1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Xác định phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động tố tụng hình sự

12 442 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 102 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU...2 NỘI DUNG...2 I, Lý luận chung về trách nhiệm bồi thường nhà nước trong hoạt động tố tụng hình sự...2 1.1, Khái niệm...2 1.2, Cơ sở pháp lý xác định trách nhiệm bồi

Trang 1

MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU 2 NỘI DUNG 2

I, Lý luận chung về trách nhiệm bồi thường nhà nước trong hoạt động tố tụng hình sự 2

1.1, Khái niệm 2 1.2, Cơ sở pháp lý xác định trách nhiệm bồi thường của nhà nước trong hoạt động tố tụng hình sự 3 1.3, Đặc điểm về trách nhiệm bồi thường của nhà nước trong hoạt động tố tụng hình sự 4

II, Phạm vi trách nhiệm bồi thường của nhà nước trong hoạt động tố tụng hình sự 5

2.1, Người bị tạm giữ mà có quyết định của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động TTHS huỷ bỏ quyết định tạm giữ vì người đó không thực hiện hành vi vi 5 phạm pháp luật; 5 2.2, Người bị tạm giam, người đã chấp hành xong hoặc đang chấp hành hình phạt tù có thời hạn, tù chung thân, người đã bị kết án tử hình, người đã thi hành

án tử hình mà có bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động

tố tụng hình sự xác định người đó không thực hiện hành vi phạm tội; 6 2.3, Người bị khởi tố, truy tố, xét xử, thi hành án 8 2.4, Tổ chức, cá nhân có tài sản bị thiệt hại do việc thu giữ, tạm giữ, kê biên, tịch thu, xử lý có liên quan đến các trường hợp quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này thì được bồi thường 10

III NHẬN XÉT 11 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 12

Trang 2

LỜI MỞ ĐẦU

Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị của con người ngày

16/12/1966 tuyên bố: “Bất cứ người nào trở thành nạn nhân của việc bị giam cầm bất hợp pháp đều có quyền yêu cầu được bồi thường” Đây là cơ sở pháp lý vững

chắc, khẳng định quyền được bồi thường thiệt hại do người có thẩm quyền của cơ quan tố tụng gây ra là một trong những quyền cơ bản về dân sự, chính trị của con người Ghi nhận quyền này, pháp luật Việt Nam cho ra đời Luật TNBTCNN trong

đó quy định vấn đề bồi thường thiệt hại trong hoạt động TTHS, nhằm mục đích nâng cao trách nhiệm của Nhà nước đối với công dân; bảo đảm hiệu quả hoạt động

và tính độc lập của các cơ quan tư pháp; bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân Trong đó, vấn đề xác định phạm vi TNBTCNN trong hoạt động TTHS là một nội dung rất quan trọng Trên cơ sở tham khảo nghiên cứu từ nhiều nguồn tài liệu khác nhau, em xin đi sâu vào tìm

hiểu đề tài: “Xác định phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động tố tụng hình sự”.

NỘI DUNG

I, Lý luận chung về trách nhiệm bồi thường nhà nước trong hoạt động tố tụng hình sự.

1.1, Khái niệm

- Trước tiên, cần hiểu như thế nào là hoạt động TTHS? TTHS là trình tự tiến hành giải quyết vụ án hình sự theo quy định của pháp luật (khởi tố, điều tra, truy

tố, xét xử, thi hành án hình sự) TTHS bao gồm toàn bộ hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng, của cá nhân, cơ quan và tổ chức khác góp phần vào việc giải quyết vụ án theo quy định của luật TTHS

- Tiếp theo, từ khái niệm về TNBTCNN nói chung, ta có thể xây dựng nên khái niệm về TNBTCNN trong hoạt động TTHS như sau: đó là trách nhiệm pháp

lý trong việc người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng có lỗi gây thiệt hại và phải bồi thường, nhằm bù đắp, đền bù những tổn thất về vật chất, tinh thần

và khôi phục danh dự, uy tín, nhân phẩm cho người bị thiệt hại

Trang 3

1.2, Cơ sở pháp lý xác định trách nhiệm bồi thường của nhà nước trong hoạt động tố tụng hình sự

Như ở phần lời mở đầu đã giới thiệu, Công ước quốc tế về các quyền dân

sự, chính trị của con người là cơ sở pháp lý vững chắc để pháp luật các nước quy định về chế định TNBTCNN Và nó đã được ghi nhận trong văn bản có giá trị cao

nhất đó là Hiến Pháp Việt Nam 1992 tại Điều 72: “Người bị bắt, bị giam giữ, bị truy tố, xét xử trái pháp luật có quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất và phục hồi danh dự Người làm trái pháp luật trong việc bắt, giam giữ, truy tố, xét

xử gây thiệt hại cho người khác phải bị xử lý nghiêm minh” và tại Điều 74:“Mọi hành vi xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể và của công dân phải được kịp thời xử lý nghiêm minh Người bị thiệt hại có quyền được bồi thường về vật chất và phục hồi danh dự”.

Bộ luật TTHS năm 2003 đã ghi nhận quyền được bồi thường thiệt hại và

phục hồi danh dự, uy tín cho người bị oan tại Điều 29: “Người bị oan do người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự gây ra có quyền được bồi thường thiệt hại và phục hồi danh dự, quyền lợi Cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự đã làm oan phải bồi thường thiệt hại và phục hồi danh dự, quyền lợi cho người bị oan; người đã gây thiệt hại có trách nhiệm bồi hoàn cho cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật.”

Và cụ thể hóa những quy định trên luật TNBTCNN đã quy định trách nhiệm bồi thường của nhà nước trong hoạt động TTHS, đồng thời hướng dẫn chi tiết hơn tại Nghị định 16/2010/NĐ-CP Trong luật này quy định một vấn đề rất quan trọng

đó chính là phạm vi TNBTCNN trong hoạt động TTHS, trước khi nghiên cứu về phạm vi này, chúng ta sẽ tìm hiểu về những đặc điểm của TNBTCNN trong hoạt động TTHS

1.3, Đặc điểm về trách nhiệm bồi thường của nhà nước trong hoạt động tố tụng hình sự

TNBTCNN trong hoạt động tố tụng được đặt ra với cả ba lĩnh vực là tố tụng hình sự, tố tụng dân sự và tố tụng hành chính Trong đó, trách nhiệm bồi thường trong hoạt động TTHS mang một số đặc trưng cơ bản như sau:

Trang 4

- TNBTCNN trong hoạt động TTHS được đặt ra mà không cần xét đến hành

vi trái pháp luật và yếu tố lỗi của người tiến hành TTHS

Nếu như TNBTCNN trong hoạt động quản lý hành chính, tố tụng dân sự, tố tụng hành chính, thi hành án, yêu cầu phải đáp ứng đủ bốn điều kiện: có hành vi trái pháp luật, có thiệt hại thực tế, có lỗi của người gây thiệt hại, có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm pháp luật và thiệt hại xảy ra; thì trong hoạt động TTHS lược bỏ đi hai yếu tố là hành vi trái pháp luật và lỗi Sở dĩ có sự khác biệt này là do các biện pháp TTHS để giải quyết vụ án rất dễ xâm phạm đến quyền con người, hạn chế quyền công dân… Do đó, nhà nước sẽ bồi thường đối với những thiệt hại do người tiến hành TTHS gây ra nếu những thiệt hại đó thuộc phạm vi TNBTCNN mà không cần biết thiệt hại đó có phải do hành vi trái pháp luật và có lỗi của người tiến hành TTHS gây ra hay không Đây là một quy định đặc thù về TNBTCNN trong TTHS, thể hiện chính sách quan tâm, bảo vệ đến quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân trong TTHS

- Nhà nước chỉ chịu trách nhiệm bồi thường đối với quyết định, hành vi của người tiến hành TTHS thuộc phạm vi TNBTCNN quy định trong Điều 26 Luật TNBTCNN Đặc điểm này chính là nội dung mà bài viết sẽ đi sâu phân tích

- TNBTCNN trong TTHS chỉ phát sinh khi các quyết định, hành vi của người tiến hành TTHS gây ra thiệt hại cho người bị thiệt hại

- Các quyết định, hành vi của những người tiến hành TTHS chỉ làm phát sinh TNBTCNN khi được xác định trong bản án, quyết định của cơ quan nhà nước

có thẩm quyền trong hoạt động TTHS

Trên đây là bốn đặc điểm cơ bản của TNBTCNN trong hoạt động TTHS, từ

cơ sở này, chúng ta sẽ đi phân tích về phạm vi TNBTCNN

II, Phạm vi trách nhiệm bồi thường của nhà nước trong hoạt động tố tụng hình sự.

Phạm vi trách nhiệm bồi thường được hiểu là các trường hợp được pháp luật quy định, mà khi phát sinh trên thực tế thì nhà nước có nghĩa vụ bồi thường Theo Điều 26 Luật TNBTCNN, phạm vi TNBTCNN trong hoạt động TTHS bao gồm:

2.1, Người bị tạm giữ mà có quyết định của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động TTHS huỷ bỏ quyết định tạm giữ vì người đó không thực hiện hành vi vi

Trang 5

phạm pháp luật;

Tạm giữ là một trong các biện pháp ngăn chặn trong TTHS, theo Điều 86

Bộ luật TTHS: “tạm giữ có thể được áp dụng đối với những người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, phạm tội quả tang, người phạm tội tự thú, đầu thú hoặc đối với người bị bắt theo quyết định truy nã” Khi cơ quan, người tiến hành TTHS áp

dụng biện pháp này rất dễ xâm phạm đến quyền tự do cá nhân và ảnh hưởng đến tâm lý, sức khỏe của các đối tượng trên Chính vì vậy, khi xác định được ba yếu tố sau thì nhà nước có trách nhiệm bồi thường cho người bị tạm giữ:

- Người bị tạm giữ không thực hiện hành vi vi phạm pháp luật,

- Có quyết định hủy bỏ quyết định tạm giữ của cơ quan có thẩm quyền,

- Xác định có thiệt hại thực tế do việc tạm giữ gây ra

Có thể thấy, Luật TNBTCNN quy định như trên để bảo vệ kịp thời quyền con người, quyền công dân trong trường hợp này Lấy một ví dụ để hiểu rõ hơn

quy định trên: Ngày 12/11/2010 ông Võ Văn Hùng (tại ấp 4, xã Xuân Tâm, huyện

XuânLộc, Đồng Nai) bị công an xã Xuân Tâm đến nhà đọc lệnh bắt về “tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản công dân” Ông bị tạm giữ 3 ngày và sau đó được trả tự do vì qua điều tra, xác minh, công an đã xác định ông bị bắt oan vì trùng họ tên (nhưng năm sinh, quê quán và hình ảnh không giống); đồng thời cơ quan điều tra đã ra quyết định hủy bỏ quyết định tạm giữ Trong trường hợp này, ông Võ Văn Hùng được bồi thường thiệt hại

Ở ví dụ trên cho thấy, việc ông Hùng được bồi thường là hoàn toàn chính đáng vì trên thực tế, ông Hùng không vi phạm pháp luật, công an xã Xuân Tâm cũng đã ra quyết định hủy bỏ quyết định tạm giữ, hơn nữa việc bị tạm giữ 3 ngày, gâytổn thất về tinh thần; tổn hại sức khỏe; mất thu nhập thực tế của ông

2.2, Người bị tạm giam, người đã chấp hành xong hoặc đang chấp hành hình phạt tù có thời hạn, tù chung thân, người đã bị kết án tử hình, người đã thi hành án tử hình mà có bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định người đó không thực hiện hành vi phạm tội;

Khoản 2 Điều 26 Luật BTTNCNN có hai trường hợp:

 Trường hợp một: Người bị tạm giam

Trang 6

Theo Điều 88 Bộ luật TTHS: “Tạm giam có thể được áp dụng đối với bị can, bị cáo trong những trường hợp sau đây:

- Bị can, bị cáo phạm tội đặc biệt nghiêm trọng; phạm tội rất nghiêm trọng;

- Bị can, bị cáo phạm tội nghiêm trọng, phạm tội ít nghiêm trọng mà Bộ luật hình sự quy định hình phạt tù trên hai năm và có căn cứ cho rằng người đó có thể trốn hoặc cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội.”

Đối tượng của tạm giam là những người đã bị khởi tố về hình sự hoặc người

đã bị tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử Tuy nhiên, theo khoản 2 Điều 88 thì với bị can, bị cáo là phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới ba mươi sáu tháng tuổi, là người già yếu, người bị bệnh nặng mà nơi cư trú rõ ràng thì không tạm giam mà áp dụng biện pháp ngăn chặn khác, trừ một số trường hợp được quy định

rõ trong điểm a, b, c khoản này

Nhận thấy, biện pháp tạm giam là biện pháp nghiêm khắc nhất trong các biện pháp ngăn chặn của TTHS Nó tước đi quyền tự do, quyền chính trị của một con người trong một thời gian, họ bị cách ly, biệt lập với xã hội, bị hạn chế rất lớn

về quyền công dân, do đó để bảo vệ quyền của người bị tạm giam, Luật TNBTCNN đã quy định khi có bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động TTHS xác định người đó không thực hiện hành vi phạm tội thì người bị tạm giam được nhà nước bồi thường; ngay cả trường hợp bị can đã thi hành án tử hình Nhà nước vẫn phải có trách nhiệm công khai xin lỗi và bồi thường thiệt hại cho thân nhân

Ví dụ: Ngày ngày 27/8/2010, nữ sinh V bị Nguyễn Văn Hưởng thực hiện hành vi hiếp dâm Sau khi bị gia đình V phát hiện, Hiển muốn được thỏa thuận bồi thường về vật chất cho gia đình V Bà Bùi Thị Đức là mẹ V đồng ý mức bồi thường là 50 triệu đồng Tuy nhiên, vào ngày 1/9/2010, cơ quan CSĐT đã bất ngờ

ra quyết định khởi tố bị can bắt tạm giam cô giáo Đức về tội “cưỡng đoạt tài sản” Sau 23 ngày bị tạm giam oan, cô giáo Đức đã được trả tự do, và có quyết định của

cơ quan có thẩm quyền trong TTHS xác nhận bà Đức không thực hiện hành vi phạm tội Vụ án này có quá nhiều vi phạm về thủ tục TTHS Thực tế, trường hợp này đã được nhà nước bồi thường 30 triệu đồng và công khai xin lỗi cô Đức tại chính quyền địa phương và đơn vị nơi cô Đức công tác

Trang 7

 Trường hợp hai: Người đã chấp hành xong hoặc đang chấp hành hình phạt

tù có thời hạn, tù chung thân, người đã bị kết án tử hình, người đã thi hành án tử hình

Nếu như có bản án, quyết định của tòa án tuyên bố bị cáo không có tội đối với các trường hợp: người đang chấp hành hình phạt tù có thời hạn, tù chung thân;

đã chấp hành xong hình phạt tù có thời hạn, người đã bị kết án tử hình, người đã thi hành án tử hình; thì Nhà nước có trách nhiệm bồi thường

Ở đây, “không có tội” được hiểu theo hai trường hợp đó là:

- Không có sự việc phạm tội: Đây là trường hợp người bị thiệt hại không thực hiện bất cứ hành vi vi phạm pháp luật nào, họ đã bị áp dụng các thủ tục TTHS một cách oan uổng

Ví dụ: Kỳ án vườn mít: Lê Bá Mai - người mà Tòa án Nhân dân tỉnh Bình Phước và Tòa phúc thẩm Tòa án Nhân dân Tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh tuyên án tử hình về hai tội “Hiếp dâm và giết người” cách đây gần 7 năm, sau đó vào ngày 24/5/2011 Tòa án Nhân dân tỉnh Bình Phước xét xử lại và tuyên vô tội Trong trường hợp này, Lê Bá Mai được cơ quan có thẩm quyền trong TTHS xác định không thực hiện hành vi vi phạm pháp luật nào nhưng lại bị kết án cho nên được bồi thường thiệt hại do thi hành án oan

- Hành vi không cấu thành tội phạm: Đây là trường hợp người bị thiệt hại có thực hiện hành vi vi phạm pháp luật nhưng chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự mà chỉ phải chịu xử lý về hành chính, dân sự hoặc bị xử lý kỷ luật Việc áp dụng các biện pháp của TTHS trong trường hợp này là không tương xứng với tính chất, mức độ vi phạm của hành vi vi phạm pháp luật Từ đó, gây ảnh hưởng không nhỏ đến quyền công dân Chính vì vậy, khi có quyết định của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động TTHS xác định hành vi không cấu thành tội phạm thì nhà nước có trách nhiệm bồi thường cho người bị oan

Ví dụ: ngày 23/11/2011 Cao Xuân Phương bị tòa án nhân dân huyện Đô Lương tuyên phạt 6 tháng tù giam cho hưởng án treo vì “tội công nhiên chiếm đoạt tài sản” của chị Nguyễn Thùy Hoa Phương kháng cáo, tòa phúc thẩm xét xử lại vụ

án và đưa ra phán quyết Phương không phạm tội công nhiên chiếm đoạt tài sản do giá trị tài sản bị chiếm đoạt dưới 500.000đ Hành vi này của Phương chỉ bị xử phạt

Trang 8

hành chính, chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự Chính vì vậy, nhà nước có trách nhiệm bồi thường thiệt hại tương ứng với thời gian mà Phương bị phạt án treo vì trong thời gian đó quyền con người bị hạn chế

2.3, Người bị khởi tố, truy tố, xét xử, thi hành án

Với nhóm đối tượng này, Luật TNBTCNN chia tách thành các trường hợp như sau:

 Tại khoản 3 Điều 26 Luật TNBTCNN quy định trách nhiệm bồi thường đặt

ra trong trường hợp: “Người bị khởi tố, truy tố, xét xử, thi hành án không bị tạm giữ, tạm giam, thi hành hình phạt tù có thời hạn mà có bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định người đó không thực hiện hành vi phạm tội”

Có thể hiểu đây là trường hợp người bị thiệt hại tuy không bị áp dụng các biện pháp ngăn chặn trong TTHS, không bị kết án phạt tù có thời hạn nhưng họ đã

bị khởi tố, truy tố, xét xử hoặc thi hành án (như cảnh cáo, hình phạt tù cho hưởng

án treo, cải tạo không giam giữ, trục xuất, quản chế, cấm cư trú, phạt tiền hoặc tịch thu tài sản) Do đó, khi xác định oan sai và có bản án, quyết định của cơ quan trong TTHS xác nhận người đó không thực hiện hành vi phạm tội thì nhà nước có trách nhiệm bồi thường

Ví dụ: năm 2007 Nguyễn Thành Hải và Nguyễn Thị Thơm bị TAND TP HCM tuyên phạt mỗi người 2 năm tù và cho hưởng án treo về “tội cưỡng đoạt tài sản của công dân” Năm tháng sau, tòa phúc thẩm tuyên hủy án sơ thẩm, giao về cấp sơ thẩm điều tra xét xử lại Ngày 11/9/2010, VKSND TP HCM có quyết định đình chỉ vụ án, đình chỉ điều tra 2 bị can, đồng thời yêu cầu phục hồi các quyền lợi hợp pháp cho hai người Trong trường hợp này, Hải và Thơm được nhà nước bồi thường thiệt hại cho thời gian mà họ thi hành án tù treo

Tiếp theo, khoản 4 Điều 26 quy định: “Người bị khởi tố, truy tố, xét xử về nhiều tội trong cùng một vụ án, đã chấp hành hình phạt tù mà sau đó có bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định người đó không phạm một hoặc một số tội và hình phạt của những tội còn lại ít hơn thời gian đã bị tạm giam, chấp hành hình phạt tù thì được bồi thường thiệt hại tương ứng với thời gian đã bị tạm giam, chấp hành hình phạt tù vượt quá so với

Trang 9

mức hình phạt của những tội mà người đó phải chấp hành”

Ví dụ: 14/2/2009, Nguyễn Trung Đức bị tòa án nhân dân huyện Từ Liêm tuyên phạm hai tội: trộm cắp tài sản (Điều 138 BLHS) và tội cố ý gây thương tích (Điều 103 BLHS) tổng hình phạt là ba năm tù Đức đã kháng cáo và tòa án phúc thẩm xác định Đức không phạm tội cố ý gây thương tích do tỉ lệ thương tật của nạn nhân bị giám định sai (dưới 11%) Tòa phúc thẩm tuyên Đức phải chịu hình phạt 2 năm tù giam đối với tội trộm cắp tài sản Đức đã ngồi tù 27 tháng Như vậy, nhà nước phải bồi thường thiệt hại cho Đức tương ứng với 3 tháng tù giam vượt quá so với mức hình phạt mà Đức phải chịu

Khoản 5 Điều 26 quy định: “Người bị khởi tố, truy tố, xét xử về nhiều tội trong cùng một vụ án và bị kết án tử hình nhưng chưa thi hành mà sau đó có bản

án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định người đó không phạm tội bị kết án tử hình và tổng hợp hình phạt của những tội còn lại ít hơn thời gian đã bị tạm giam thì được bồi thường thiệt hại tương ứng với thời gian đã bị tạm giam vượt quá so với mức hình phạt chung của những tội

mà người đó phải chấp hành”

Ví dụ:7/2009, ông Trịnh Quang Thật bị TAND tỉnh Ninh Thuận tuyên án tử hình vì hai tội giết người và cướp tài sản xảy ra tại thôn Vạn Phước Bản án có hiệu lực nhưng chưa thi hành, ông Thật kháng cáo, tòa phúc thẩm tòa án nhân dân tối cao xác định không đủ chứng cứ buộc tội ông Thật giết người mà chỉ phạm tội cướp tài sản, mức hình phạt là 1 năm Tuy nhiên ông Thật đã bị tạm giam 18 tháng Rõ ràng, thời gian tạm giam của ông Thật đã vượt quá 6 tháng do đó ông sẽ được nhà nước bồi thường tương ứng với khoảng thời gian vượt quá hình phạt này

Khoản 6 Điều 26 quy định: “Người bị xét xử bằng nhiều bản án, Toà án đã tổng hợp hình phạt của nhiều bản án đó, mà sau đó có bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định người đó không phạm một hoặc một số tội và hình phạt của những tội còn lại ít hơn thời gian đã bị tạm giam, chấp hành hình phạt tù thì được bồi thường thiệt hại tương ứng với thời gian đã bị tạm giam, chấp hành hình phạt tù vượt quá so với mức hình phạt của những tội mà người đó phải chấp hành”

Trang 10

Ví dụ: ngày 30/1/2008 Phạm Tiến Tài bị tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý tuyên phạt 26 tháng tù giam về “tội buôn lậu”, cộng thêm 36 tháng tù giam về “tội hủy hoại rừng” do tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa tuyên phạt Tổng hợp hình phạt

là 5 năm 2 tháng tù giam Sau 3 năm ngồi tù thì Chánh án tòa án nhân dân tối cao kháng nghị giám đốc thẩm bản án của TAND tỉnh Thanh Hóa TAND xét xử giám đốc thẩm hủy bản án của TAND tỉnh Thanh Hóa và đình chỉ vụ án, tuyên Tài không phạm “tội hủy hoại rừng” Như vậy, Tài chỉ chịu hình phạt 26 tháng về tội buôn lậu Trong trường hợp này Tài được nhà nước bồi thường thiệt hại cho 10 tháng tù giam vượt quá so với mức hình phạt

2.4, Tổ chức, cá nhân có tài sản bị thiệt hại do việc thu giữ, tạm giữ, kê biên, tịch thu, xử lý có liên quan đến các trường hợp quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này thì được bồi thường.

Theo Điều 144 BLTTHS cơ quan, người tiến hành tố tụng có thể thu giữ thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm; tạm giữ đồ vật, tài liệu khi khám xét (Điều 145);

kê biên tài sản (Điều 146); tịch thu tài sản (Điều 267) nếu có căn cứ cho rằng đây

là các chứng cứ liên quan đến vụ án, để đảm bảo thi hành án hình sự hoặc để thi hành các bản án, quyết định hình sự Tuy nhiên sau cơ quan có thẩm quyền xác định không có hành vi phạm tội, mà việc áp dụng các biện pháp trên gây thiệt hại cho tổ chức các nhân thì nhà nước phải bồi thường. Các thiệt hại này là có thể tính toán được bằng tiền vì đây là những tài sản lẽ ra đã được khai thác, sử dụng nhưng

đã bị thu giữ, tạm giữ, kê biên, tịch thu, xử lý Việc thu giữ, tạm giữ, kê biên, tịch thu, xử lý có thể gây ra thiệt hại một cách trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản đó hoặc có thể gây thiệt hại gián tiếp đến những lợi ích mà tài sản đó có thể mang lại

và có thể chứng minh được

Ví dụ: Rất nhiều vụ án, khi tòa án tuyên bị cáo phạm nhóm tội về sở hữu như: lừa đảo chiếm đoạt tài sản, cướp tài sản, chiếm giữ trái phép tài sản… thì hầu như bị kê biên tài sản có liên quan đến vụ án Cho nên khi có bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền trong TTHS xác định người đó không thực hiện hành

vi phạm tội, đồng thời xác định do việc kê biên tài sản mà gây thiệt hại cho tổ chức, cá nhân thì nhà nước phải bồi thường những thiệt hại đó

Ngày đăng: 29/01/2016, 15:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w