1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

VẤN ĐỀ THỰC TIỄN VỀ CHIA QUYỀN SỞ HỮU ĐẤT VÀ NHÀ Ở KHI VỢ CHỒNG LY HÔN dun

13 229 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 34,25 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc chia quyền sử dụng đất chung của vợ chồng khi ly hôn được thực hiện như sau: a Đối với đất nông nghiệp trồng cây hàng năm, nuôi trồng thủy sản, nếu cả hai bên đều có nhu cầu và có đ

Trang 1

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU………2

I- CƠ SỞ LÝ LUẬN……….3

1. Khái niệm ly hôn………3

2. Chia quyền sử dụng đất và nhà ở khi vợ chồng ly hôn……… 3

2.1 Chia quyền sử dụng đất……….3

2.2 Chia quyền sử dụng nhà ở khi vợ chồng ly hôn……….6

II- VẤN ĐỀ THỰC TIỄN VỀ CHIA QUYỀN SỞ HỮU ĐẤT VÀ NHÀ Ở KHI VỢ CHỒNG LY HÔN……… 9

1. Xác định sở hữu chung ………9

2. Chia hiện vật ……….9

3. Định giá nhà đất………10

4. Khối tài sản chung có nhiều nhà, đất………11

5. Khối tài sản vợ chồng khó xác định do sống chung với gia đình vợ hoặc chồng……… 11

KẾT LUẬN………12

Trang 2

LỜI MỞ ĐẦU

Xã hội loài người đã trải qua nhiều hình thái gia đình khác nhau Gia đình là sản phẩm của xã hội, đã phát sinh và phát triển cùng với sự phát triển của xã hội Các điều kiện kinh tế - xã hội trong từng giai đoạn phát triển nhất định là nhân tố quyết định tính chất

và kết cấu của gia đình Do vậy gia đình là hình ảnh thu nhỏ của xã hội, là tế bào của xã hội Sự ổn định và phát triển lành mạnh của gia đình sẽ góp phần vào sự phát triển của chung của toàn bộ xã hội Mỗi gia đình được xây dựng dựa trên những sợi dây liên kết của hôn nhân huyết thống và nuôi dưỡng trong đó quan hệ hôn nhân có thể xem là quan

hệ nền tảng của mỗi gia đình Một thực trạng cho thấy, trong những năm vừa qua , các vụ

ly hôn gia tăng một cách đột biến, án kiện các vụ ly hôn không chỉ tăng lên về số lương

mà còn đa dạng, phức tạp về nội dung tranh chấp, trong đó các vụ tranh chấp chủ yếu

diễn ra xoay quanh việc sở hữu quyền sử dụng đất và nhà ở khi vợ, chồng ly hôn Mặc dù

Luật Hôn Nhân Gia Đình, luật đất đai năm 2003, nghị định 70/2001/NĐ-CP ngày 03 tháng 10 năm 2001, luật nhà ở, luật dân sự cùng các văn bản khác đã có những quy định

cụ thể tạo cơ sở pháp lý giúp cho các Tòa án giải quyết các tranh chấp quyền sở hữu đất

và nhà ở khi vợ chồng ly hôn được thuận lợi hơn, nhanh gọn chính xác hơn xong vẫn còn gặp phải rất nhiều bất cập

Bởi vậy em xin chọn đề tài: “Chia quyền sử dụng đất và nhà ở khi vợ chồng ly hôn –

Một số vấn đề lý luận thực tiễn.” để làm rõ vấn đề này Trong quá trình làm bài, do

lượng kiến thức còn hạn hẹp và sự hiểu biết chưa sâu nên bài làm của em còn nhiều thiếu sót mong thầy cô góp ý để bài tập của em được hoàn thiện hơn Em xin chân thành cảm ơn!

Trang 3

I- CƠ SỞ LÝ LUẬN

1 Khái niệm ly hôn

Theo khoản 8 Điều 8 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000: Ly hôn là chấm dứt quan

hệ hôn nhân do tòa án công nhận hoặc quyết định theo yêu cầu của vợ hoặc của chồng hoặc cả hai vợ chồng

2 Chia quyền sử dụng đất và nhà ở khi vợ chồng ly hôn

2.1 Chia quyền sử dụng đất

Điều 97: chia quyền sử dụng đất của vợ, chồng khi ly hôn

1 Quyền sử dụng đất riêng của bên nào thì khi ly hôn vẫn thuộc về bên đó

2 Việc chia quyền sử dụng đất chung của vợ chồng khi ly hôn được thực hiện như sau: a) Đối với đất nông nghiệp trồng cây hàng năm, nuôi trồng thủy sản, nếu cả hai bên đều

có nhu cầu và có điều kiện trực tiếp sử dụng đất thì được chia theo thỏa thuận của hai bên, nếu không thỏa thận được thì yêu cầu tòa án giải quyết theo quy định tại Điều 95 của Luật này.

Trong trường hợp chỉ một bên có nhu cầu và điều kiện trực tiếp sử dụng đất nhưng phải thanh toán cho bên kia phần giá trị quyền sử dụng đất mà họ được hưởng;

b) Trong trường hợp vợ chồng có quyền sử dụng đất nông nghiệp trồng cây hàng năm , nuôi trồng thủy sản chung với hộ gia đình thì khi ly hôn phần quyền sử dụng đất của vợ chồng được tách ra và chia theo quy định tại điểm 1 khoản này;

c) Đối với đất nông nghiệp trồng cây lâu năm, đất lâm nghiệp để trồng rừng, đất ở thì được chia theo quy định tại Điều 95 của Luật này;

d) Việc chia quyền sử dụng đất đối với các loại đất khác được thực hiện theo quy định của pháp luật về đất đai và pháp luật về đất đai và pháp luật dân sự.

3 Trong trường hợp vợ, chồng sống chung với gia đình mà không có quyền sử dụng đất chung với hộ gia đình thì khi ly hôn quyền lợi của bên không có quyền sử dụng đất và

Trang 4

không tiếp tục sống chung với gia đình được giải quyết theo quy định tại Điều 96 của Luật này.

Theo nguyên tắc chung, quyền sử dụng đất của bên nào thì khi ly hôn vẫn thuộc về bên

đó, trừ trường hợp có thỏa thuận khác Quyền sử dụng đất mà mỗi bên vợ, chồng có được trước khi kết hôn do được chuyển nhưởng, chuyển đổi, thừa kế, nhận thế chấp hoặc được Nhà nước giao, được cho thuê trước khi kết hôn được coi là tài sản riêng của mỗi bên vợ, chồng Việc chia quyền sử dụng đất chung của vợ chồng khi ly hôn, tùy theo từng loại đất

và điều kiện thực tế của vợ chồng được xác định và giải quyết như sau:

Chia quyền sử dụng đất mà vợ, chồng được Nhà nước giao.

Sau khi kết hôn, quyền sử dụng đất mà vợ chồng hoặc mỗi bên vợ chồng được Nhà nước giao, kể cả giao khoán là tài sản chung của vợ chồng; khi ly hôn, việc chia quyền sử dụng đất đó được thực hiện:

- Đối với quyền sử dụng đất nông nghiệp để trồng cây hằng năm, đất nuôi trồng thủy sản , đất làm muối:

+ Trong trường hợp cả vợ và chồng đều có nhu cầu sử dụng đất và có điều kiện trực tiếp

sử dụng, thì quyền sử dụng đất được chia theo thỏa thuận của vợ chồng; nếu vợ chồng không thỏa thuận được thì Tòa án áp dụng quy định tại Điều 95 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 để giải quyết khi vợ chồng yêu cầu

+ Trong trường hợp chỉ một bên có nhu cầu và có điều kiện trực tiếp sử dụng đất, thì người đó có quyền được trực tiếp sử dụng toàn bộ đất đó sau khi đã thỏa thuận với bên kia Nếu không thỏa thuận được thì bên sử dụng đất phải thanh toán cho bên kia phần giá trị quền sử dụng đất mà bên đó được hưởng theo mức mà hai bên thỏa thuận Nếu không thỏa thuận được, thì yêu cầu Tòa án giải quyết

Trong trường hợp một bên có nhu cầu và có điều kiện trực tiếp sử dụng đất nhưng không thể thanh toán cho bên kia phần giá trị quyền sử dụng đất mà bên đó được hưởng, thì bên kia có quyền chuyển nhượng phần quyền sử dụng đất của mình cho người thứ ba, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác

- Việc chia quyền sử dụng đất đối với đất nông nghiệp để trồng cây lâu năm, đất lâm nghiệp để trồng rừng, đất ở được Nhà nước giao, đất chuyên dùng là tài sản chung của vợ

Trang 5

chồng, khi ly hôn được thực hiện theo quy định tại Điều 95 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 (Điều 24 Nghị định số 70/2001/NĐ-CP ngày 03-10-2001)

Chia quyền sử dụng đất mà vợ, chồng được nhà nước cho thuê

Sau khi kết hôn, quyền sử dụng đất mà cả vợ và chồng hoặc chỉ có một bên vợ hoặc chồng được nhà nước cho thuê là tài sản chung của vợ chồng Khi ly hôn, việc chia quyền

sử dụng đất đó được giải quyết theo nguyên tắc:

- Trong trường hợp vợ chồng trả tiền thuê đất hằng năm mà khi ly hôn, nếu cả hai bên đều có nhu cầu và có điều kiện trực tiếp sử dụng đất đó thì việc chia quyền sử dụng đất được thực hiện theo quy định tại Điều 95 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 Các bên phải ký lại hợp đồng thuê đất với cơ quan nhà nước có thẩm quyền

- Trong trường hợp vợ chồng đã trả tiền thuê đất hàng năm mà khi ly hôn, nếu chỉ một bên có nhu cầu và điều kiện trực tiếp sử dụng đất , thì bên đó được trực tiếp sử dụng đất, thì bên đó được trực tiếp sử dụng đất và phải ký lại hợp đồng thuê đất với cơ quan nhà nước có thẩm quyền, nếu hợp đồng thuê đất trước đây do bên kia hoặc cả hai người đứng tên Nếu các bên đã đầu tư vào tài sản có trên đất, thì phải thanh toán cho bên kia một phần giá trị tài sản đã đầu tư trên đất mà người đó được hưởng vào thời điểm chia tài sản khi ly hôn, căn cứ vào tài sản và công sức đầu tư của bên kia, trừ trường hợp có thỏa thuận khác

Trong trường hợp vợ chồng đã trả tiền thuê đất cho cả thời gian thuê khi ly hôn, các bên thỏa thuận về việc sử dụng đất đó và thanh toán cho nhau phần tiền thuê đất đã nộp trong thời gian thuê đất còn lại

Trong trường hợp một bên được tiếp tục sử dụng toàn bộ diện tích đất, thì phải thanh toán cho bên kia một nửa số tiền thuê đất tương ứng với thời gian thuê đất còn lại, kể từ thời điểm chia tài sản khi ly hôn, trừ trường hợp có thỏa thuận khác Nếu các bên đã đầu tư vào tài sản trên đất, thì bên tiếp tục thuê đất phải thanh toán cho bên kia một phần giá trị tài sản đã đầu tư trên đất vào thời điểm đã chia tài sản khi ly hôn, trừ trường hợp các bên

có thỏa thuận khác (Điều 25 Nghị định số 70/2001/NĐ-CP ngày 3-10-2001)

Chia tài sản của vợ chồng được chuyển đổi chuyển nhượng, thừa kế chung được thế chấp:

Trang 6

Khi ly hôn, việc chia quyền sử dụng đất do vợ chồng được chuyển đổi chuyển nhượng, thừa kế chung được thực hiện theo quy định tại Điều 95 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000

Chia quyền sử dụng đất của vợ chồng được giao chung với hộ gia đình

Trong trường hợp cả vợ chồng có quyền sử dụng đất nông nghiệp để trồng cây hàng năm, nuôi trồng thủy sản, làm muối, đất lâm nghiệp được giao chung với hộ gia đình sau khi kết hôn, thì khi ly hôn, phần quyền sử dụng đất của vợ và chồng của con không tiếp tục sống chung với hộ gia đình được tách ra và chia theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 97 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000

2.2 Chia quyền sử dụng nhà ở khi vợ chồng ly hôn

Điều 98 Chia nhà ở thuộc sở hữu chung của vợ chồng

Trong trường hợp nhà ở thuộc sở hữu chung của vợ chồng có thể chia để sử dụng thì khi

ly hôn được chia theo quy định tại Điều 95 của Luật này, nếu không thể chia được thì bên được tiếp tục sử dụng nhà ở phải thanh toán cho bên kia phần giá trị mà họ được hưởng

Chia nhà thuộc sở hữu chung của vợ chồng là quy định mới của Luật hôn nhân gia đình năm 2000 Quy định này nhằm bảo đảm tốt hơn quyền và lợi ích của vợ chồng cũng như tạo cơ sở pháp lý rõ ràng cho Tòa án khi giải quyết các tranh chấp về chia tài sản là nhà, quyền sử dụng đất Giống như quyền sử dụng đất, thông thường nhà ở là loại tài sản có giá trị thực tế, giá trị sử dụng lớn và thiết thực nhất trong khối tài sản chung của vợ chồng

Trước đây, chỉ thị số 69-DS ngày 24-12-1979 của tòa án nhân dân tối cao đã chỉ rõ: “Khi

chia nhà ở là tài sản chung của vợ chồng trong đó ưu tiên bảo vệ quyền lợi chính đáng của người vợ và các con chưa thành niên Trong mọi trường hợp, bảo đảm cho vợ, chồng sau khi ly hôn đều có chỗ ở, đặc biệt cần quán triệt nguyên tắc không được để vợ, con chưa thành niên ra khỏi nhà nếu họ thực sự chưa có chỗ mà ở”.

Trong trường hợp nhà ở thuộc sở hữu chung của vợ chồng có thể chia để sử dụng thì Tòa án áp dụng các nguyên tắc được quy định tại Điều 95 Luật hôn nhân và gia đình năm

2000 để chia cho mỗi bên một phần diện tích nhà, đất, bảo đảm ổn định “chỗ ăn, chỗ ở” cho vợ chồng sau khi ly hôn, ưu tiên bảo vệ quyền lợi chính đáng của người vợ và các

Trang 7

con chưa thành niên hoặc con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình

Trong trường hợp nhà ở thuộc sở hữu chung của vợ chồng không thể chia được (do cấu trúc xây dựng hoặc để bảo đảm an toàn) thì bên được tiếp tục sử dụng nhà ở phải thanh toán cho bên kia phần giá trị mà họ được hưởng Ưu tiên bảo vệ quyền lợi chính đáng của người vợ và con chưa thành niên, hoặc con đã thành niên nhưng mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình Trong trường hợp này thông thường Tòa án sẽ giao ngôi nhà cho người vợ hoặc chồng sở hữu, còn người kia sẽ được chia những tài sản khác trong khối tài sản chung của vợ chồng Trong trường hợp người được chia nhà, mà giá trị ngôi nhà lại nhiều hơn giá trị tài sản mà mình được chia thì phải thanh toán cho bên kia phần giá trị mà họ được hưởng, theo mức giá thị trường ở địa phương nơi họ đang sinh sống vào thời điểm diễn ra xét xử

Điều 99 Giải quyết quyền lợi của vợ, chồng khi ly hôn trong trường hợp nhà ở thuộc

sở hữu riêng của một bên

Trong trường hợp nhà thuộc sở hữu riêng của một bên đã được đưa vào sử dụng chung thì khi ly hôn, nhà ở đó vẫn thuộc sở hữu riêng của chủ sở hữu nhà, nhưng phải thanh toán cho bên kia một phần giá trị nhà, căn cứ vào công sức bảo dưỡng, nâng cấp, cải tạo, sửa chữa nhà.

Theo điều 99 Luật hôn nhân gia đình năm 2000, các điều 28, 29, 30 Nghị định số 70/2001/NĐ-CP ngày 03/10/2001 quy định, thì việc giải quyết các tranh chấp giữa vợ và chồng khi ly hôn mà nhà thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng hay nhà vợ chồng đang ở đã được thuer của tư nhân, của nhà nước như sau:

- Trường hợp nhà ở do vợ hoặc chồng hoặc cả vợ chồng thuê của nhà nước trước hoặc sau khi kết hôn

1 Nếu trong trường hợp, hợp đồng thuê nhà vẫn còn thời hạn thì các bên thỏa thuận về việc tiếp tục thuê nhà ở đó, nếu các bên không thỏa thuận được và cả hai bên đều có nhu cầu sử dụng thì được Tòa án giải quyết theo quy định tại điều 95 Luật Hôn Nhân Gia Đình năm 2000

Trong trường hợp vợ chồng đã nâng cấp, sửa chữa cải tạo ngôi nhà của nhà nước cho thuê hoặc xây mới nên trên diện tích có nhà cho thuê của nhà nước thì khi ly hôn việc chia quyền sử dụng nhà ở và phần diện tích được nâng cấp, sửa chữa cải tạo xây mới do

Trang 8

các bên tự thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được thì được tòa án giải quyết theo quy định tại Điều 95 Luật Hôn Nhân Gia Đình Nếu chỉ một bên có nhu cầu sử dụng, thì bên

sử dụng phải thanh toán cho bên kia phần giá trị quyền thuê nhà của nhà nước và một phần giá trị nhà đã được nâng cấp, sửa chữa, cải tạo, xây dựng mới mà bên đó được hưởng vào thời điểm chia tài sản khi ly hôn

2 Trong trường hợp vợ, chồng đã được nhà nước chuyển quyền sở hữu đối với nhà đó, thì việc chia nhà khi ly hôn được thực hiện theo quy định tại điều 95 Luật Hôn Nhân Gia Đình nem 2000 (Điều 28 Nghị định 70/2001/NĐ-CP ngày 03 tháng 10 năm 2001)

- Trường hợp vợ chồng thuê nhà ở của tư nhân.

Việc chia quyền sử dụng nhà ở đó phải bảo đảm quyền lợi của chủ sở hữu nhà và tuân theo những quy định sau đây:

1.Trong trường hợp hạn thuê đang còn, thì các bên thỏa thuận với nhau về phần diện tích

mà mỗi bên được thuê và làm lại hợp đồng với chủ sở hữu nhà

2.Trong trường hợp thời hạn thuê đang còn mà chủ sở hữu nhà chỉ đồng ý cho một bên được tiếp tục thuê nhà, thì các bên thỏa thuận về việc một bên được tiếp tục thuê

3.Trong trường hợp nhà ở thuê đã nâng cấp, sửa chữa, cải tạo, xây dựng thêm diện tích gắn liền với nhà thuê và được sự đồng ý của chủ sở hữu nhà, thì bên tiếp tục ở phải phải thanh toán cho bên kia phần giá trị nhà ở đã nâng cấp, sửa chữa, cải tạo, xây dựng them

mà bên đó được hưởng vào thời điểm chia tài sản khi ly hôn

4.Trong trường hợp xây dựng them diện tích nhà độc lập với diện tích thuê và được sự đồng ý của chủ nhà, các bên đã thanh toán tiền sử dụng đất cho chủ nhà, thì việc chia nhà

ở đó thực hiện theo quy định tại Điều 95 Luật Hôn Nhân Gia Đình năm 2000 (Điều 29 nghị định 70/2001/NĐ-CP ngày 03 tháng 10 năm 2001)

- Trường hợp nhà ở thuộc sở hữu riêng của một bên

1.Trong trường hợp nhà ở thuộc sở hữu riêng của một bên vợ hoặc chồng đã đưa vào sử dụng chung, thì khi ly hôn, nhà ở đó vẫn thuộc sở hữu riêng của chủ sở hữu nhà, trừ trường hợp các bên cá thỏa thuận khác Bên vợ hoặc chồng sở hữu nhà có nghĩa vụ hỗ trợ cho bên kia tìm chỗ ở mới, nếu bên kia có khó khăn và không thể tìm được chỗ ở mới Bên chưa có chỗ ở được lưu cư trong thời hạn 6 tháng để tìm chỗ ở khác

Trang 9

2.Trong trường hợp nhà ở đó đã được xây dựng mới, nâng cấp, sửa chữa, cải tạo, thì chủ

sở hữu nhà phải thanh toán cho bên kia phần giá trị nhà đã xây dựng mới, nâng cấp, sửa chữa, cải tạo mà bên đó được hưởng vào thời điểm chia tài sản khi ly hôn (Điều 30 nghị định 70/2001/NĐ-CP ngày 03 tháng 10 năm 2001)

II- VẤN ĐỀ THỰC TIỄN VỀ CHIA QUYỀN SỞ HỮU ĐẤT VÀ NHÀ Ở KHI VỢ CHỒNG LY HÔN

Với những quy định tương đối cụ thể, rõ ràng trên đã tạo thuận lợi cho các cấp Toà án chia nhà đất khi vợ chồng ly hôn Tuy nhiên, vẫn còn một số bản án có thiếu sót đó chủ yếu do những nguyên nhân dưới đây:

1 Xác định sở hữu chung

Trước khi xem xét phân chia nhà đất, cần phải xác định rõ đâu là nhà đất chung, nhà đất riêng của vợ chồng, nhà đất nào là tài sản chung của vợ chồng với người khác, nhà đất nào là di sản thừa kế mà vợ, chồng chỉ là một thừa kế và đang quản lý tài sản… Chỉ khi đã làm rõ được các yêu cầu này thì Thẩm phán mới có cơ sở để phân chia nhà đất cho

vợ, chồng Thực tiễn cho thấy, có nhiều vụ án mà nhà đất được Toà án phân chia cho vợ, chồng không phải là tài sản chung vợ chồng mà là di sản thừa kế chưa chia Sai sót này thường do Thẩm phán tin tưởng vào lời khai của vợ, chồng mà không điều tra rõ về nguồn gốc nhà đất đang tranh chấp Cũng có những vụ án mà Toà án đã chia cả nhà đất của cha mẹ chồng, cha mẹ vợ cho vợ, chồng vì suy đoán cho rằng các bậc cha mẹ đã cho

vợ chồng, nhưng lại không đưa ra được căn cứ xác đáng chứng minh có việc tặng cho nhà đất giữa cha mẹ và vợ chồng Nhưng chủ yếu các vụ án có nhiều sai sót lại tập trung vào việc xác dịnh tài sản chung, tài sản riêng của vợ chồng không đúng… dẫn đến việc lấy nhà đất của người này chia cho người khác

Giải quyết chia nhà đất khi vợ chồng ly hôn, cần phải có sơ đồ chi tiết của nhà đất cần phân chia, đặc biệt là trường hợp chia cho vợ chồng cùng ở trên một ngôi nhà, một thửa đất Việc phân chia phải có sơ đồ kèm theo phần quyết định của bản án Mốc giới phân chia, lối đi, việc xây tường ngăn… cũng cần phải tuyên rõ ràng, cụ thể, chính xác các số

đo, tránh việc nhầm lẫn, có thể hiểu khác nhau Khi phân chia, phải tính toán đến việc thuận lợi, khi sử dụng cho các đương sự như : Vừa có nhà đất ở, vừa có công trình phụ (nếu điều kiện cho phép) và đặc biệt phải có lối đi Trong thực tế, đã có một số bản án có phần quyết định phân chia nhà đất cho vợ chồng rất chung chung, mốc giới không rõ ràng, vẽ sơ đồ cẩu thả, tẩy xoá… Có nhiều bản án tuyên không đúng về số đo, giao nhà cho một bên, còn đất (trên có nhà) lại giao cho bên kia… dẫn đến việc khó có thể thi hành án hoặc không thi hành án được

Trang 10

2 Chia hiện vật

Việc phân chia nhà ở, đất ở cho vợ, chồng trước tiên phải căn cứ vào nhu cầu thực sự

của bên được chia Cần phải xem xét ai cần nhà hơn để phân chia (bằng hiện vật), đảm

bảo quyền lợi chính đáng của cả hai bên đương sự Chú ý đảm bảo quyền lợi cho phụ nữ

phải nuôi con chưa thành niên hoặc đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân

sự, không có khả năng lao động được và không có tài sản tự nuôi mình.

Đối với nhà diện tích quá nhỏ cũng cần phải xét xem hai ngưòi có thực sự ở nhà đó từ

trước khi ly hôn hay vợ, chồng đã có nơi ở khác (ở nhà tập thể cơ quan, quân đội…), hoặc đi công tác ở địa phương khác Cách hay nhất là nên chia cho người đang thực sự ở nhà đất đó, còn cho người kia nhận giá trị Đối với nhà đất có thể chia được mà cả hai bên đều yêu cầu chia, thì tuỳ tình hình cụ thể của nhà đất mà phân chia để đảm bảo giá trị

sử dụng của nhà, chứ không máy móc phải chia thành hai phần bằng nhau cho cả hai bên

đương sự Ví dụ: Nhà mái ngói có 5 gian thì có thể chia cho một bên 2 gian, bên kia 3 gian cho đúng vào xà ngang của nhà để giữ được giá trị sử dụng của ngôi nhà, chứ không nhất thiết phải chia nhà cho cả hai bên đương sự, mà nên chia cho một bên, còn bên kia nhận đất và nhận khoản thanh toán một phần gí trị nhà để có thể làm nhà khác

Khi chia nhà đất cũng cần lưu ý đến nghề nghiệp của các đương sự để phân chia cho hợp

lý Ví dụ: Vợ chồng có tài sản chung là ki ốt bán thuốc tây thì khi ly hôn nên chia cho bên

có nghề dược để tiếp tục kinh doanh… Đối với nhà đất ở vị trí thuận tiện cho kinh doanh: nhà mặt phố, trung tâm chợ… mà cả hai vợ chồng đã dùng làm địa điểm buôn bán đã nhiều năm, nếu việc phân chia nhà đất không làm mất đi giá trị sử dụng của nhà đất thì nên chia cho cả hai vợ chồng (cho dù diện tích nhỏ) để đảm bảo việc buôn bán cho cả hai

vợ chồng khi ly hôn

3 Định giá nhà đất

Không phải bất cứ vụ án ly hôn nào cũng có thể chia hiện vật cho cả hai bên đương

sự Việc định giá nhà đất không đúng và chỉ phân chia hiện vật cho một bên là nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng khiếu kiện kéo dài Cá biệt, có một số vụ án giá nhà đất vẫn được định theo khung giá của Uỷ ban nhân dân tỉnh nơi có đất tranh chấp; việc định giá không có đủ các đương sự; thành phần Hội đồng định giá không đúng theo quy định của pháp luật

Để hướng dẫn việc định giá Tòa án nhân dân tối cao đã có hướng dẫn về thành phần Hội đồng định giá tại điểm 7 mục IV Công văn số 16/1999/KHXX ngày 1-2-1999 và trong Công văn số 92/2000/KHXX ngày 21-7-2000 “Hướng dẫn việc xác định giá quyền sử

dụng đất thì Toà án chấp nhận giá do các bên đương sự tự nguyện thoả thuận được với nhau, nếu không thỏa thuận được thì giá quyền sử dụng đất được xác định theo giá thực

Ngày đăng: 29/01/2016, 15:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w