bán chứng khoán.
Thời điểm xác định TNCT từ chuyển nhượng phần vốn góp theo quy định tại khoản 3 Điều 13 Luật thuế TNCN năm 2007 là thời điểm giao dịch chuyển nhượng vốn hoàn thành theo quy định của pháp luật Trong đó, thời ddiemr giao dịch chuyển nhượng vốn hoàn thành quy định tại khoản này là thời điểm các bên tham gia chuyển nhượng làm thủ tục khai báo, chuyển quyền sở hữu với cơ quan cấp đăng ký kinh doanh hoặc doanh nghiệp quản lý vốn góp.
2.2.5 Đối với TNCT từ chuyển nhượng bất động sản
Thu nhập chịu thuế từ chuyển nhượng bất động sản được xác định bằng giá chuyển nhượng bất động sản theo từng lần chuyển nhượng trừ giá mua bất động sản và các chi phí liên quan, cụ thể như sau: Trong đó:
- Giá chuyển nhượng bất động sản là giá theo hợp đồng tại thời điểm chuyển nhượng.
- Giá mua bất động sản là giá theo hợp đồng tại thời điểm mua.
- Các chi phí liên quan được trừ căn cứ vào chứng từ, hoá đơn theo quy định của pháp luật, bao gồm các loại phí, lệ phí theo quy định của pháp luật liên quan đến quyền sử dụng đất; chi phí cải tạo đất, cải tạo nhà, chi phí san lấp mặt bằng; chi phí đầu tư xây dựng nhà ở, kết cấu hạ tầng và công trình kiến trúc trên đất; các chi phí khác liên quan đến việc chuyển nhượng bất động sản.
Và trường hợp không xác định được giá mua và chi phí liên quan đến việc chuyển nhượng bất động sản thì thu nhập chịu thuế được xác định là giá chuyển nhượng bất động sản.
Bên cạnh đó, theo quy định tại khoản 4 Điều 14 Luật thuế TNCN năm 2007 thì thời điểm xác định thu nhập chịu thuế từ chuyển nhượng bất động sản là thời điểm hợp đồng chuyển nhượng có hiệu lực theo quy định của pháp luật.
Đối với thu nhập chịu thuế thuế thu nhập cá nhân thì việc đưa khoản thu này thành đối tượng chịu thuế TNCN đã được hoan nghênh của đa số người dân Những năm gần đây thị trường bất động sản tăng mạnh, có thời gian tạo thành cơn lốc đất, cơn sốt nhà, những giao dịch bất động sản mang lại cho cá nhân nguồn thu nhập rất lớn Tuy nhiên lại có hiện tượng đầu cơ nâng giá đất lên quá cao đã làm ảnh hưởng đến
đa số người dân nghèo lao động không có khả năng mua nhà, mua đất trong khi đó một bộ phận rất nhỏ những người mua bán đầu cơ đất đai lại chiếm được những khoản lợi nhuận khổng lồ, nhưng khoản lợi nhuận này chưa có một sắc thuế hoàn chỉnh điều tiết Vì vậy, khi mà khoản thu nhập này chịu sự điều chỉnh của pháp luật, bên cạnh mục tiêu điều tiết thu nhập, tăng thu cho ngân sách nhà nước, nó còn có tác dụng điều tiết thị trường bất động sản vốn đã rất phức tạp ở nước ta thời gian qua.
2.2.6 Đối với TNCT từ trúng thưởng
Trang 9Theo quy định của pháp luật thuế TNCN cụ thể tại Điều 15 Luật thuế TNCN năm 2007 thì thu nhập chịu thuế từ trúng thưởng là phần giá trị giải thưởng vượt trên 10 triệu đồng mà đối tượng nộp thuế nhận được theo từng lần trúng thưởng, không phụ thuộc vào số lần nhận tiền thưởng
Thu nhập từ trúng thưởng bao gồm: trúng thưởng xổ số, trúng thưởng khuyến mại, trúng thưởng từ cá cược, casino, trúng thưởng từ trò chơi, cuộc thi, Trường hợp một giải thưởng nhưng có nhiều người trúng giải thì thu nhập trúng thưởng phân chia cho từng người nhận giải thưởng Trường hợp cá nhân trúng nhiều giải thưởng trong một cuộc thi thì thu nhập trúng thưởng được tính trên tổng giá trị của các giải thưởng.
Thời điểm xác định thu nhập chịu thuế từ trúng thưởng là thời điểm tổ chức, cá nhân trả thu nhập cho đối tượng nộp thuế.
2.2.7 Đối với TNCT từ bản quyền
Quy định đối với TNCT từ bản quyền được quy định cụ thể tại Điều 16 Luật thuế TNCN, theo đó, thu nhập chịu thuế từ bản quyền là phần thu nhập vượt trên 10 triệu đồng mà đối tượng nộp thuế nhận được khi chuyển giao, chuyển quyền sử dụng các đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ theo từng hợp đồng, không phụ thuộc vào số lần thanh toán hoặc số lần nhận tiền mà người nộp thuế nhận được.
Trường hợp cùng một đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ nhưng hợp đồng chuyển giao, chuyển quyền sử dụng thực hiện làm nhiều hợp đồng với cùng một đối tượng sử dụng thì thu nhập chịu thuế là phần thu nhập vượt trên 10 triệu đồng tính trên tổng các hợp đồng chuyển giao Trường hợp đối tượng chuyển giao, chuyển quyền là đồng sở hữu thì thu nhập chịu thuế được chia cho từng cá nhân
sở hữu Tỷ lệ phân chia được căn cứ theo giấy chứng nhận quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Thời điểm xác định thu nhập chịu thuế từ bản quyền là thời điểm tổ chức, cá nhân trả thu nhập cho đối tượng nộp thuế.
2.2.8 Thu nhập chịu thuế từ nhượng quyền thương mại
Theo quy định tại Điều 17 Luật thuế TNCN năm 2007 thì thu nhập chịu thuế từ nhượng quyền thương mại là phần thu nhập vượt trên 10 triệu đồng mà đối tượng nộp thuế nhận được theo từng hợp đồng nhượng quyền thương mại Trường hợp cùng là một đối tượng của quyền thương mại nhưng việc chuyển nhượng thực hiện thành nhiều hợp đồng thì thu nhập chịu thuế là phần vượt trên 10 triệu đồng tình trên tổng các hợp đồng nhượng quyền thương mại.
Thời điểm xác định TNCT từ nhượng quyền thương mại là thời điểm tổ chức, cá nhân trả thu nhập cho đối tượng nộp thuế.
2.2.9.Thu nhập chịu thuế từ thừa kế, quà tặng
Theo Điều 18 Luật thuế TNCT, TNCT từ thừa kế, quà tặng là phần giá trị tài sản thừa kế, quà tặng vượt trên 10 triệu đồng mà đối tượng nộp thuế nhận được theo từng lần phát sinh.
Giá trị tài sản nhận thừa kế, quà tặng được xác định:
- Đối với bất động sản: là giá trị quyền sử dụng đất, thì phần giá trị quyền sử dụng đất được xác định căn cứ vào bảng giá đất do UBND cấp tỉnh quy định tại thời điểm cá nhân hưởng thừa kế làm thủ tục chuyển quyền sử dụng bất động sản.
Trang 10- Đối với bất động sản là nhà ở và công trình kiến trúc trên đất được xác định căn cứ vào quy định của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền về phân loại giá trị nhà; quy định tiêu chuẩn, định mức xây dựng cơ bản do cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền ban hành; giá trị còn lại của nhà, công trình kiến trúc Trường hợp không xác định được the quy định này thì căn cứ vào giá tình lệ phí trước bạ do UBND tỉnh quy định.
- Đối với thừa kế, quà tặng là ô tô, xe máy, tàu thuyền, giá trị tài sản được xác định trên cơ sở bảng giá tính tỷ lệ phí trước bạ do UBND tỉnh quy định tại thời điểm cá nhân nhận được thừa kế, quà tặng.
- Đối với thừa kế, quà tặng là vốn góp trong các tổ chức kinh tế, cơ sở kinh doanh: giá trị của thừa kế, quà tặng là giá trị của phần vốn góp được xác định căn cứ vào sổ sách kế toán, hóa đơn, chứng từ tại thời điểm nhận thừa kế, quà tặng Trường hợp không có sổ sách kế toán, hóa đơn, chứng từ làm căn cứ xác định thì giá trị phần vốn góp được xác định theo giá trị thị trường tại thời điểm nhận.
- Đối với thừa kế, quà tặng là chứng khoán:
Đối với chứng khoán đã niêm yết thì giá trị của chứng khoán được căn cứ vào giá tham chiếu trên sở giao dịch chứng khoán hoặc trung tâm giao dịch chứng khoán tại ngày nhận thừa kế, quà tặng hoặc ngày gần nhất trước đó.
Đối với chứng khoán của các công ty địa chúng chưa niêm yết nhưng đã thực hiện đăng ký giao dịch tại trung tâm giao dịch chứng khoán căn cứ vào giá tham chiếu tại trung tâm giao dịch ở thời điểm nhận thừa kế, quà tặng hoặc ngày gần nhất trước đó.
Đối với chứng khoán không thuộc các trường hợp trên căn cứ giá trị ghi trên sổ sách kế toán của công ty phát hành loại chứng khoán đó tại ngày nhận thừa kế, quà tặng là chứng khoán,
Mặt khác, thời điểm xác định thu nhập chịu thuế được quy định như sau:
- Đối với thu nhập từ thừa kế là thời điểm đối tượng nộp thuế nhận được thừa kế;
- Đối với thu nhập từ quà tặng là thời điểm tổ chức, cá nhân tặng cho đối tượng nộp thuế hoặc thời điểm đối tượng nộp thuế nhận được thu nhập.
Quy định này nhằm tạo ra sự kiểm soát dòng dịch chuyển tài sản trong xã hội và khuyến khích các cá nhân tự tạo ra thu nhập cho mình, đồng thời đảm bảo công bằng xã hội.
Việc phân loại thu nhập chịu thuế như trên sẽ là cơ sở để đảm bảo việc tính thuế phù hợp với tình hình của nước ta cũng phù hợp với thông lệ quốc tế Hiện nay, Luật Thuế TNCN quy định việc áo dụng thuế suất theo hai hướng: đối với thu nhập từ kinh doanh, tiền công, tiền lương thì việc áp dụng biểu suất lũy tiến từng phần; đối với các khoản thu nhập còn lại thì áp dụng biểu thuế lũy tiến toàn phần Mở rộng diện điều tiết một cách phù hợp trên cơ sở bổ sung một số khoản thu nhập chịu thuế Điều này có ý nghĩa hết sức quan trọng cả
về mặt lập pháp và thực tiễn về lập pháp, những quy định trên góp phần hoàn thiện hệ thông pháp luật về thuế nói chung và thuế TNCN nói riêng; về thực tiễn, việc các quy định càng rõ ràng, chi tiết toàn diện vừa bảo đảm khả năng thực hiện của cơ quan thuế, người nộp thuế, đồng thời hạn chế tối đa tình trạng gian lận, lẩn tránh trách nhiệm về thuế đối với nhà nước.
III Hạn chế trong việc áp dụng pháp luật điều chỉnh thu nhập chịu thuế trong thuế thu nhập cá nhân – Đề xuất pháp lý hoàn thiện
3.1 Hạn chế