LỜI MỞ ĐẦUQuyền nhân thân là một trong những quyền dân sự có ý nghĩa vô cùng quan trọng được pháp luật của các quốc gia trên thế giới công nhận và bảo vệ.. Kể cả trong công ước quốc tế l
Trang 1MỤC LỤC.
Trang
LỜI MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 2
I) Cơ sở hình thành và phát triển quyền nhân thân của cá nhân 2
1) Cơ sở lý luận 2
2) Cơ sở pháp lý 2
3) Khái quát về quyền nhân thân 3
3.1) Khái niệm quyền nhân thân 3
3.2) Một số đặc trưng cơ bản của quyền nhân thân 4
4) Qúa trình hình thành và phát triển quyền nhân thân theo quy định của pháp luật Việt Nam 5
II) Nội dung cơ bản của các quyền nhân thân được quy định trong BLDS năm2005 7
III) Phương hướng hoàn thiện pháp luật về quyền nhân thân 19
KẾT LUẬN 20
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
Quyền nhân thân là một trong những quyền dân sự có ý nghĩa vô cùng quan trọng được pháp luật của các quốc gia trên thế giới công nhận và bảo vệ Kể cả trong công ước quốc tế là những văn bản pháp lư cấp cao nhất cũng đă đề cập tới vấn đề quyền nhân thân của con người như tại công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 hay tại bộ luật nhân quyền thế giới…Cùng với các văn bản pháp luật khác, Bộ luật dân sự ( BLDS ) của nước Cộng ḥòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đă ghi nhận và có những cơ chế để bảo vệ quyền nhân thân của chủ thể Cùngvới quá trình lịch sử lập pháp của nhà nước ta, luật dân sự( LDS) cũng luôn có xu hướng là ngày càng hoàn thiện để đáp ứng kịp nhu cầu mà xã hội đặt ra Và quyền nhân thân cũng nằm trong xu hướng đó của LDS BLDS 2005 sửa đổi bổ sung nhiều quy định về quyền nhân thân Đây là cơ sở pháp lư quan trọng thứ hai sau Hiến pháp để ghi nhận và bảo vệ quyền nhân thân Điều kiện hội nhập kinh tế quốc
tế và kinh tế xă hội của nước ta ngày càng phát triển, các quyền của con người và quyền nhân thân của con người được coi trọng hơn bao giờ hết Nhận thức được tầm quan trọng của quyền nhân thân trong thời buổi xã hội hiện nay nên em đã
chọ đề tài: “ Quyền nhân thân và phương hướng hoàn thiện pháp luật về quyền nhân thân.” cho bài tiểu luận của mình Do trình độ còn hạn chế nên có
nhiều thiếu sót, mong thầy cô góp ý cho em
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 3NỘI DUNG.
I) Cơ sở hình thành và phát triển quyền nhân thân của cá nhân.
1) Cơ sở lý luận.
Con người là tổng hòa các mối quan hệ Trong mối quan hệ giữa tự nhiên, xã hội
và con người, thì tự nhiên là cái có trước con người, nhưng con người không chỉthích ứng với tự nhiên mà còn cải tạo ra tự nhiên Nói cách khác, con người vừa làmột thực thể sinh học – xã hội vừa là một cơ thể sống, vừa mang bản chất xã hội.Điều này làm cho con người khác với những thực thể sinh học khác ở chỗ: chỉ conngười mới được hưởng những đặc lợi do địa vị làm người mang lại, đó chính làquyền con người hay quyền nhân thân của mỗi con người Xuất hiện, tồn tại, vậnđộng và phát triển gắn với quá trình tiến hóa của lịch sử xã hội loài người, quyềncon người được coi là một hiện tượng lịch sử xã hội có quá tŕnh phát triển lâu dài
Tư tưởng đó cũng gần như xuất hiện cùng với sự xuất hiện của xã hội loài người.Trải qua các giai đoạn hình thành và phát triển, quyền con người là một khái niệmrộng lớn, phức tạp thậm chí nhiều lúc là đầy mâu thuẫn, bản chất của quyền conngười vừa mang tính tự nhiên vừa mang tính xã hội Hai thuộc tính vốn có củaquyền con người tồn tại tất yếu có mối quan hệ hữu cơ, tác động qua lại với nhau.Tính tự nhiên cho thấy quyền con người là đặc quyền vốn có của con người, nhữngquyền này lại bị chi phối và phụ thuộc vào tŕnh độ phát triển kinh tế, văn hóa, bịchi phối bởi trình độ phát triển của xã hội làm cho nội dung quyền của con ngườichứa đựng tính đặc thù, gắn liền với lịch sử phát triển truyền thống của mỗi quốcgia Tuy nhiên có những quyền của con người mà dù ở bất cứ đâu, bất cứ khi nào,bất cứ quốc gia nào thì nó luôn luôn được đảm bảo đó chính là quyền con người cơbản, sự hiện diện của nó trong hệ thống pháp luật quốc gia là ranh giới khẳng định
có hay không có quyền con người Trong bản tuyên ngôn độc lập của hợp chủng
quốc Hoa kỳ 1776 khẳng định” con người sinh ra đều bình đẳng, đấng tạo hóa đã
dành cho họ một số quyền không thể bị tước đoạt Trong các quyền đó có quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc.” Một trong những đặc trưng cơ
bản của quyền con người đó là được đảm bảo bằng Nhà Nước và pháp luật Nhànước và pháp luật là công cụ, phương tiện bảo vệ quyền con người Thông qua việcban hành các quy định pháp luật Nhà nước quy định các quyền của công dân trong
đó có quyền nhân thân Quyền công dân tạo nên địa vị pháp lý của công dân trong
xã hội, thể hiện mối quan hệ về mặt pháp lý giữa một cá nhân và một quốc gia
2) Cơ sở pháp lý.
2.1) Hiến pháp.
Trang 4Hiến pháp là đạo luật cơ bản, đạo luật gốc của một quốc gia, là cơ sở hình thành hệthống pháp luật và xây dựng các văn bản pháp luật khác Căn cứ vào quy địnhcủa Hiến pháp các ngành luật cụ thể hóa bằng các quy định để tác động tới cácquan hệ mà nó có nhiệm vụ điều chỉnh.
Đối với LDS nói chung và các quy đinh về quyền nhân thân trong BLDS, Hiếnpháp quy định một các rất khái quát về quyền nhân thân Hiến pháp năm 1992 quyđịnh những nguyên tắc cơ bản của chế độ xă hội chủ nghĩa Việt Nam ở giai đoạnđầu thời quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội Trong Hiến pháp năm 1992, quy định rấtnhiều những vấn đề của đất nước, của hệ thống pháp luật và của cả hệ thống chínhtrị… Trong đó có chương II và chương V có nhiều quy định liên quan tới LDS.Đặc biệt trong chương V quy định về quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân.Ngoài những quyền về chính trị xã hội là một loại các quyền công dân được Hiếnpháp ghi nhận như: quyền bình đẳng về năng lực pháp luật dân sự của cá nhân, cácquyền nhân thân và quyền tài sản…
vệ lợi ích của Nhà nước, của tập thể và đặc biệt là của cá nhân.BLDS cụ thể hóa các quyền nhân thân của cá nhân mà Hiến pháp ghi nhận, là chuẩn mực ứng xử pháp luật cho các chủ thể khi tham gia quan hệ dân sự và thực hiện những quyền nhân thân gắn với mỗi chủ thể.Quyền nhân thân trong BLDS 2005 được quy định
từ Điều 24 đền Điều 51 Số lượng các quy định trong BLDS cũng chiếm một phần đáng kể và tới BLDS 2005 đã đánh dấu những bước phát triển mới trong việc xây dựng và hoàn thiện về quyền nhân thân của cá nhân
3) Khái quát về quyền nhân thân.
3.1) Khái niệm quyền nhân thân.
Theo quy định của Điều 24 – BLDS: “ quyền nhân thân được quy định trong bộ
luật này là quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân, không thể chuyển giao cho người khác, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác” Theo đó chúng ta có thể
hiểu nhân thân là những yếu tố gắn liền với mỗi con nguời cụ thể, liên quan trựctiếp tới cá nhân như hình dáng, khuôn mặt, hoàn cảnh gia đình, nghề nghiệp…
Trang 5Dưới góc độ pháp luật dân sự thì không phải mỗi yếu tố liên quan đến bản thânmỗi con người đều ảnh hưởng đến việc hưởng quyền nhân thân của họ Ví dụ: bất
cứ cá nhân nào cũng đều có quyền đối với quốc tịch Tuy nhiên có nhiều yếu tốliên quan đến nhân thân của con người lại ảnh hưởng trực tiếp đến việc hưởngquyền dân sự của họ
Điều 24 BLDS đã đưa ra những quy định chung nhất về quyền nhân thân, qua quyđịnh này chúng ta có thể định nghĩa về quyền nhân thân như sau:
pháp luật do Nhà nước ban hành, trong đó có nội dung quy định cho các cá nhân cócác quyền nhân thân gắn liền với bản thân mình và đây là cơ sở để cá nhân thựchiện quyền của mình
nhân do Nhà nước quy định cho mỗi cá nhân và cá nhân không thể chuyển giaoquyền này cho người khác trừ trường hợp pháp luật có quy định khác
3.2) Một số đặc trưng cơ bản của quyền nhân thân
3.2.1) Quyền nhân thân luôn gắn với một chủ thể nhất định và về nguyên tắc không thể dịch chuyển cho chủ thể khác.
Quyền nhân thân trở thành một thuộc tính của chủ thể mà không bị phụ thuộc và chi phối bởi bất cứ yếu tố khách quan nào như độ tuổi, trình độ, giới tính tôn giáo Pháp luật quy định cho mỗi chủ thể đều bình đẳng về quyền nhân thân Quyền nhân thân không thể chuyển giao cho người khác nghĩa là quyển nhân thân không phải là đối tượng trong các giao dịch trao đổi, mua, bán, tặng cho Tuy nhiên tính chất không thể chuyển giao của quyền nhân thân chỉ là tương đối, bởi vìtrong một số trường hợp, quyền nhân thân có thể được chuyển giao cho người kháctheo quy định của pháp luật Chẳng hạn quyền nhân thân gắn liền với tài sản được phép chuyển giao
3.2.2) Quyền nhân thân không xác định được bằng tiền.
Giá trị nhân thân và tiền tệ không phải là những đại lượng tương đương và không thể trao đổi ngang giá Chính vì vậy quyền nhân thân không thể bị kê biên
3.2.3) Hành vi xâm phạm quyền nhân thân của cá nhân không nhất thiết phải gây thiệt hại cho cá nhân đó
Trang 6Điều đó có nghĩa là thiệt hại không phải là căn cứ bắt buộc để xác định tráchnhiệm pháp lý đối với người thực hiện hành vi xâm phạm.
3.2.4) Thiệt hại khi quyền nhân thân bị xâm phạm không có tiêu chí cụ thể để định lượng.
Quyền nhân thân gắn liền với những giá trị tinh thần, đối với mỗi cá nhân, những giá trị đó không có chuẩn mực chung, cũng không có tiêu chí chung Vì thế thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền nhân thân không được cân, đo, đong, đếm bằng những đại lượng cụ thể Trong các quyền nhân thân, quyền nhân thân liên quan đến đời sống tinh thần của cá nhân luôn chiếm một nội dung lớn Quyền nhânthân liên quan đến đời sống tinh thần của con người là quyền của cá nhân phát sinhtrong sinh hoạt nội tâm của con người
4) Qúa trình hình thành và phát triển quyền nhân thân theo quy định của pháp luật Việt Nam.
Đối với Việt Nam, quyền nhân thân của cá nhân cũng có những bước phát triển nhất định Dưới thời Pháp thuộc, các quyền dân sự nói chung và quyền nhân thân nói riêng được Hiến Pháp quy định nhằm chủ yếu bảo vệ quyền lợi cho giai cấp thống trị trong xã hội, người dân lao động hầu như không được biết đến quyền đó
Qua mỗi giai đoạn khác nhau của lịch sử, pháp luật dân sự nói chung và pháp luật Việt Nam nói riêng đều có những bước tiến bộ không ngừng trong việc quy định và bảo đảm cho cá nhân được hưởng các quyền nhân thân do Nhà nước quy định Qúa trình phát triển quyền nhân thân qua các giai đoạn:
Giai đoạn 1945 – 1959:
Quyền nhân thân được thể hiện trong Hiến pháp năm 1946 Trong bối cảnh đất nước vừa thoát khỏi chế độ xã hội cũ – xã hội mà mọi người đều chịu sự kiểm soát, tù đày với những lý do không thể hiểu thì quy định của Hiến pháp năm 1946
về quyền nhân thân đã đánh giá được sự tiến bộ của Nhà nước ta trong việc phấn đấu giành quyền tự do dân chủ cho con người Trên cơ sở quy định của Hiến pháp, các văn bản pháp có hiệu lực sau Hiến pháp giai đoạn này cũng cụ thể hóa các quyền nhân thân của cá nhân, trong đó phải kể đến Luật báo chí ngày 20/5/1956,
Trang 7quyền tự do ngôn luận là một nội dung quan trọng được quy định trong luật dân sự năm 1956.
Giai đoạn 1959 – 1980:
Hiến pháp năm 1959 đã dành Chương 3 với tiêu đề “ quyền lợi và nghĩa vụ
cơ bản của công dân”, trong đó có các quy định về quyền dân sự nói chung và quyền nhân thân nói riêng từ Điều 22 đến Điều 42 Trong bối cảnh đất nước có nhiều biến động, các quy định về quyền nhân thân của cá nhân được quy định trong Hiến pháp năm 1959 có ý nghĩa lịch sử - xã hội sâu sắc Các quy định này đãtạo niềm tin cho con người với Xã hội chủ nghĩa, động viên khích lệ tinh thần đấu tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược của nhân dân ta
Giai đoạn 1980 – 1992:
Trên cơ sở Hiến pháp năm 1980, Nhà nước ta đã ban hành rất nhiều các văn bản pháp luật để cụ thể hóa các quy định liên quan đến việc ghi nhận và thực hiện quyền dân sự của cá nhân, trong đó có các quyền nhân thân.Bên cạnh các quy định của pháp luật liên quan đến quyền nhân thân của cá nhân, Nhà nước đã có những
nỗ lực quan trọng trong việc ký kết cũng như tham gia các công ước quốc tế rong lĩnh vực quyền con người
Giai đoạn 1992 đến nay:
Bộ luật dân sự(BLDS) năm 1995 ra đời đã đề cập đến các quyền nhân thân một cách đa dạng bao gồm các quy định từ Điều 26 đến Điều 47 Có thể nói là lần đầu tiên một văn bản pháp lý có hiệu lực cao nhất trong lĩnh vực dân sự đã ghi nhận các quyền nhân thân của cá nhân cũng như phương thức để bảo vệ quyền nhân thân Đây chính là cơ sở pháp lý và là nền tảng để các cá nhân thực hiện quyền nhân thân của mình Qua gần mười năm áp dụng vào thực tiễn để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các chủ thể khi thực hiện quyền dân sự của mình nóichung và quyền nhân thân nói riêng Tuy nhiên trong quá trình thực hiện thì BLDSnăm 1995 đã bộc lộ những khiếm khuyết nhất định cần sửa đổivà bổ sung vì thế nên BLDS năm 2005 đã ra đời Khi quy định về quyền nhân thân, BLDS 2005 quy định quyền được khai sinh, quyền được khai tử là quyền nhân thân của cá nhân Ngoài ra lần đầu tiên đưa vào một số quyền nhân thân liên quan đến đạo đức sinh học đó là các quyền hiến bộ phận cơ thể (Điều 33); quyền hiến xác, bộ phận cơ thể
Trang 8sau khi chết (Điều 34); quyền nhận bộ phận cơ thể người (Điều 35); quyền xác định lại giới tính (Điều 36) Ngoài việc bổ sung quy định mới về một số quyền nhân thân thì hầu hết các quyền nhân thân được quy định trong BLDS năm 1995 cũng được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp như Điều 27, Điều 28, Điều 31, Điều 32, Điều 37, Điều 38.
II) Nội dung cơ bản của các quyền nhân thân được quy định trong BLDS năm 2005
1) Nhóm các quyền nhân thân gắn liền với chủ thể trong quan hệ hôn nhân và gia đình.
Quyền kết hôn là quyền nhân thân gắn liền với nhân thân của chủ thể không thể chuyển giao cho người khác Quyền kết hôn là quyền nhân thân không gắn với tài sản Pháp luật đảm bảo quyền tự do kết hôn của mỗi cá nhân nhưng cá nhân chỉ
có thể thực hiện quyền kết hôn khi đáp ứng được một số điều kiện nhất định Khi thực hiện quyền kết hôn, mỗi cá nhân cần có năng lực chủ thể bao gồm năng lực pháp luật và năng lực hành vi Theo quy định của luật Hôn nhân và gia đình năm
2000 quy định điều kiện về độ tuổi kết hôn chính là xác định độ tuổi có năng lực hành vi kết hôn Quy định về sự tự nguyện kết hôn chính là xác định khả năng nhận thức và tình cảm ý chí của cá nhân khi thực hiện quyền kết hôn
Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 không cấm những người bị nhiễm HIV kết hôn, quy định này nhằm đảm bảo quyền con người trong xã hội hiện đại Tuy nhiên nếu một người bị nhiễm HIV mà lừa dối người khác để thực hiện quyền kết hôn thì bị coi là trái pháp luật Luật cấm kết hôn giữa những người có cùng dòng máu trực hệ, có trong phạ vi ba đời giữa cha mẹ nuôi và con nuôi những quy định này là hạn chế năng lực pháp luật kết hôn của cá nhân Bởi khi thực hiện quyền kết hôn trong những trường hợp này sẽ ảnh hưởng đến các chủ thể trong cácmối quan hệ khác, đi ngược với phong tục tập quán và đạo đực truyền thống
Điều 40 BLDS quy định: “ Vợ, chồng bình đẳng với nhau, có quyền, nghĩa vụ ngang nhau về mọi mặt trong gia đình và trong quan hệ dân sự, cùng nhau xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, bền vững.”
Như vậy, quyền bình đảng vợ chồng là quyền nhân thân gắn liền với vợ chồng mà không thể chuyển giao cho người khác Đây là quyền đồng thời cũng là nghĩa vụ
Trang 9của hai bên vợ chồng đối với nhau Quyền được hưởng sự chung thủy của chồng hoặc vợ đối với mình là một loại quyền nhân thân rất trừu tượng.Khi vợ hoặc chồng có hành vi vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng thì người kia có quyền yêu cầu họ chấm dứt sự vi phạm đó,có thể yêu cầu cơ quan Nhà nước có thẩm quyền bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình, đó là phương thức hữu hiệu để bảo vệ quyền nhân thân Tuy nhiên hành vi đó có thể làm ảnh hưởng đến danh dự nhân phẩm, uy tín của người đó Mặc dù luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 đã quy định tại Điều 20: “ Vợ, chồng tôn trọng và giữ gìn danh dự, nhân phẩm, uy tín cho nhau, cấm vợ, chồng có hành vi ngược đãi, hành hạ, xúc phạm danh dự, nhân phẩm uy tín của nhau.”
Quyền nhân thân giữa vợ và chồng luôn có mối liên hệ khăng khít gắn bó với nhau, có ảnh hưởng lẫn nhau Do đó, một khi quyền bị lạm dụng hoặc bị xâm phạm thì luôn kéo theo các quyền nhân thân khác cũng bị ảnh hưởng theo.Điều 42 BLDS quy định: “ Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu tòa án giải quyếtviệc ly hôn.”
Quyền ly hôn đặt trong mối quan hệ hôn nhân và gia đình là quyền nhân thân gắn liền với vợ, chồng và không thể chuyển giao cho người khác Bản thân
vợ, chồng mới là người có quyền yêu cầu tòa án chấm dứt quyền hôn nhân của họ Tuy nhiên cũng như quyền kết hôn, quyền ly hôn của cá nhân có thể bị hạn chế trong những trường hợp nhất định Quyền ly hôn về nguyên tắc chỉ thuộc về vợ chồng có hôn nhân hợp pháp, đối với trường hợp nam nữ chung sống như vợ, chồng không có đăng ký kết hôn thì không được pháp luật thừa nhận là vợ chồng,
do đó pháp luật không thừa nhận quyền ly hôn của các chủ thể trong mối quan hệ
đó, trừ trường hợp việc chung sống như vợ chồng được coi là có giá trị pháp lý theo quy ddinhhj của pháp luật
Đối với các quyền nhân thân có liên quan đến mối quan hệ giữa cha mẹ, con
và các thành viên khác trong gia đình tại các Điều26, Điều 27, Điều 28, Điều 29, Điều 41, Điều 45 quy định, người con có quyền được khai sinh, có họ tên, dân tộc,quốc tịch Người con được quyền xác định bố mẹ và được cha mẹ mình chăm sóc Đây là một trong những quyền nhân thân đặc biệt quan trọng trong các quyền
cơ bản của trẻ em Khi người con được sinh ra mà không có cha mẹ hoặc cha mẹ không thừa nhận thì có thể bảo vệ quyền của mình bằng các phương thức khác nhau theo Điều 43 BLDS quy định:
Trang 10“ 1 Người không được nhận là cha, mẹ hoặc là con của người khác có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định mình là cha, mẹ hoặc là con của người đó.
2 Người được nhận là cha, mẹ hoặc là con của người khác có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định mình không phải là cha, mẹ hoặc là con của người đó.”
Pháp luật không có sự phân biệt giữa con trong giá thú và con ngoài giá thú đều được quyền biết nguồn gốc, huyết thống của mình trừ trường hợp đặc biệt do pháp luật quy định Trong thực tế, nhóm quyền đặc biệt này của con người luôn bị xâm phạm, không đảm bảo các quyền cơ bản của trẻ em nói riêng và quyền con người nói chung Do vậy, pháp luật cần phải bổ sung phần hậu quả pháp lý đối với việc xác định cha, mẹ, con
Điều 44 BLDS quy định về quyền được nuôi con nuôi và quyền được nhận làm con nuôi Có thể nói, quyền nhận nuôi con nuôi là một quyền nhân thân của cánhân khi đáp ứng các điều kiện do luật Hôn nhân và gia đình quy định Quyền nhận nuôi con nuôi đã tạo ra quyền làm cha, làm mẹ của người nhận nuôi nhằm gắn bó tình cảm giữa người nhận nuôi và người được nhận nuôi trong quan hệ cha
mẹ và con Như vậy, BLDS đã có những quy định cụ thể về quyền nhân thân trong lĩnh vực Hôn nhân và gia đình Ngoài ra luật Hôn nhân và gia đình cũng quy định chi tiết về các quyền nhân thân này Đây được coi là cơ sở pháp lý quan trọng để các cá nhân trong mối quan hệ hôn nhân và gia đình tôn trọng và hưởng các quyền nhân thân do pháp luật quy định
2) Nhóm quyền nhân thân liên quan đến sự cá biệt hóa cá nhân, quyền của các nhân đối với họ tên, hình ảnh và dân tộc.
Như chúng ta đã thấy, tính cá biệt hóa cá nhân thể hiện rất rõ đặc trưng của LDS Khi tham gia vào quan hệ, mỗi cá nhân độc lập với nhau và độc lập với các chủ thể khác của quan hệ pháp luật Việc phân biệt chủ thể này với chủ thể khác của quan hệ pháp luật có ý nghĩa trong việc xác định rõ quyền, nghĩa vụ của chủ thể mà còn có ý nghĩa trong việc xác định trách nhiệm pháp lý của chủ thể khi tham gia vào quan hệ pháp luật nói chung và quan hệ pháp luật dân sự nói riêng Trong số các quyền nhân thân liên quan đến cá biệt hóa cá nhân thì quyền của cá
Trang 11nhân đối với họ, tên, quyền xác định dân tộc và quyền của cá nhân đối với hình ảnh là những quyền năng cơ bản và thể hiện quyền cá biệt rõ nét nhất.
Mỗi cá nhân sinh ra đều có tên gọi của mình do cha, mẹ đặt cho để phân biệt
cá nhân đó với những cá nhân khác, đó là các quyền đối với họ tên và quyền thay đổi họ, tên được quy định trong Điều 26, Điều 27 BLDS Mặc dù một người có thể
có nhiều tên gọi khác nhau như tên khai sinh, tên thường gọi, biệt hiệu, bí danh, nhưng khi tham gia quan hệ pháp luật, mỗi cá nhân chỉ được công nhận mang một tên riêng để phân biệt với những cá nhân khác Đó là tên khai sinh của người đó được ghi trong giấy khai sinh
Quyền đối với họ tên là một quyền nhân thân của cá nhân Cá nhân có
quyền nhân thân này kể từ khi sinh ra Tuy nhiên việc thực hiện quyền nhân thân này lại không phụ thuộc vào cá nhân, đó là những em bé không có năng lực hành
vi dân sự mà hoàn toàn phụ thuộc vào người khác, những người có quyền và trách nhiệm đăng ký khai sinh cho trẻ Trong trường hợp trẻ em không được đăng ký khai sinh do lỗi của người lớn thì rõ ràng quyền và lợi ích của trẻ em bị xâm phạm
Để khắc phục tình trạng này, pháp luật cần quy định rõ hơn về trách nhiệm của người không thực hiện việc khai sinh cho trẻ cũng như cần bổ sung thêm trường hợp một người có thể tự đi đăng ký khai sinh cho chính mình
Quyền xác định dân tộc cũng là một quyền nhân thân của cá nhân được páp luật công nhận và bảo vệ Theo Điều 28 BLDS quy định thì cá nhân sinh ra được
xác định dân tộc theo dân tộc cảu cha đẻ, mẹ đẻ Trong trường hợp cha đẻ, mẹ đẻ thuộc hai dân tộc khác nhau thì dân tộc của người con được xác định là dân tộc củacha đẻ hoặc mẹ đẻ theo tập quán hoặc thỏa thuận của hai người Mặc dù quyền xác định dân tộc là quyền được BLDS quy định, tuy nhiên cụ thể hóa quyền nayftrong các văn bản dưới luật còn có sự “lúng túng” của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.Theo quy định của khoản 3 Điều 16 Nghị định 158 của Chính Phủ hướng dẫn về đăng ký hộ tịch thì trong trường hợp khai sinh cho trẻ bị bỏ rơi thì phần cha,mẹ, dân tộc được bỏ trống Quy định này tạo thuận lợi cho việc đăng ký khia sinh cho trẻ được dễ dàng cũng như tạo được sự chính xác khi xác định dân tộc cho trẻ Tuyvậy quy định này có điểm hạn chế, trong trường hợp sau đó không xác định được cha mẹ đẻ của trẻ cũng như không được nhận làm con nuôi, lớn lên không có dân tộc dẫn đến quyền nhân thân của cá nhân không thể thực hiện được Đối với trường