1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

vấn đề kiện đòi tài sản trong luật Dân sự Việt Nam

23 443 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 45,48 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Điều 284 BLDS qui định: “ Chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp có quyền yêu cầu người chiếm hữu, người sử dụng tài sản, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật đối với tài sả

Trang 1

MỞ ĐẦU

******************************************

Quan hệ về quyền sở hữu tài sản là quan hệ pháp luật dân sự, do vậy chủ sở hữu

tự mình thể hiện ý chí trong việc chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản Tuy nhiên,trong quan hệ xã hội và pháp luật, tài sản của chủ sở hữu trong những hoàn cảnh cụthể đã dời khỏi chủ sở hữu hoặc người chiếm hữu hợp pháp ngoài ý chí, do có hành vichiếm đoạt trái pháp luật tài sản đó Vì thế pháp luật cần phải bảo hộ quyền sở hữu tàisản cho cá nhân và tổ chức.Tuy nhiên mỗi chế độ xã hội khác nhau thì phương thức

và nội dung bảo hộ khác nhau Kiện đòi lại tài sản là một trong các phương thức bảo

vệ quyền sở hữu theo qui định của pháp luật Theo qui định tại Điều 255 BLDS, thì:

“Chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp có quyền yêu cầu Toà án, cơ quan, tổ chức

có thẩm quyền khác buộc người có hành vi xâm phạm quyền sở hữu, quyền chiếm hữu phải trả lại tài sản, chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật việc thực hiện quyền sở hữu, quyền chiếm hữu và yêu cầu bồi thường thiệt hại” Để hiểu rõ hơn về vấn đề này, em xin đi sâu vào trình bày đề tài : Kiện đòi tài sản theo BLDS Việt Nam.

NỘI DUNG

******************************************

A Khái quát về vấn đề kiện đòi tài sản trong luật Dân sự Việt Nam

Pháp luật của nhà nước ta ghi nhận và bảo vệ quyển sở hữu tài sản của các chủthể Nếu quyền sở hữu bị xâm phạm, thì cho phép chủ sở hữu khởi kiện yêu cầu toà

án bảo vệ quyền lợi cho mình Trong lĩnh vực dân sự, nhà nước ban hành hệ thống

các pháp lệnh: Pháp lệnh về Quyền sở hữu công nghiệp 1989, Pháp lệnh về Thừa kế

1990, Pháp lệnh về Nhà ở 1991, Pháp lệnh về Hợp đồng dân sự 1991, Pháp lệnh về

Trang 2

Quyền tác giả 1994, nhằm chuẩn bị cho việc xây dựng Bộ luật dân sự 1995 Như vậy trước Bộ luật dân sự 1995, hệ thống pháp luật dân sự không có văn bản pháp qui qui

định về quyền sở hữu tài sản cũng như phương thức kiện đòi tài sản Quyền sở hữucủa công dân, các tổ chức được qui định trong Hiến pháp và rải rác trong các văn bảnpháp luật khác Các qui định về quyền sở hữu chưa được xây dựng thành một chếđịnh pháp luật trong hệ thống pháp luật dân sự, cho nên việc giải quyết các tranh chấp

về tài sản được áp dụng các nguyên tắc chung của pháp luật luật dân sự đó là : Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu của công dân theo Điều 27 Hiến pháp 1980 và Điều 58 Hiến pháp 1992 Lần đầu tiên chế định sở hữu được qui định trong Bộ luật dân sự

1995 tại Phần thứ hai: Tài sản và quyền sở hữu và Chương VI qui định về bảo vệ quyền sở hữu Điều 284 BLDS qui định:

“ Chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp có quyền yêu cầu người chiếm hữu, người sử dụng tài sản, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật đối với tài sản thuộc quyền sở hữu hoặc quyền chiếm hữu hợp pháp của mình phải trả lại tài sản

đó, trừ trường hợp qui định tại khoản 1, Điều 255 của Bộ luật này”.

Theo tinh thần của điều 284 BLDS năm 1995, thì chủ sở hữu, người chiếm hữu

hợp pháp có quyền đòi lại tài sản trong trường hợp sau đây:

Thứ nhất, chủ sở hữu không chuyển tài sản của mình cho bất cứ người thứ hai

nào, mà người đó đang chiếm giữ tài sản của chủ sở hữu mà không trả lại tài sản chochủ sở hữu Trường hợp này người đang chiếm hữu tài sản có thể thực hiện hành vibất hợp pháp như trộm cắp, cướp giật…Hoặc hành vi chiếm hữu ban đầu là có căn cứnhư thông qua hợp đồng, hoặc nhặt được tài sản đánh rơi, bỏ quên…nhưng khôngchịu trả lại tài sản cho chủ sở hữu, do đó hành vi thực tế chiếm hữu tài sản là không

có căn cứ (bất hợp pháp)

Thứ hai, chủ sở hữu chuyển tài sản cho người khác thông qua giao dịch như

cho mượn, gửi giữ…người chiếm hữu hợp pháp không chuyển cho người thứ banhưng người thứ ba thực tế đang chiếm hữu vật Trường hợp này người chiếm hữu

Trang 3

hợp pháp có quyền kiện đòi lại tài sản từ người chiếm hữu không căn cứ để bảo vệquyền chiếm hữu, sử dụng tài sản của mình.

Thứ ba, chủ sở hưũ chuyền tài sản cho người chiếm hữu hợp pháp, người chiếm

hữu hợp pháp chuyển tài sản cho người thứ ba không được sự đồng ý của chủ sở hữu.Trường hợp này, người thứ ba có thể ngay tình hoặc không ngay tình đều phải trả lạitài sản cho chủ sở hữu

Như vậy, căn cứ pháp lý để chủ sở hữu đòi lại tài sản trong các trường hợp trên

là chủ sở hữu không chuyển quyền sở hữu tài sản của mình cho người khác, thì trongmọi trường hợp người chiếm hữu không có căn cứ pháp luật đều phải trả lại tài sảncho chủ sở hữu Căn cứ thực tế để chủ sở hữu đòi lại tài sản là người đang chiếm hữutài sản làm cho chủ sở hữu không khai thác, sử dụng được tài sản của mình Cần chophép chủ sở hữu tự bảo vệ tài sản của mình hoặc yêu cầu toà án giải quyết Vì thếtrong tất cả các trường hợp chủ sở hữu đều có quyền đòi lại tài sản từ người chiếmhữu không có căn cứ ngay tình hoặc không ngay tình

Về vấn đề bảo vệ quyền sở hữu, theo tinh thần của Bộ luật dân sự 2005, Nhà nước

ta không những bảo vệ chủ sở hữu mà còn bảo vệ người thứ ba ngay tình Điều

256 Quyền đòi lại tài sản Điều 257- Quyền đòi lại động sản không phải đăng kýquyền sở hữu từ người chiếm hữu ngay tình Điều 258 - Quyền đòi lại động sản phảiđăng ký quyền sở hữu hoặc bất động sản từ người chiếm hữu ngay tình Từ Điều 284BLDS 1995, Bộ luật dân sự 2005 đã bổ sung hai điều mới là Điều 257 và 258 Đây lànhững hạn chế quyền đòi tài sản có điều kiện của chủ sở hữu đối với người ngay tình Như vậy, so với BLDS năm 1995, BLDS năm 2005 thể hiện rõ những tiến bộ

trong quy định về bảo vệ người thứ ba ngay tình (Điều 138) và kiện đòi lại tài sản từ người chiếm hữu ngay tình (Điều 257 và Điều 258) BLDS năm 2005 quy định cụ thể,

chi tiết hơn về những vấn đề này với mục đích bảo vệ và dung hoà lợi ích của chủ sởhữu và người thứ ba chiếm hữu ngay tình, đồng thời đảm bảo sự ổn định trong giaolưu dân sự

B Cơ sở lí luận về phương thức kiện đòi tài sản trong BLDS năm 2005

Trang 4

I Khái niệm và đối tượng của phương thức kiện đòi tài sản

1 Khái niệm kiện đòi tài sản

Kiện đòi tài sản là việc chủ sở hữu hoặc người chiếm hữu hợp pháp yêu cầu tòa

án buộc người có hành vi chiếm hữu trái pháp luật phải trả lại tài sản cho mình Đòilại tài sản là một trong những phương thức bảo vệ quyền của chủ sở hữu, người chiếmhữu hợp pháp Mục đích của người khởi kiện khi thực hiện phương thức này là lấy lạiđược tài sản của mình khi bị người khác chiếm hữu trái pháp luật Quyền đòi lại tài

sản được quy định tại Điều 256 BLDS: Chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp có quyền yêu cầu người chiếm hữu , người sử dụng tài sản , người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật đối với tài sản thuộc quyền sở hữu hoặc thuộc quyền chiếm hữu hợp pháp của mình phải trả lại tài sản đó…

Theo quy định này thì việc yêu cầu người chiếm hữu, sử dụng tài sản, ngườiđược lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật phải trả lại tài sản bao gồm cả chủ sởhữu và người chiếm hữu hợp pháp Nhưng tại Điều 257 BLDS, 258BLDS thì các nhàlập pháp lại không công nhận quyền này cho người chiếm hữu hợp pháp mà chỉ dànhquyền này cho chủ sở hữu Trong khi thực tế và về phương diện pháp lý thì ngườichiếm hữu hợp pháp hoàn toàn có quyền thực hiện quyền yêu cầu đòi lại tài sản vì lýdo:

Thứ nhất, Điều 256 BLDS năm 2005 (về quyền đòi lại tài sản) dành quyền kiện

đòi lại tài sản từ người chiếm hữu, người sử dụng tài sản, người được lợi về tài sảnkhông có căn cứ pháp luật cho cả chủ sở hữu và người chiếm hữu hợp pháp

Thứ hai, cho phép người chiếm hữu hợp pháp khởi kiện đòi lại tài sản nhằm

đảm bảo cho chủ sở hữu thực hiện quyền trong thời hiệu khởi kiện

Thứ ba, thừa nhận người chiếm hữu hợp pháp có quyền khởi kiện đòi lại tài

sản còn giúp bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho chính chủ sở hữu Tránh việc kiện đòi lạitài sản của chủ sở hữu trở nên phức tạp hơn hoặc không thể thực hiện được

2 Đối tượng của vụ kiện đòi tài sản

Trang 5

Tài sản phải là vật đặc định tức là vật được phân biệt với các vật khác nhờnhững dấu hiệu nhận dạng riêng và vật này hiện đang trong tay người chiếm hữu bấthợp pháp Đây là điều kiện thực tế quan trọng bởi vì họ chỉ có thể kiện để đòi lại tàisản khi tài sản đó đang tồn tại trong sự chiếm hữu bất hợp pháp của người khác , nhờ

có những đặc điểm riêng về màu sắc hình dáng, đặc tính hoặc những kí hiệu khác màchủ sở hữu hay người chiếm hữu hợp pháp nhận ra nó khi đang bị người khác chiếmgiữ trái pháp luật Hơn nữa tài sản tranh chấp trong vụ án là vật đặc định đang tồn tạitrên thực tế sẽ là bằng chứng để chủ sở hữu hoặc người chiếm hữu hợp pháp chứngminh quyền sở hữu của mình Đối với tài sản thuộc quyền sở hữu của toàn dân thìtrong mọi trường hợp đều có thể áp dụng phương thức kiện đòi laị tài sản mà không

áp dụng thời hiệu

Theo Khoản 2, Điều 247 BLDS quy định: Người chiếm hữu tài sản thuộc hình thức sở hữu nhà nước không có căn cứ pháp luật thì dù ngay tình, liên tục, công khai,

dù thời gian chiếm hữu là bao lâu cũng không thể trở thành chủ sở hữu tài sản đó.Đó

là các loại khách thể là tài sản chỉ riêng nhà nước mới có như đất đai, rừng núi, sông

hồ, nguồn nước, tài nguyên trong lòng đất , nguồn lợi ở vùng biển, thềm lục địa vàvùng trời , những tài sản liên quan đến quốc phòng an ninh hay văn hóa xã hội mà chỉriêng nhà nước mới có Còn đối với các khách thể thông thường khác được lưu thôngtrong giao lưu dân sự thì các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu có tính chất chung , vớicác điều kiện như nhau trong mọi hình thức sở hữu

II Những yêu cầu của pháp luật đối với phương thức kiện đòi tài sản

1.Đối với chủ thể quyền khởi kiện( nguyên đơn)

Người kiện đòi tài sản phải là chủ sở hữu của vật và phải chứng minh quyền sở

hữu của mình đối với vật đang bị bị đơn chiếm giữ bất hợp pháp Nếu nguyên đơn là

người chiếm hữu hợp pháp thông qua hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng phù hợp

với ý chí của chủ sở hữu , thì người đó phải chứng minh mình là người có quyềnchiếm hữu, sử dụng tài sản đang bị bị đơn chiếm giữ hợp pháp ngoài ý chí của những

Trang 6

người này( đánh rơi, bỏ quên, bị mất cắp…) trường hợp này chủ sở hữu, người chiếmhữu hợp pháp có quyền đòi lại tài sản từ người đang chiếm hữu bất hợp pháp.

Người chiếm hữu hợp pháp tài sản: đây là khái niệm có nội hàm và ngoại diênrộng hơn khái niệm chủ sở hữu bởi vì người chiếm hữu hợp pháp không chỉ bao gồmchủ sở hữu tài sản mà còn bao gồm những người được chủ sở hữu giao cho quản lí tàisản, có được tài sản thông qua hợp đồng thuê mượn tài sản Do vậy chủ thể của quyềnkhởi kiện ở đây được hiểu là chủ sở hữu tài sản và những người không phải chủ sởhữu nhưng được chiếm hữu tài sản Việc quy định cho người có quyền chiếm hữu tàisản cũng được phương thức kiện đòi tài sản này điều chỉnh nhằm đảm bảo quyền lợicho chủ sở hữu trong việc đảm bảo thời hiệu khởi kiện và tránh phức tạp vụ án khingười thứ ba đã bán đi tài sản cho người khác và không tìm thấy họ

Một cá nhân để trở thành chủ sở hữu tài sản thì không cần đáp ứng các yêu cầu

về năng lực hành vi dân sự mà chỉ cần theo một trong các quy định tại điều 170 BLDSnăm 2005 Năng lực hành vi dân sự không quyết định tư cách của nguyên đơn nhưng

để trở thành người khởi kiện thì theo quy định tại Khoản 3 và Khoản 6 Điều 57 bộ

luật TTDS năm 2004 thì người khởi kiện phải từ đủ 18 tuổi trở lên và có năng lực chủthể đầy đủ hoặc người từ đủ 15 tuổi nhưng chưa đủ 18 tuổi được khởi kiện trongnhững vụ án dân sự về quan hệ lao động hoặc quan hệ dân sự thực hiện bằng tài sảnriêng của mình Như vậy chủ sở hữu hoặc người chiêm hữu hợp pháp tài sản đượcquyền khởi kiện đòi lại tài sản phải trong độ tuổi nhất định mới được tham gia quan

hệ này

2 Đối với người bị kiện ( bị đơn)

Phải là người đang chiếm hữu bất hợp pháp đối với tài sản Điều kiện này rấtquan trọng bởi có nhiều khi chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp phát hiện ra ngườichiếm hữu tài sản của mình lúc trước nhưng lúc này người chiếm hữu tài sản đó đã

thành chủ sở hữu của tài sản do được xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu (Điều 247 BLDS ), hoặc do đã hết thời hiệu hưởng quyền dân sự trong trường hợp nhặt được tài

Trang 7

sản đánh rơi, phát hiện gia súc , gia cầm thất lạc (Điều 241BLDS Điều242BLDS và Điều 243 BLDS)

a) Người bị kiện là người chiếm giữ không có căn cứ pháp luật,không ngay tình

Người bị kiện phải trả lại tài sản là người đang thực tế chiếm hữu vật không cócăn cứ pháp luật, không ngay tình như tài sản do trộm, cắp, cướp, lừa đảo mà có; biếttài sản đó là của gian nhưng vẫn mua hoặc nhặt được tài sản do chủ sở hữu , ngườichiếm hữu hợp pháp đánh rơi, bỏ quên nhưng đã không giao nộp cho cơ quan cótrách nhiệm, thì người chiếm hữu bất hợp pháp phải trả lại tài sản cho chủ sở hữu ,người chiếm hữu hợp pháp.Trong trường hợp người chiếm hữu, người sử dụng tài sảnkhông có căn cứ pháp luật không ngay tình nhưng đã giao tài sản cho người thứ ba,thì người thứ ba cũng có nghĩa vụ hoàn trả tài sản đó nếu chủ sở hữu, người chiếmhữu hợp pháp có yêu cầu hoàn trả Như vậy khi tài sản rời khỏi chủ sở hữu, ngườichiếm hữu hợp pháp ngoài ý chí của họ thì những người đang thực tế chiếm hữu vậtđều phải trả lại tài sản Theo quy định tại Khoản 1, Điều 601 BLDS ngoài việc trả lại

tài sản những người này còn:…phải hoàn trả hoa lợi, lợi tức thu được từ thời điểm chiếm hữu, sử dụng tài sản, được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật.

Ví dụ 1: A trộm được chiếc xe máy SH của B trị giá 150 triệu đồng, A bán lạicho C là bạn thân của A với giá 145 triệu, mặc dù C biết chiếc xe này do A ăn trộm

mà có nhưng vẫn mua B phát hiện ra xe của mình bị A ăn trộm và đã được bán cho

C B kiện đòi lại tài sản, trong trường hợp này C phải trả lại chiếc xe máy cho B làchủ sở hữu hợp pháp của chiếc xe

Hay trường hợp nhặt được tài sản do chủ sở hữu , người chiếm hữu hợp phápđánh rơi, bỏ quên như:

Ví dụ 2: A đang trên đường đi làm, có một vụ tai nạn trên đường nên anh đã bỏ

xe máy và ba lô ở đầu ngõ để cứu nạn nhân C nhìn thấy xe máy cùng với ba lô ở đầungõ, không thấy chủ, liền dắt xe về nhà Chiếc xe máy trị giá 40 triệu cùng toàn bộtiền mặt trong ví và laptop trị giá 30 triệu đồng Ông C không báo cho cơ quan có

Trang 8

thẩm quyền biết về sự việc này cũng không chủ động liên lạc với anh A theo địa chỉ

có tìm thấy trong ví của anh A Một tuần sau đó, nhờ được sự giúp đỡ của người dânkhu phố, A đã biết được tài sản của mình đang do C chiếm hữu, ông C nhất quyếtthừa nhận chiếc xe máy và laptop là tài sản của mình A kiện C đòi lại tài sản Trongtrường hợp này, A chứng minh được tài sản của mình và C phải trả lại toàn bộ tài sản

đó cho A

b Nếu người bị kiện là người chiếm hữu không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình

b.1) Đối với tài sản là động sản không phải đăng kí quyền sở hữu

Trường hợp này nếu thông qua giao dịch có đền bù ( mua bán) và theo ý chícủa người chiếm hữu có căn cứ pháp luật như người thuê, người mượn …của chủ sởhữu thì chủ sở hữu không được kiện đòi lại tài sản ở người đang thực tế chiếm hữu.Chủ sở hữu sẽ kiện người mình đã chuyển giao tài sản theo hợp đồng bồi thường thiệthại, vì đây là trách nhiệm theo hợp đồng Qui định này dựa trên các căn cứ pháp lý vàthực tiễn sau :

Về mặt pháp lý, khi chủ sở hữu chuyển dịch tài sản cho người thứ hai, thì giữa

chủ sở hữu và người thứ hai có một giao dịch, cho nên chủ sở hữu cần phải đề phòngnhững trường hợp người được chuyển giao tài sản không trả lại tài sản, do đó phải ápdụng các biện pháp bảo đảm mà pháp luật cho phép nhằm khống chế hành vi vi phạmcủa người được chuyển giao tài sản

Xét về mặt thực tiễn, người thứ ba có nhu cầu sử dụng tài sản, cho nên họ đã

mua hoặc đổi tài sản để có tài sản phục vụ nhu cầu tiêu dùng hoặc nhu cầu kinhdoanh Khi tham gia giao dịch họ không biết tài sản đó không phải là của người đãbán cho mình, cho nên hành vi của họ là ngay tình Vì thế pháp luật cần phải bảo vệlợi ích của người thứ ba ngay tình, cho phép người thứ ba xác lập quyền sở hữu vớitài sản đó , điều này tránh được sự thông đồng giữa chủ sở hữu và người chiếm hữuhợp pháp để gây thiệt hại cho người thứ ba Mặt khác pháp luật cũng bảo vệ quyền

Trang 9

của chủ sở hữu, cho phép chủ sở hữu yêu cầu người chiếm hữu hợp pháp bồi thườnggiá trị tài sản Những người đã thuê, mượn, nhận , giữ tài sản của chủ sở hữu mà bántài sản đó có thể chịu trách nhiệm hình sự về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tàisản của công dân theo điều 158 BLHS Tài sản trong trường hợp này là vật chứng đểchứng minh là của chủ sở hữu.

Ví dụ : Bà Nguyễn Thị Mai trú tại thôn Xanh, xã Quỳnh Lưu, huyện Nho Quan, cho bà Bùi Thị Lan là hàng xóm thuê chiếc máy mát xa trị đau lưng trị giá 20 triệuvào ngày 20/01/2007 Ngày 20 /7/2007 bà Bùi Thị Lan lâm bệnh nặng và chết BàMai đã yêu cầu bà Hồng trả lại theo hợp đồng đã thuê nhưng bà Hồng không đồng ý

Bà Nguyễn Thị Mai làm đơn khởi kiện đến tòa án nhân dân huyên Nho Quan yêu cầu

bà Bùi Minh Hồng trả lại tài sản Trong trường hợp này, bà Bùi Minh Hồng phải trảlại chiếc máy mát xa cho bà Nguyễn Thị Mai theo hợp đồng mà bà Mai và bà Lan đãkí

Có thể thấy, việc áp dụng một số biện pháp đảm bảo thực hiện nghĩa vụ tronghợp đồng là một giải pháp an toàn hơn đảm bảo quyền lợi cho bên có quyền đồng thờiràng buộc trách nhiệm đối với bên có nghĩa vụ Các biện pháp nhằm bảo đảm thựchiện nghĩa vụ phổ biến hiện nay bao gồm: cầm cố, thế chấp đặt cọc…được áp dụngkhá phổ biến trong các hợp đồng mua bán hay hợp đồng về tài sản

Mặt khác, Điều 138 BLDS quy định: trong trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu nhưng tài sản giao dịch là động sản không phải đăng kí quyền sở hữu đã được chuyển giao bằng một giao dịch khác cho người thứ ba ngay tình thì giao dịch với người thứ ba vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp quy định tại Điều 257 của bộ luật này.

Ví dụ: A mua chiếc vi tính của B rồi đem bán lại cho C , sau đó A mới biết là Bkhông phải chủ sở hữu chiếc vi tính đó và không có quyền bán , giao dịch đầu tiên vôhiệu Về nguyên tắc thì hai bên trả lại cho nhau những gì đã nhận , nhưng chiếc vi tính

đã được bán lại cho C C không thể biết rằng A không được phép bán chiếc vi tính đónên vẫn mua, trong trường hợp này, giao dịch giữa A và C vẫn có hiệu lực

Trang 10

Như vậy ngoại lệ của nguyên tắc này nằm ở quy định tại điều 257 BLDS: chủ

sở hữu có quyền đòi lại động sản không phải đăng kí quyền sở hữu từ người chiếm hữu ngay tình trong trường hợp hợp đồng này là hợp đồng có đền bù thì chủ sở hữu

có quyền đòi lại động sản nếu động sản đó bị lấy cắp, bị mất hoặc trường hợp khác bị chiếm hữu ngoài ý chí ý của chủ sở hữu.

Người chiếm hữu ngay tình là người chiếm hữu mà họ không biết và không thểbiết việc mình chiếm hữu tài sản đó là không có căn cứ pháp luật Việc pháp luật chophép chủ sở hữu được đòi lại tài sản là hợp lí vì nó không gây thiệt hại về mặt tài sảncho người được tặng, cho Người không có quyền định đoạt tài sản trong trường hợpnày thường là người có quyền chiếm hữu hay sử dụng tài sản thông qua hợp đồng phùhợp với ý chí của chủ sở hữu như hợp đồng cho thuê hay cho mượn tài sản

Ví dụ : A trông xe máy cho B thông qua hợp đồng gửi giữ , trong trường hợpnày A chỉ có quyền chiếm hữu xe máy của B nhưng không có quyền dùng xe đó làm

xe ôm thu lợi nhuận vì làm thế thì A trở thành người sử dụng và được lợi về tài sảnkhông có căn cứ pháp luật

Tuy nhiên, quyền kiện đòi lại động sản không phải đăng ký quyền sở hữu, chỉđược đáp ứng trong trường hợp tài sản đó vẫn còn Như vậy, nếu động sản là đốitượng của vụ kiện không còn tồn tại (bị tiêu huỷ…), thì mục đích kiện đòi lại độngsản đó của chủ sở hữu hoặc của người chiếm hữu hợp pháp không được đáp ứng.Trong trường hợp này, quyền của chủ sở hữu hoặc người chiếm hữu hợp pháp chỉđược bảo vệ theo phương thức kiện trái quyền

b.2) Đối với tài sản là động sản phải đăng kí quyền sở hữu hoặc là bất động sản:

Về nguyên tắc, theo khoản 2, điều 138 BLDS thì: trong trường hợp tài sản giao dịch là bất động sản, hoặc là động sản phải đăng kí quyền sở hữu đã được chuyển giao bằng một giao dịch khác cho người thứ ba ngay tình thì giao dịch với người thứ

ba bị vô hiệu… Tức là người thứ ba ngay tình luôn phải trả lại tài sản cho chủ sở hữu

hoặc người chiếm hữu hợp pháp với tài sản là bất động sản hoặc động sản phải đăng

Trang 11

kí quyền sở hữu bởi vì đối với động sản phải đăng kí quyền sở hữu hoặc bất động sảnthì người chiếm hữu luôn buộc phải biết chủ sở hữu là ai Mặt khác đối với những tàisản này, người mua chỉ có quyền sở hữu khi sang tên đăng kí chuyển quyền sở hữu từngười chủ sở hữu Người thực tế đang có vật phải trả lại vật cho chủ sở hữu và cóquyền yêu cầu người chuyển giao vật cho mình hoàn trả tiền hoặc các lợi ích vật chất

mà mình bị thiệt hại

Ví dụ: A cho B thuê nhà, hợp đồng thuê nhà là 6 năm 6 năm sau, A đòi lại mà

B không trả, B đã dùng nhà của A cho C thuê để làm mặt bằng buôn bán tạp hóa Akhởi kiện hành vi của B lên tòa án Trong trường hợp này, B và C hoàn toàn phải trảlại tài sản cho chủ sở hữu hợp pháp ngôi nhà là A

Tuy nhiên ngoại lệ của nguyên tắc này nằm tại điều 258 BLDS : Chủ sở hữu được đòi lại động sản phải đăng kí quyền sở hữu và bất động sản , trừ trường hợp người thứ ba chiếm hữu ngay tình nhận được tài sản này thông qua bán đấu giá hoặc giao dịch với người mà theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền

là chủ sở hữu tài sản nhưng sau đó người này không phải là chủ sở hữu tài sản do bản án , quyết định bị hủy, sửa.

Như vậy chủ sở hữu tài sản không được đòi lại tài sản từ người chiếm hữukhông có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình trong trường hợp người đó nhận được tàisản thông qua đấu giá hoặc giao dịch dân sự với người mà trước đó theo bản án quyếtđịnh của cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì họ là chủ sở hữu tài sản , sau đó ngườinày không còn là chủ sở hữu tài sản nữa do bản án, quyết định đã bị thay đổi Trongtrường hợp này vì người chiếm hữu ngay tình không có lỗi mà lỗi thuộc về cơ quan

tiến hành tố tụng nên người bị kiện là cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo Điều 619 BLDS Việc công nhận quyền sở hữu cho người thứ ba ngay tình trong trường hợp

này là hoàn toàn cần thiết nhằm tạo niềm tin tưởng sự yên tâm của người dân vàopháp luật , nâng cao hơn vai trò và trách nhiệm của các cơ quan công quyền khi ápdụng pháp luật đảm bảo công bằng và pháp chế XHCN

Ngày đăng: 29/01/2016, 15:19

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w