Sự thể hiện của quyền tự do kinh doanh trong luật doanh nghiệp năm 2005 Trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung trước đây, sự tồn tại nhu cầu tự do kinh doanh là điều không thể phủ nhận
Trang 1“Công dân có quyền tự do kinh doanh theo quy định của pháp luật” và điều này đã được
cụ thể hóa trong Luật doanh nghiệp 2005
A. Nội dung chính
I. Khái niệm tự do kinh doanh và quyền tự do kinh doanh
Nhìn từ góc độ của những nhà quản trị kinh doanh thì: “Kinh doanh là một hoạt động kinh tế nhằm mục tiêu sinh lời của chủ thể kinh doanh trên thị trường” Dưới lăng kính pháp lý thì: “Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số, hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi” Theo khoản 2 điều 4 Luật Doanh nghiệp 2005
Dù có nhìn kinh doanh dưới bất kì góc độ nào thì khi tiến hành hoạt động kinh doanh phải sử dụng tập hợp các phương tiện, con người, nguồn vốn… và đưa các nguồn lực này vào hoạt động để sinh lời cho doanh nghiệp Nhưng chúng đều có đặc điểm chung là gắn
Trang 2liền với sự vận động của nguồn vốn, một chủ thể kinh doanh không chỉ cần vốn mà cần
cả những cách thức làm cho đồng vốn của mình quay vòng không ngừng, để đến cuối chu
kỳ kinh doanh số vốn lại tăng thêm Mặt khác chủ thể kinh doanh phải có được doanh thu
để bù đắp chi phí và có lợi nhuận
Từ đó, Tự do kinh doanh về thực chất là khả năng của chủ thể được thực hiện những
hoạt động sản xuất, tiêu thụ sản phẩm, cung cấp dịch vụ kinh doanh dưới những hình thức thích hợp với khả năng vốn, khả năng quản lý của mình nhằm thu lợi nhuận
Cũng theo Bộ luật Dân sự Việt Nam 2005 thì: “Quyền là mức độ, phạm vi được phép
xử sự của chủ thể và được nhà nước bảo vệ Do vậy, quyền có thể là một khả năng xử sự của một chủ thể đó có nhữnh cách xử sự nhất định hoặc yêu cầu một người có chung cách xử sự nhất định đối với mình”
Vậy Quyền tự do kinh doanh là quyền cơ bản của những người kinh doanh, được
hiểu là bất cứ một công dân khi có đủ điều kiện có thể được kinh doanh mà không bị một
cơ quan tổ chức hay cá nhân nào có quyền ngăn cấm hoặc hạn chế quyền kinh doanh của
họ Tuy nhiên, công dân có quyền tự do kinh doanh nhưng phải trong khuôn khổ pháp luật, trong sự tôn trọng quyền tự do kinh doanh của người khác
Có thể khẳng định rằng Quyền tự do kinh doanh là một phạm trù pháp lý Dưới góc
độ này quyền tự do kinh doanh được xem xét trên 2 khía cạnh cơ bản:
Dưới góc độ quyền chủ thể, quyền tự do kinh doanh được hiểu là khả năng hành động một cách có ý thức của các chủ thể trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của mình Theo nghĩa này, quyền tự do kinh doanh bao hàm khả năng mà thể nhân hay pháp nhân có thể xử sự như: tự do đầu tư vốn để thành lập doanh nghiệp, tự do lựa chọn
mô hình tổ chức kinh doanh, tự do lựa chọn đối tác để thiết lập quan hệ kinh doanh, tự do cạnh tranh, tự do định đoạt việc giải quyết tranh chấp trong kinh doanh…
Trang 3Dưới góc độ một chế định pháp luật, quyền tự do kinh doanh là một chế định pháp luật bao gồm hệ thống các quy phạm pháp luật và những đảm bảo pháp lý do nhà nước ban hành nhằm tạo điều kiện cho các chủ thể thực hiện quyền tự do kinh doanh của mình.
II. Sự thể hiện của quyền tự do kinh doanh trong luật doanh nghiệp năm 2005
Trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung trước đây, sự tồn tại nhu cầu tự do kinh doanh
là điều không thể phủ nhận, mặc dù sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất lúc đó rất bị hạn chế và phân biệt đối xử Tuy nhiên, do những lý do khác nhau, tự do kinh doanh không được pháp luật công nhận và thực tế nó không tồn tại Trong các văn bản pháp luật cũng như các văn kiện chính thức của Đảng và Nhà nước ta lúc đó rất khó để tìm thấy khái niệm tự do kinh doanh, tự do sở hữu tư liệu sản xuất Khó có thể tồn tại việc kinh doanh đối với cá nhân khi
sở hữu về tư liệu sản xuất chỉ được áp dụng đối với một số hộ kinh doanh cá thể, quy mô không lớn Ngay cả những chủ thể được phép kinh doanh và được Nhà nước ưu tiên và khuyến khích như xí nghiệp quốc doanh (doanh nghiệp nhà nước) cũng không hoàn toàn được tự do kinh doanh Những chỉ tiêu kế hoạch ràng buộc doanh nghiệp trên mọi lĩnh vực như lao động, tiền lương, vật tư, tiêu thụ v.v… đã biến doanh nghiệp thành một cỗ máy thực hiện các nhiệm vụ sản xuất kinh doanh Nếu không biến tự do kinh doanh thành một quyền luật định của công dân, nền kinh tế khó có thể phát triển một cách toàn diện
Để thế chế hóa những tư tưởng, quan điểm, đường lối đổi mới của Đảng thể hiện trong các Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, VII, VIII và cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xă hội, Nhà nước ta đă ban hành nhiều văn bản pháp luật rất quan trọng như Hiến pháp (1992), Luật Doanh nghiệp (2005) và đặc biệt là Bộ luật Dân sự (1995) Những văn bản pháp luật này, ở mức độ khác nhau, đều khẳng định nền kinh
Trang 4tế nước ta hiện nay có cơ cấu nhiều thành phần với sự tồn tại các hình thức sở hữu khác nhau, trong đó có sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất Điều đó nói lên rằng: pháp luật về sở hữu ở nước ta hiện nay đang có xu hướng ngày càng tự do hóa sở hữu tư liệu sản xuất.
Luật Doanh nghiệp năm 1999 được Quốc hội Khoá X, kỳ họp thứ 5 thông qua ngày
12-6-1999, được Chủ tịch nước ký lệnh công bố ngày 26-6-1999 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01-01-2000 Qua hơn 6 năm được áp dụng trong thực tiễn, những kết quả tích cực mà Luật Doanh nghiệp năm 1999 mang lại là không thể phủ nhận Tuy nhiên, cùng với sự thay đổi của điều kiện kinh tế-xã hội, một số nội dung của Luật Doanh nghiệp năm 1999 đã không còn phù hợp Để tạo môi trường pháp lý thực sự thuận lợi công bằng và minh bạch, làm tiền đề để khơi dậy và phát huy mọi nguồn lực trong xã hội, phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế đất nước, Quốc hội Khoá XI tại Kỳ họp thứ 8 đã thông qua Luật Doanh nghiệp mới (sau đây gọi
là Luật Doanh nghiệp năm 2005)
Luật Doanh nghiệp năm 2005 tiếp tục có những đổi mới cơ bản so với Luật Doanh nghiệp năm 1999 theo hướng mở rộng quyền tự do kinh doanh của các tổ chức, cá nhân đã được xác lập từ năm 1990 ở nước ta Luật Doanh nghiệp tư nhân 1990 và Luật Công ty 1990 được coi là các đạo luật khai sinh ra quyền tự do kinh doanh ở Việt Nam Tuy nhiên, quyền tự
do kinh doanh bấy giờ còn nhiều hạn chế Những hạn chế đó của Luật Doanh nghiệp tư nhân, Luật Công ty và Luật Doanh nghiệp 1999 đã được khắc phục trong Luật Doanh nghiệp năm 2005
Quan niệm về quyền tự do kinh doanh và giới hạn quản lý của nhà nước đối với thị trường tiếp tục có những bước phát triển mới Hai mươi năm phát triển thị trường chính là quá trình nhận thức về một vấn đề có vẻ đối nghịch nhau giữa quyền tự do kinh doanh và vai trò quản lý, điều tiết nền kinh tế của nhà nước Với mỗi giai đoạn phát triển, chúng ta lại có những thay đổi, phát triển trong việc nhận định lại nội hàm của quyền tự do kinh doanh Một
lẽ đương nhiên là, khi quyền tự do kinh doanh của doanh nhân được mở rộng, pháp luật phải thay đổi cách thức và nội dung quản lý nhà nước đối với thị trường Với tư cách là nội dung
cơ bản của chính sách và công cụ quản lý kinh tế, pháp luật phải định được giới hạn quản lý
Trang 5nhà nước để không làm tổn hại đến quyền tự do kinh doanh Trên nền tảng của nguyên
tắc “không cấm thì được”, quyền tự do kinh doanh được bảo đảm bằng một nền hành chính
mang tính phục vụ chứ không phải là sự ban phát của cơ chế xin – cho Tư tưởng này ảnh hưởng đến mọi chế định của pháp luật về doanh nghiệp, đặc biệt là chế định về quyền, nghĩa
vụ của doanh nghiệp Bằng các quy định về quyền và nghĩa vụ, pháp luật trao cho doanh nghiệp chủ quyền riêng biệt trong chức năng kinh doanh mà chủ doanh nghiệp đã đăng ký với
cơ quan có thẩm quyền và xác định giới hạn của chủ quyền đó để duy trì trật tự và dung hòa lợi ích của nhiều chủ thể tham gia thị trường
Hiến pháp 1992 có quy định về quyền tự do kinh doanh tại “Điều 57 Công dân có quyền
tự do kinh doanh theo quy định của pháp luật.” Và hiện nay quyền tự do kinh doanh đã được
cụ thể hóa trong các quy định luật doanh nghiệp 2005 cụ thể là Điều 8 về quyền của doanh nghiệp:
1. Tự chủ kinh doanh; chủ động lựa chọn ngành, nghề, địa bàn, hình thức kinh doanh, đầu tư; động mở rộng quy mô và ngành, nghề kinh doanh; được Nhà nước khuyến khích, ưu đãi và tạo điều kiện thuận lợi tham gia sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích
2. Lựa chọn hình thức, phương thức huy động, phân bổ và sử dụng vốn
3. Chủ động tìm kiếm thị trường, khách hàng và ký kết hợp đồng
4. Kinh doanh xuất khẩu, nhập khẩu
5. Tuyển dụng, thuê và sử dụng lao động theo yêu cầu kinh doanh
6. Chủ động ứng dụng khoa học công nghệ hiện đại để nâng cao hiệu quả kinh doanh và khả năng cạnh tranh
7. Tự chủ quyết định các công việc kinh doanh và quan hệ nội bộ
Quyền tự do kinh doanh được thể hiện trước hết ở quyền được thành lập doanh nghiệp Mọi người khi có đủ điều kiện kinh doanh họ sẽ được quyền thành lập doanh nghiệp mà không ai có quyền ngăn cấm hoặc cản trở Cùng với việc có quyền thành lập doanh nghiệp, chủ doanh nghiệp cũng có quyền lựa chọn hình thức đầu tư, nghĩa là họ có thể được thành lập những loại hình doanh nghiệp phù hợp với điều kiện sở thích của họ Đồng thời, doanh nghiệp có quyền lựa chọn phương thức huy động, phân bổ và sự dụng vốn, tiếp đó là tự chủ
Trang 6trong kinh doanh; chủ động lựa chọn ngành nghề, địa bàn, hình thức kinh doanh, đầu tư; chủ động mở rộng quy mô và ngành nghề kinh doanh Trong những quyền tự do kinh doanh này, thì có quyền lựa chọn ngành nghề kinh doanh có tầm quan trọng lớn ở Việt Nam hiện nay Chủ doanh nghiệp có quyền chọn ngành nghề nào là do họ quyết định, không ai ép buộc được
họ phải kinh doanh những ngành trái với ý muốn của họ Tuy nhiên trong thực tế do yêu cầu
cụ thể của từng ngành nghề nên trong một số ngành nghề nhà nước đòi hỏi phải có những điều kiện nhất định khi kinh doanh để đảm bảo cho những mục tiêu của nhà nước Bên cạnh đó, doanh nghiệp còn được Nhà nước khuyến khích, ưu đãi và tạo điều kiện thuận lợi khi tham gia sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích Chủ doanh nghiệp có quyền tự do trong việc đặt tên và tổ chức quản lý phù hợp với loại hình doanh nghiệp đã lựa chọn Chủ doanh nghiệp cũng có quyền tự do hưởng những thành quả lao động do hoạt động kinh doanh của mình đem lại Ngoài ra, nếu chủ doanh nghiệp khi không muốn kinh doanh nữa có quyền bán doanh nghiệp hoặc cho giải thể doanh nghiệp
Các doanh nghiệp cũng có quyền bình đẳng trước pháp luật và đây là một vấn đề thể hiện quyền tự do kinh doanh Trong quá trình hoạt động, doanh nghiệp tham gia vào các quan hệ kinh tế mà chỉ có sự bình đẳng giữa các doanh nghiệp mới đảm bảo cho mối quan hệ này được thực hiện có hiệu quả Quyền bình đẳng của các doanh nghiệp trước hết thể hiện ngay trong việc thành lập: khi thành lập đều theo quy định chung Trong quá trình hoạt động kinh doanh, các doanh nghiệp đương nhiên phải giao dịch với nhau, các bên phải tự nguyện, bình đẳng, nếu có xảy ra lỗi, các doanh nghiệp cùng phải có nghĩa vụ như nhau đối với nhà nước.III. Nội dung cụ thể của quyền tự do kinh doanh trong luật doanh nghiệp Việt Nam
Quyền tự do kinh doanh được hiểu là hệ thống các quyền gắn với chủ thể kinh doanh,
mà chủ yếu và trước hết là:
− Quyền được đảm bảo sở hữu đối với tài sản;
− Quyền tự do thành lập doanh nghiệp (trong đó bao hàm quyền tự do lùa chọn ngành nghề kinh doanh, địa điểm kinh doanh, lựa chọn mô h́ình doanh nghiệp);
Trang 7− Quyền tự do hợp đồng;
− Quyền tự do cạnh tranh theo pháp luật;
− Quyền tự định đoạt trong lĩnh vực giải quyết tranh chấp
Các quyền tự do trên có mối quan hệ hữu cơ tạo thành thể thống nhất của nội dung quyền tự do kinh doanh Quá tŕnh phát triển của nền kinh tế chắc chắn sẽ làm phong phú thêm nội dung của quyền tự do kinh doanh
III.1. Quyền được đảm bảo sở hữu đối với tài sản
Sở hữu là hình thức xă hội của việc chiếm hữu Nó phản ánh mối quan hệ giữa con người với con người trong quá trình sản xuất về việc chiếm hữu những của cải vật chất trong xã hội, mà trước hết là tư liệu sản xuất Các hình thức sở hữu được pháp luật ghi nhận trở thành chế độ sở hữu Chế độ sở hữu là vấn đề cơ bản nhất của một chế độ kinh
tế - xã hội
Đối với quyền tự do kinh doanh thì quyền sở hữu tư liệu sản xuất giữ vị trí vai tṛò quan trọng nhất; nó được coi là nền tảng, là tiền đề cho việc hình thành và thực hiện quyền tự do kinh doanh Chỉ khi được sở hữu tư liệu sản xuất thì người ta mới có thể dùng tài sản đó đầu tư vào hoạt động sản xuất kinh doanh Không ai có thể tiến hành đầu tư để kinh doanh nếu không sở hữu một số tư liệu sản xuất, hàng hóa hay giá trị nhất định Người nắm giữ sở hữu tài sản sẽ nắm quyền quản lý, quyền phân phối thu nhập Điều này đã được thực tiễn chứng minh Ở các nước tư bản chủ nghĩa, sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất được coi là nguyên tắc "bất khả xâm phạm" và gắn liền với nó là quyền tự do kinh doanh được coi là lẽ tự nhiên, là điều "thiêng liêng" mà Nhà nước phải bảo vệ
Ở nước ta cũng như ở các quốc gia xã hội chủ nghĩa trước đây, do nhận thức chủ quan, duy ý chí, chúng ta đã nóng vội thiết lập chế độ công hữu đối với tư liệu sản xuất trên phạm vi toàn xã hội Sở hữu tư nhân đối với tư liệu sản xuất không được thừa nhận,
do đó không tồn tại khái niệm quyền tự do kinh doanh Từ khi chúng ta tiến hành đổi mới mọi mặt trong đời sống kinh tế - xã hội thì quan niệm về quyền sở hữu đã có sự thay đổi
cơ bản Nền kinh tế nước ta là nền kinh tế nhiều thành phần với nhiều hình thức sở hữu
Trang 8khác nhau Sở hữu tư nhân đối với tư liệu sản xuất đã chính thức được thừa nhận Quyền
tự do kinh doanh - quyền cơ bản của công dân - đã chính thức trở thành hiện thực trong đời sống kinh tế - xã hội nước ta
Quyền được đảm bảo sở hữu đối với tài sản có tác động tích cực, mạnh mẽ đến các quyền tự do khác, như: tự do thành lập doanh nghiệp, tự do hợp đồng, tự do cạnh tranh Đối với quyền tự do thành lập doanh nghiệp, đăng ký kinh doanh, quyền sở hữu tư liệu sản xuất đóng vai tṛò quyết định Không ai có thể thành lập doanh nghiệp - đăng ký kinh doanh nếu không có trong tay những tư liệu sản xuất, số vốn nhất định Tư liệu sản xuất, vốn đó phải thuộc quyền sở hữu của người góp vốn, người thành lập doanh nghiệp, người đăng ký kinh doanh Khi thành lập doanh nghiệp, đăng ký kinh doanh, vấn đề sở hữu bao giờ cũng nổi lên hàng đầu Chẳng hạn, như việc thành lập, đăng ký kinh doanh đối với công ty th́ì vấn đề góp vốn, cơ chế góp vốn luôn có ý nghĩa quyết định Theo PGS.TS Lê Hồng Hạnh, "việc góp vốn là cơ sở hình thành sở hữu doanh nghiệp Bản thân vấn đề góp vốn cũng là vấn đề thuần túy mang tính chất sở hữu"
Mặt khác, quyền sở hữu tư liệu sản xuất đã tác động tích cực làm đa dạng hóa, phong phú thêm các loại hình doanh nghiệp Trước đây, pháp luật chỉ thừa nhận sở hữu toàn dân và
sở hữu tập thể nên trong nền kinh tế nước ta hầu hết tồn tại doanh nghiệp nhà nước và hợp tác xã Từ khi pháp luật nước ta thừa nhận nhiều hình thức sở hữu đã xuất hiện nhiều loại hình doanh nghiệp mới như các loại công ty, doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
Đối với quyền tự do hợp đồng thì vai tṛò của quyền sở hữu tư liệu sản xuất càng có vai trò quan trọng Theo lôgíc của hợp đồng thì không ai có thể mua bán, trao đổi hàng hóa, nếu không xác định được sở hữu của người bán đối với tài sản là đối tượng của hợp đồng Trong quá trình kinh doanh, các quan hệ kinh tế được thiết lập bởi sự thúc đẩy của lợi ích Lợi ích chỉ có thể có được khi các quan hệ đó được hình thành trên cơ sở tự do ý chí Sự tự do ý chí trong hợp đồng là biểu hiện của việc thực hiện quyền sở hữu của các chủ thể trong quan hệ hợp đồng Quan hệ hợp đồng chính là sự vận động tự do của vốn
Trang 9và hàng hóa (hợp đồng là hình thức của quan hệ hàng hóa - tiền tệ xét dưới góc độ kinh tế) Suy cho cùng thì bản chất của hợp đồng là sự vận động của quan hệ sở hữu Thực tiễn hoạt động sản xuất kinh doanh ở nước ta hiện nay đă khẳng định vai tṛò của quyền sở hữu tư liệu sản xuất đối với quyền tự do hợp đồng Các quan hệ kinh tế hiện nay đã phát triển sống động, đa dạng (thông qua hợp đồng) trên các lĩnh vực của nền kinh tế trong nước cũng như với nước ngoài; giữa các chủ sở hữu thuộc các thành phần kinh tế khác nhau; giữa các nhà kinh doanh trong nước với các thương gia nước ngoài.
Để thực hiện được quyền sở hữu đối với tư liệu sản xuất thì các điều kiện sau đây cần phải được đáp ứng:
- Mở rộng các đối tượng có khả năng trở thành chủ sở hữu tư liệu sản xuất;
- Quy định nhiều hình thức sở hữu tư liệu sản xuất; các hình thức sở hữu phải được đối xử bình đẳng;
- Tạo cơ sở cho sự phát triển tự giác các hình thức sở hữu tồn tại với những đặc trưng vốn có của chúng;
- Đảm bảo việc chuyển dịch sở hữu được thuận lợi, nhanh chóng, an toàn và sinh lợi;
- Mở rộng khách thể của quyền sở hữu;
- Phải có những biện pháp hữu hiệu để bảo vệ các hình thức sở hữu khác nhau đối với tư liệu sản xuất Chủ sở hữu phải có những biện pháp pháp để bảo vệ quyền sở hữu của mình
III.2. Quyền tự do thành lập doanh nghiệp
Quyền tự do thành lập doanh nghiệp là nội dung cơ bản, quan trọng trong hệ thống các quyền tự do kinh doanh Vị trí, vai trò quan trọng đó được thể hiện ở chỗ công dân muốn trở thành nhà kinh doanh hợp pháp (có tư cách pháp lý hợp pháp) thì họ phải tiến hành đăng ký kinh doanh tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền Khi đã tiến hành đăng
ký kinh doanh (được công nhận tư cách pháp lý) thì lúc đó họ mới có tư cách của nhà kinh doanh và mới được phép tiến hành các hoạt động kinh doanh như: sản xuất, trao đổi, mua bán, thực hiện các dịch vụ Như vậy, quyền tự do thành lập và đăng ký kinh doanh
là cơ sở để cá nhân, pháp nhân được Nhà nước công nhận là chủ thể kinh doanh hợp pháp, là
Trang 10tiền đề để họ tiến hành các hoạt động kinh doanh khác TS Dương Đăng Huệ cho rằng, thủ tục thành lập và đăng ký kinh doanh chưa có nội dung kinh tế, nhưng nó là tất yếu, là cần thiết, là tiền đề để hình thành các quan hệ kinh tế thuần túy - quan hệ sản xuất kinh doanh đích thực.
Nói đến quyền tự do thành lập và đăng ký kinh doanh, chúng ta hiểu rằng đây là quyền của cá nhân hay pháp nhân trong việc tạo lập tư cách pháp luật thông qua các thủ tục thành lập, đăng ký kinh doanh Không ai có quyền can thiệp, ngăn cản trái phép quyền thành lập và đăng ký kinh doanh của họ Đồng thời với quyền của cá nhân, pháp nhân là nghĩa vụ của cơ quan nhà nước phải tạo những điều kiện đảm bảo cho họ thực hiện quyền của mình Vấn đề đặt ra là: cá nhân, pháp nhân muốn có tư cách của nhà kinh doanh hợp pháp lại phải tiến hành thủ tục thành lập và đăng ký kinh doanh Điều này có
vi phạm quyền tự do kinh doanh hay không?
Trước hết, cần khẳng định rằng, việc thành lập và đăng ký kinh doanh là thủ tục hành chính thông thường nhằm thừa nhận tư cách pháp luật cho các nhà đầu tư và thể hiện sự quản lý của Nhà nước đối với các hoạt động kinh tế Khi cá nhân, pháp nhân đã nộp đủ
hồ sơ hợp lệ thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải cấp giấy đăng ký kinh doanh cho
họ Việc cấp giấy đăng ký kinh doanh là góp phần tích cực vào hoạt động quản lý nhà nước, đồng thời cũng chính là bảo vệ lợi ích cho bản thân nhà kinh doanh
Theo TS Dương Đăng Huệ thì "trong xã hội văn minh con người được tự do kinh doanh, nhưng điều đó không có nghĩa là họ không phải làm bất cứ một thủ tục pháp luật nào trước khi trở thành nhà kinh doanh Ở các nước phát triển, thủ tục này đơn giản, gọn nhẹ được thực hiện thông qua hình thức đăng ký kinh doanh"
Gắn liền với quyền thành lập và đăng ký kinh doanh là quyền tự do lựa chọn ngành nghề kinh doanh; hình thức tổ chức trong kinh doanh và địa điểm kinh doanh Khi thực hiện quyền tự do thành lập và đăng ký kinh doanh, các chủ thể kinh doanh đă quyết định lựa chọn ngành nghề kinh doanh cho mình Việc lựa chọn ngành nghề kinh doanh hoàn toàn phụ thuộc vào ý muốn, điều kiện và khả năng của các nhà kinh doanh, dựa trên cơ
Trang 11sở tìm hiểu nhu cầu thị trường Sự lựa chọn này có tác dụng rất lớn đến sự nghiệp kinh doanh của nhà doanh nghiệp trên thương trường Không ai có quyền can thiệp trái phép vào quyền này của họ, bởi lẽ người chịu trách nhiệm về những kết quả kinh doanh chính
là các chủ doanh nghiệp Quyền tự do lựa chọn ngành nghề kinh doanh tạo ra khả năng rộng lớn cho nhà kinh doanh trong việc tìm hiểu nhu cầu thị trường Ngành nghề kinh doanh rất đa dạng, phong phú, có thể là trong công nghiệp, nông nghiệp, ngân hàng, dịch vụ Trong từng lĩnh vực đó lại chia thành những lĩnh vực nhỏ hơn tạo nên sự đa dạng muôn màu muôn vẻ của đời sống kinh doanh, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Quyền tự do lựa chọn ngành nghề kinh doanh cũng bị giới hạn bởi một số lĩnh vực có liên quan đến an ninh quốc phòng, trật tự an toàn xã hội Trên cơ sở lựa chọn ngành nghề kinh doanh, các nhà đầu tư có quyền tự do lựa chọn hình thức tổ chức kinh doanh phù hợp với điều kiện của mình Các nhà đầu tư có thể thành lập và đăng ký kinh doanh theo mô hình công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc doanh nghiệp tư nhân
Một quyền tự do nữa không kém phần quan trọng của các nhà đầu tư là lựa chọn địa điểm kinh doanh Địa điểm kinh doanh là nơi mà họ tiến hành các hoạt động kinh doanh,
nó không chỉ phản ánh tính không gian của hoạt động kinh doanh mà còn có ý nghĩa pháp luật quan trọng
Lựa chọn ngành nghề kinh doanh, hình thức tổ chức trong kinh doanh, địa điểm kinh doanh là những quyết định đầu tiên của nhà kinh doanh Thừa nhận quyền tự do này chính là tôn trọng quyền định đoạt của chủ sở hữu và tạo ra khả năng thuận lợi ban đầu cho sự nghiệp kinh doanh của họ; đồng thời cũng giúp họ trả lời ba câu hỏi cơ bản mà nền kinh tế thị trường đặt ra Đó là "sản xuất cái gì?", "sản xuất như thế nào?" và "sản xuất cho ai?" Lựa chọn ngành nghề kinh doanh và địa điểm kinh doanh chính là việc nhà kinh doanh trả lời câu hỏi "sản xuất cái gì" và "sản xuất cho ai" Lựa chọn hình thức kinh doanh, nhà kinh doanh sẽ giải đáp được câu hỏi "sản xuất như thế nào, bằng cách gì" Tôn trọng quyền tự do kinh doanh xét cho cùng chính là tôn trọng những quy luật trong nền kinh tế thị trường Để đảm bảo quyền tự do thành lập và đăng ký kinh doanh, quyền
Trang 12tự do lựa chọn ngành nghề kinh doanh, địa điểm kinh doanh thì các điều kiện sau đây cần được đáp ứng:
- Phải mở rộng đối tượng được phép kinh doanh;
- Phải có nhiều mô hình tổ chức kinh doanh để nhà đầu tư lựa chọn;
- Thủ tục thành lập và đăng ký kinh doanh phải đơn giản, thuận tiện;
- Nhà nước phải quy định một cách minh bạch những ngành nghề kinh doanh nào bị cấm; những ngành nghề kinh doanh nào phải có điều kiện, điều kiện đó là gì?
Ở nước ta hiện nay, kể từ khi Nhà nước ban hành Luật Doanh nghiệp (có hiệu lực từ 1-1-2000) thì về cơ bản những điều kiện trên đă được đáp ứng
III.3. Quyền tự do hợp đồng
"Buôn có bạn, bán có phường" là yêu cầu khách quan đối với các nhà kinh doanh Để tồn tại và phát triển; các nhà kinh doanh phải thiết lập các quan hệ kinh tế với nhau để trao đổi sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ Các quan hệ kinh tế đó rất đa dạng và phong phú,
nó xuất hiện ở tất cả các khâu của quá trình kinh doanh Việc thiết lập các quan hệ kinh tế được thực hiện thông qua hợp đồng Hợp đồng phản ánh mối quan hệ kinh tế giữa các nhà kinh doanh Đó là mối quan hệ ý chí được xác lập một cách tự nguyện, bình đẳng, cùng có lợi Với ý nghĩa đó, tự do hợp đồng là một trong những nội dung quan trọng của quyền tự do kinh doanh Nó biểu hiện cụ thể, sinh động giá trị hiện thực của quyền sở hữu, quyền tự do thành lập và đăng ký kinh doanh, tự do cạnh tranh
Các quyền sở hữu tư liệu sản xuất, tự do thành lập và đăng ký kinh doanh sẽ mất ý nghĩa nếu như không có tự do hợp đồng Hợp đồng biểu hiện những hành vi kinh doanh
cụ thể Mọi hành vi kinh doanh như: góp vốn thành lập doanh nghiệp, sử dụng lao động, mua sắm máy móc thiết bị, xây dựng, liên doanh liên kết, vay vốn, trao đổi hàng hóa, thực hiện các dịch vụ đều thông qua hợp đồng Chính vì vậy, "hợp đồng có mặt trong bất cứ lĩnh vực nào nếu ở đó có sự chuyển dịch lợi ích" Do đó, đảm bảo quyền tự do hợp đồng chính là điều kiện để thực hiện tốt các quyền tự do khác trong hệ thống các quyền tự do kinh doanh
Trang 13Tóm lại, tự do hợp đồng là quyền của các chủ thể kinh doanh, được thể hiện ở bốn
khía cạnh sau đây:
- Một là, ký kết hợp đồng là quyền của các nhà kinh doanh, không ai có quyền áp
đặt, can thiệp vào quyền này;
- Hai là, các chủ thể kinh doanh có quyền tự do lựa chọn đối tác để thiết lập các
quan hệ kinh doanh;
- Ba là, các chủ thể kinh doanh có quyền thỏa thuận để áp dụng các biện pháp đảm
bảo thực hiện hợp đồng;
- Bốn là, các chủ thể kinh doanh có quyền tự do thỏa thuận thay đổi một số nội
dung trong quá trình thực hiện hợp đồng
III.4. Quyền tự do cạnh tranh lành mạnh
Cạnh tranh là một trong những quy luật của nền kinh tế thị trường Nó có vị trí quan trọng không những với tư cách là động lực của sự phát triển, mà còn với tư cách là yếu tố quan trọng làm lành mạnh các quan hệ kinh doanh Trong cơ chế thị trường, nếu lợi nhuận thúc đẩy các nhà kinh doanh thì cạnh tranh bắt buộc họ phải điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh, sử dụng các nguồn lực (vốn, lao động, kỹ thuật ) có hiệu quả nhất nhằm duy trì sự tồn tại và phát triển sự nghiệp kinh doanh của mình Trong nền kinh tế thị trường, người tiêu dùng và các nhà kinh doanh có quan hệ tác động qua lại lẫn nhau, trong đó người tiêu dùng được coi là "thượng đế" và vì vậy, luôn là đối tượng hướng tới của tất cả các nhà kinh doanh Cạnh tranh có vai trí quan trọng không chỉ đối với bản thân từng nhà kinh doanh mà còn có ý nghĩa đối với cả nền kinh tế nói chung TS.Nguyễn Như Phát cho rằng, cạnh tranh mang lại những lợi ích sau:
- Thứ nhất, đáp ứng thị hiếu và nhu cầu người tiêu dùng;
- Thứ hai, người tiêu dùng nhận được cái họ muốn với giá rẻ;
- Thứ ba, khuyến khích áp dụng công nghệ mới;
- Thứ tư, tạo sức đẩy buộc phải sử dụng có hiệu quả các nguồn lực;
- Thứ năm, tạo sự đổi mới nói chung, thường xuyên và liên tục v́ vậy mang lại tăng
trưởng kinh tế cao
Trang 14Cạnh tranh có nhiều hình thức và được phân ra ở nhiều cấp độ khác nhau như: cạnh tranh hoàn hảo; cạnh tranh không hoàn hảo; cạnh tranh mang tính chất độc quyền; cạnh tranh lành mạnh; cạnh tranh không lành mạnh Ở đâu có kinh tế thị trường thì ở đó có cạnh tranh Tuy nhiên, không phải ở mọi nơi, mọi giai đoạn phát triển thì hình thức, mức
độ cạnh tranh đều giống nhau Mặt khác, quan niệm về cạnh tranh còn phụ thuộc vào đặc điểm truyền thống kinh doanh và pháp luật của mỗi quốc gia Có nhiều định nghĩa khác nhau về cạnh tranh, song nhìn chung cạnh tranh được định nghĩa như sau: "Đó là sự ganh đua, sự kình địch giữa các nhà kinh doanh trên thị trường nhằm tranh giành cùng một loại tài nguyên sản xuất hoặc cùng một loại khách hàng về phía mình"
Định nghĩa trên cho thấy cạnh tranh là thuộc tính tự nhiên của các nhà kinh doanh Vì vậy, nó phải được pháp luật bảo hộ với tư cách là quyền của các nhà kinh doanh và trở thành nội dung không thể thiếu của quyền tự do kinh doanh Cũng cần phải khẳng định rằng, quyền tự do cạnh tranh của các nhà kinh doanh là cạnh tranh lành mạnh Đó là
"hình thức cạnh tranh đẹp, trong sáng và giải thoát được khỏi các thói hư tật xấu trong cuộc sống đời thường Nó đối lập với cạnh tranh không lành mạnh" Trong mối quan hệ với các quyền tự do kinh doanh khác, quyền tự do cạnh tranh có ý nghĩa quan trọng Nó chính là động lực thúc đẩy việc thực hiện các quyền sở hữu tư liệu sản xuất, tự do hợp đồng Ngày nay, hầu như tất cả các quốc gia trên thế giới đều thừa nhận cạnh tranh và đưa ra những đảm bảo pháp luật nhằm thúc đẩy tự do cạnh tranh lành mạnh Để đảm bảo quyền tự do cạnh tranh lành mạnh cho các chủ thể kinh doanh thì các yêu cầu sau đây phải được đảm bảo:
- Phải có hệ thống pháp luật về cạnh tranh hoàn thiện;
- Nhà nước phải có cơ chế kiểm soát giá cả;
- Phải kiểm soát được độc quyền và hạn chế tối đa sự độc quyền, dù đó là độc quyền nhà nước;
- Phải có chế tài nghiêm ngặt đối với các hành vi cạnh tranh không lành mạnh, cạnh tranh bất hợp pháp và các mặt tiêu cực khác của cạnh tranh;
- Phải đảm bảo sự bình đẳng cho các thành phần kinh tế;
III.5. Quyền tự do lựa chọn hình thức và phương thức giải quyết tranh chấp
Trang 15Chuyển sang nền kinh tế thị trường, các quan hệ kinh tế ngày càng phát triển Sự sống động, đa dạng, phức tạp của các quan hệ kinh tế, sự thôi thúc của lợi nhuận, của cạnh tranh làm cho các tranh chấp kinh tế càng trở nên phức tạp hơn Tranh chấp kinh tế
có những đặc thù khác với những tranh chấp trong dân sự Những đặc thù đó là:
- Lĩnh vực phát sinh tranh chấp là lĩnh vực kinh doanh;
- Giá trị tranh chấp thường lớn;
- Tranh chấp trong kinh doanh thông thường mang tính phản ứng "dây chuyền";
- Mức độ ảnh hưởng của tranh chấp là rất lớn, nó tác động xấu đến quá tŕnh kinh doanh, đến trật tự kinh tế nói chung;
Những đặc thù trên đòi hỏi việc giải quyết tranh chấp phải nhằm phúc đáp tối đa yêu cầu cho các nhà kinh doanh Những yêu cầu đó là:
- Phải đảm bảo quyền tự định đoạt ở mức độ cao cho các nhà kinh doanh trong việc giải quyết tranh chấp;
- Việc giải quyết tranh chấp phải được tiến hành nhanh chóng, thuận lợi; hạn chế tới mức tối đa sự gián đoạn của quá tŕnh kinh doanh;
- Đảm bảo dân chủ trong quá trình giải quyết tranh chấp;
- Bảo vệ uy tín, bí mật cho các nhà kinh doanh;
- Đạt hiệu quả thi hành các quyết định của cơ quan tài phán, bảo vệ tốt quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tranh chấp
Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động kinh doanh luôn luôn tiềm ẩn phát sinh các tranh chấp, gắn liền với tranh chấp Do đó, về mặt khách quan phải bảo đảm quyền tự do lựa chọn hình thức, phương thức giải quyết tranh chấp cho các nhà kinh doanh Về mặt lý luận, phải coi đây là công việc "riêng tư" của các nhà kinh doanh, bởi lẽ việc giải quyết tranh chấp trước hết là bảo vệ lợi ích của họ và do đó, họ có quyền tự định đoạt Cơ chế thị trường luôn gắn liền với sự tự do thỏa thuận và tự chịu trách nhiệm, Nhà nước chỉ can thiệp khi họ yêu cầu Vì vậy, quyền tự do lựa chọn hình thức và phương thức giải quyết tranh chấp kinh tế là một bộ phận trong tổng thể quyền tự do kinh doanh Quyền này thể hiện ở chỗ, khi có tranh chấp xảy ra, các bên có quyền quyết định đưa vụ tranh chấp đó ra
Trang 16trước cơ quan có thẩm quyền để giải quyết hay không cũng như lựa chọn cơ quan nào và giải quyết theo thủ tục nào.
Như vậy, khi có tranh chấp xảy ra, các bên có thể tự thương lượng, hòa giải để giải quyết tranh chấp hoặc có thể đưa ra Tòa án hay trọng tài để giải quyết vụ việc, nếu thấy thuận lợi cho mình Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, với sự tồn tại và phát triển đa dạng các hình thức tổ chức kinh doanh thuộc nhiều thành phần kinh tế thì tính chất của các tranh chấp đã có sự thay đổi Đây không c̣òn là tranh chấp giữa các "đồng chí" với nhau mà là tranh chấp giữa các chủ sở hữu khác nhau với những lợi ích khác nhau Do vậy, phải tôn trọng quyền tự do cho các nhà kinh doanh trong việc giải quyết tranh chấp,
đó chính là biện pháp bảo đảm quyền sở hữu tài sản, quyền tự do hợp đồng, tự do cạnh tranh lành mạnh và cũng là biện pháp hữu hiệu đảm bảo quyền tự do kinh doanh Để thực hiện được quyền tự do này, ngoài việc phải tôn trọng quyền tự định đoạt của các nhà kinh doanh cần có nhiều hình thức, phương thức giải quyết phù hợp, khắc phục tình trạng hình
sự hóa các tranh chấp kinh tế, dân sự
III.6. Giới hạn quyền tự do kinh doanh
Tự do kinh doanh không có nghĩa là không có giới hạn, doanh nghiệp không thể tự do kinh doanh bất kỳ ngành nghề nào mà tự do kinh doanh phải tuân thủ các quy định của pháp luật đã được quy định tại điều 7 và điều 9 luật doanh nghiệp
Tại điều 7 Luật Doanh nghiệp 2005 có quy định về ngành, nghề và điều kiện kinh doanh:
1. Doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế có quyền kinh doanh các ngành, nghề
mà pháp luật không cấm
2. Đối với ngành, nghề mà pháp luật về đầu tư và pháp luật có liên quan quy định phải có điều kiện thì doanh nghiệp chỉ được kinh doanh ngành, nghề đó khi có đủ điều kiện theo quy định