1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoàn thiện pháp luật nhằm đảm bảo thựchiện quyền và nghĩa vụ của người bào chữa

17 332 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 116 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI MỞ ĐẦUKhi một người bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam về một hành vi vi phạm pháp luật hình sự nào đó bản thân họ thường muốn được giúp đỡ, giúp họ về mặt pháp lý để họ được vô tội, để đư

Trang 1

MỤC LỤC Trang

LỜI MỞ ĐẦU……… 1

NỘI DUNG……… 1

1 Người bào chữa……… 1

1.1 khái niệm về người bào chữa……… 1

1.2 những người có quyền tham gia bào chữa……… 2

2 Quyền và nghĩa vụ của người bào chữa………2

2.1 quyền của người bào chữa………2

2.2 nghĩa vụ của người bào chữa………7

3 Hoàn thiện pháp luật nhằm đảm bảo thực hiện quyều và nghĩa vụ của người bào chữa……….9

KẾT LẬN………15

Trang 2

LỜI MỞ ĐẦU

Khi một người bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam về một hành vi vi phạm pháp luật hình sự nào đó bản thân họ thường muốn được giúp đỡ, giúp họ

về mặt pháp lý để họ được vô tội, để được giảm nhẹ hình phạt…và pháp luật cũng có quy định cho họ có quyền mời người bào chữa hoặc trong một

số trường hợp, bắt buộc phải có người bào chữa Đó là những quyền họ được hưởng nhưng người bào chữa cũng chỉ được quyền bào chữa trong phạm vi thẩm quyền đồng thời, người bào chữa cũng phải thực hiện những nghĩa vụ đối với việc bào chữa đó

NỘI DUNG

1 Người bào chữa

1.1 khái niệm về người bào chữa

“Người bào chữa là người được các cơ quan tiến hành tố tụng chứng nhận, tham gia tố tụng để đưa ra những tình tiết xác định người bị tạm giữ,

bị can, bị cáo vô tội, những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo và giúp đỡ người bị tạm giữ, bị can, bị cáo

về mặt pháp lý nhằm bào về quyền và lợi ích hợp pháp của họ.”(1) Theo như khái niệm trên thì người bào chữa ở đây có thể là nhiều người khác nhau và mục đích của việc bào chữa là làm sao cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo

có lợi nhất trong suốt quá trình đưa người bị tạm giữ, bị can, bị cáo đó ra điều tra, truy tố và xét xử theo quy định của pháp luật như là

bào chữa cho bị cáo vô tội, bào chữa cho bị cáo được giảm nhẹ hình phạt trên cơ sở quy định của pháp luật

(1): Trang 135, Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam; trường Đại học Luật Hà Nộ

Trang 3

1.2 những người có quyền tham gia bào chữa

Khoản 1 Điều 56 BLTTHS quy định “ người bào chữa có thể là: a

Luật sư; b Người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo;

c Bào chữa viện nhân dân.”

Luật sư là người có khả năng chuyên môn về pháp luật, được cấp giấy chứng nhận hành nghề theo quy định của pháp luật, Bào chữa theo yêu cầu của cá nhân, tổ chức nhặm bào vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người

bị tạm giữ, bị can, bị cáo trên cơ sở các quy định của pháp luật

Người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo cũng có quyền bào chữa người đại diện hợp pháp ở đây là cha mẹ của người bị tạm giữ, bị can, bị cao kể cả đối với người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần, thể chất hoặc người đại diện hợp pháp cũng có thể là người giám hộ đối với trường hợp người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thân, thể chất có quyền bào chữa bảo vệ quyền lợi cho đương sự

Bào chữa viên nhân dân là người bảo vệ quyện và lợi ích chính đáng cho người bị tạm giữ, bị can, bị cao là thành viên của tổ chức mình

Khi tiến hành các hoạt động bào chữa, Bào chữa viên nhân dân, Luật

sư, người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo đều có các quyền và nghĩa vụ chung theo quy định của pháp luật về người bào chữa

2 Quyền và nghĩa vụ của người bào chữa

2.1 quyền của người bào chữa

Theo quy định tại khoản 2 Điều 58 BLTTHS thì người bào chữa có các quyền sau:

+ Người bào chữa được quyền có mặt trong các giai đoạn điều tra, có mặt khi cơ quan điều tra hỏi cung người bị tạm giam, bị can, được hỏi người bị tạm giữ, bị can ngay trong quá trình hỏi cung nếu có sự đồng ý của điều tra viên; được xem các biên bản về hoạt động tố tụng mà khi hoạt

Trang 4

động tố tụng đó diền ra có sự tham gia của người bào chữa và được xem các quyết định về tố tụng liên quan đến người mà mình nhận bào chữa

Việc pháp luật quy định cho người bào chữa có quyền có mặt trong quá trình hỏi cung và các giai đoạn điều tra khác là để ngươi bị tạm giữ, bị can có sự giúp đỡ, ổn định về tinh thần, cùng với đó là việc người bào chữa bảo vệ quyền lợi chính đáng cho người bị tạm giữa, bị can khỏi sự xâm hại của những điều tra viên đến thân thể hoặc tinh thần của người bị tạm giữ, bị can Bởi trong quá trình hỏi cung, lấy lời khai, các điều tra viên có thể trong một số trường hợp nào đó sử dụng các biện pháp “mạnh” trái pháp luật như

ép cung, đánh đập, lăng mạ… người bị tạm giữ, bị can, với mục đích lấy được lời khai Nên việc người bào chữa có quyền có mặt khi cơ quan điều tra lấy hỏi cung lấy lời khai của người bị tạm giữ, bị can là cần thiết để kịp thời bảo vệ quyền lợi chính đáng cho thân chủ

Người bào chữa cũng có quyền được hỏi người bị tạm giữ, bị can ngay trong quá trình cơ quan điều tra đang hỏi cung nếu Điều tra viên đồng

ý vì mục đích của quy định này là người bào chữa đặt ra các câu hỏi để làm

rõ hơn các tình tiết giảm nhẹ cho bị can, người bị tạm giữ Việc người bào chữa được quyện xem lại các quyết định tố tụng của cơ quan điều tra đối với thân chủ của mình và được xem lại các biên bản về hoạt động tố tụng

có sự tham gia của người bào chữa là để người bào chữa biết được cơ quan điều tra có làm đúng, trong biên bản có gi đúng những gì mà quá trình điều tra diễn ra hay không đển kịp thời lên tiếng bảo vệ quyện lợi chính đáng cho thân chủ, nếu phát hiện có những sai phạm thì người bào chữa có quyền khiếu nại đến cơ quan chức năng có thểm quyền xem xét và xử lý vi phạm đó

+ Người bao chữa có quyền đề nghị cơ quan điều tra báo trước về thời gian, địa điểm diễn ra hoạt động hỏi cung để người bào chữa kịp thời

có mặt khi hoạt động hỏi cung diễn ra Đây là một quyền cần thiết của người bào chữa vì khi hoạt động hỏi cung được diễn ra, nguy cơ các quyền

Trang 5

lợi chính đáng của người bị tạm giữ, của bị can dễ bị xâm hại bởi hoạt động hỏi cung của các điều tra viên Để lấy được lời khai của người bị tạm giữ, của bị can Điều tra viên nhiều khi không tuân thủ pháp luật, có thể họ sử dụng các thủ đoạn nghiệp vụ như đánh đập, xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm của người bị tạm giữ, bị can nhằm có được lời khai từ họ Người bào chữa có mặt để kịp thời ngăn chặn các hành vi xâm hại của điều tra viên nếu các hành vi đó diễn ra

+ Người bào chữa có quyền đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, thay đổi người giám định hoặc thay đổi người phiên dịch theo quy định của BLTTHS năm 2003 Bởi khi có căn cứ cho rằng người tiến hành tố tụng, người giám định, hoặc người phiên dịch không khách qua trong quá trình tố tụng, hay họ là người thân ruột thịt của người có quyền và lợi ích đối lập với người bị tạm giữ, bị can…thì người bào chữa có quyền đề nghị thay đổi những người đó để bảo vệ quyền lợi cho bị can, người bị tạm giữ

+ Khi người bị tạm giữ, bị can, bị cáo đưa ra yêu cầu thu thập tài liệu, đồ vật, thu thập các tình tiết liên quan đến việc bào chữa cho họ thì người bào chữa có quyền thu thập tài liệu, đồ vật, thu thập các tình tiết từ chính người bị tạm giữ, bị can, bị cáo hoặc thu thập tài liệu, đồ vật và các tình tiết liên quan từ những người thân thích, từ các cơ quan, tổ chức để đưa

ra các luận chứng, tài liệu, đồ vật…chứng minh người bị tạm giữ, bị can, bị cáo vô tội hoặc làm giảm nhẹ hình phạt cho họ kể cả khi người bị tạm giữ,

bị can, bị cáo không đưa ra yêu cầu nhưng bản thân người bào chữa thấy

cần thiết thì người bào chữa cũng có quyền “đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu

cầu” (Điểm đ Khoản 2 Điều 58 BLTTHS năm 2003) để làm sáng tỏ các

tình tiết của vụ án, làm giảm nhẹ tội hoặc chứng minh người bị tạm giữ, bị can, bị cáo vô tội Trong quá trình người bị tạm giữ, bị can, bị cáo bị tạm giam người bào chữa cũng có quyện gặp gỡ, trao đổi bàn bạc với họ về các tình tiết của vụ án, xác minh quá trình diễn ra vụ việc, đữa ra các chứng cứ

Trang 6

chứng minh họ vô tội hoặc các chứng cứ làm giảm nhẹ tội cho người bị tạm giữ, bị can, bị cao…

+ Người bào chữa có quyền đọc, ghi chép và sao chụp những tài liệu trong hồ sơ vụ án liên quan đến việc bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can,

bị cao sau khi quá trình điều tra kết thúc theo quy định của pháp luật

Cùng với việc tiếp xúc, gặp gỡ người bị tạm giữ, bị can, bị cáo thì việc đọc, nghi chép và sao chụp các tài liệu liên qun trong hồ sơ vụ án, từ

đó người bào chữa nắm được rõ hơn nội dung của vụ án, nắm được các chứng cứ buộc tội, những chứng cứ gỡ tội đối với người họ bào chữa vì nội dung của hồ sơ vụ án luôn phải ghi rõ tất cả các vấn đề như tình tiết của vụ

án, quá trình diễn ra vụ án, thời gian, địa điểm, các chứng cứ của vụ án…để qua đó người bào chữa biết và đưa ra hướng giải quyết vụ việc, chuẩn bị để đưa ra các tranh luận trong phần tranh luận tại phiên tòa…sao cho làm giảm nhẹ được tội, giảm nhẹ được hình phạt một cách tối đa cho người được bào chữa

Việc sao chụp, đọc và nghiên cứu hồ sơ, những tài liệu liên quan đến

vụ án cũng là điều hết sức cần thiết để qua đó người bào chữa có cơ hội xem xét tìm ra các sai lầm, vi phạm, các thiếu sót trong quá trình điều tra của cơ quan điều tra trên cơ sở những vi phạm, sai sót đó người bào chữa

có thể đưa ra các yêu cầu, các kiến nghị, khiếu nại cần thiết đến cơ quan có thẩm quyền nhằm bảo vệ quyền lợi cho người được bào chữa

+ Người bào chữa có quyền tham gia hỏi, tranh luận tại phiên tòa Trong giai đoạn này vai trò của người bào chữa được thể hiện rõ nhất, đây

là giai đoạn người bào chữa thể hiện ra được tất cả những gì mà họ đã chuẩn bị trước đó kể từ khi người bào chữa nhận được lời mời bào chữa hoặc nhận được yêu cầu bào chữa cho đến khi mở phiên tòa xét xử Giai đoạn này người bào chữa có quyền đặt ra những câu hỏi cho bị cáo và những người khác có liên quan đến vụ án như nguyên đơn, người bị hại, người làm chứng…sao cho câu trả lời của những người được hỏi làm lợi

Trang 7

cho bị cáo Khi tranh luận người bào chữa đưa ra các lập luận, các phân tích, đánh giá và đưa ra các tình tiết, các chứng cứ gỡ tội mà trước đó người bào chữa đã thu thập được nhằm bảo vệ bị cáo và đồng thời bác bác bỏ những lời cáo buộc của người bào chữa phía bên kia hay của chính viện kiểm sát

+ Người bào chữa có quyền khiếu nại các quyết định, các hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng Trong suốt quá trình từ khi có quyết định điều tra cho đến khi kết thúc phiên tòa nếu người bào chữa có căn cứ cho rằng cơ quan điều tra, viện kiểm sát, tòa án có những sai sót,có những hành vi vi phạm pháp luật có tính chất làm tăng năng trách nhiệm hình sự cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, kết tội cho người vô tội…thì người bào chữa có quyền khiếu nại các quyết định, khiếu nại các hành vi vi phạm của các cơ quan tiến hành tố tụng để bảo vệ những quyền lợi chính đáng cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo mà đối với họ những quyền đó là những quyền họ đáng được hưởng

+ Người bào chữa cũng có quyền kháng cáo bản án, quyết định của tòa án nếu bị cáo là người chưa thành niên hoặc bị cáo là người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất Trong trường hợp này người bào chữa hoàn toán có quyền kháng cáo bản án, quyết định của tòa án sao cho có lợi nhất cho bị cáo mà không cần phải hỏi ý kiến của người đại diện hoặc thậm chí cũng không cần hỏi ý kiến của bị cáo, đây là môt quyền độc lập mà pháp luật chao cho người bào chữa khi người bào chữa xét thấy bản bán, quyết định chưa có hiệu lực pháp luật tuyên cho bị cáo nặng hơn so với hành vi, so với tội mà bị cáo đã thực hiện Đây cũng có thể coi là một chính sách nhân đạo của nhà nước đối với người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần, thể chất, pháp luật cho họ thêm cơ hội có quyền khánh bản án quyết định của tòa án thông qua người bàn chữa bởi thông thường người bào chữa là người có kiến thức, có hiểu biết về pháp luật và đối với những trường hợp người bào chữa là luật sư thì những người này họ có

Trang 8

trình độ chuyên môn cao, là chuyên gia về pháp luật nên hộ là những người

đủ khả năng, nhiều kinh nghiệm để bào chữa cho bị cáo, và họ cũng đủ khảng năng để đoán biết, dự đoán tội của bị cáo là nặng nhẹ đến mức nào

để có thể đưa ra quyết định có kháng cáo bản án, quyết định của tòa án hay không

2.2 nghĩa vụ của người bào chữa

Người bào chữa có các nghĩa vụ theo quy định tại khỏa 3 Điều 58 BLTTHS năm 2003 như sau:

+ Người bào chữa có nghĩa vụ sử dụng mọi biện pháp theo quy đinh của pháp luật để làm sáng tỏ các tình tiết xác định bị can, bị cáo vô tội hoặc được giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Đây là nhiệm vụ quan trọng nhất của người bào chữa bởi mục đích của chế định người bào chữa là để bảo vệ bị can, bị cáo bảo vệ lẽ phải, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị can, bị cáo khỏi sự xâm hại của các cơ quan nhà nước tiến hành các hoạt động tố tụng như hỏi cung, xét xử…

+ Người bào chữa có nghĩa vụ giao cho cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án các tài liệu, đồ vật liên quan đến vụ án Đây cũng là một nghĩa

vụ của người bào chữa bởi trong quá trình tham gia vào vụ án để bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo thì người bào chữa có thể thực hiện các hoạt động thu thập tài liệu, đồ vật liên quan đến vụ án Pháp luật quy định người bào chữa có nghĩa vụ đó với mục đích là để các cơ quan tiên hành tố tụng có thêm các tài liệu, có thêm các căn cứ làm sáng tỏ được các tình tiết của vụ án

+ Người bào chữa có nghĩa vụ giúp người bị tạm giữ, bị can, bị cáo

về mặt pháp lý nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ Đây là nghĩa vụ cơ bản và quan trọng nhất của người bào chữa bởi thông thường người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là những người ít hiểu biết về pháp luật, nhiều trường hợp họ không thể tự bào chữa cho mình được và nếu họ tự bào chữa cho mình thì nhiều khi sự bào chữa đó của họ có nhiều sai sot vì

Trang 9

bản thân họ không biết chính xác quyền, nghĩa vụ của họ đến đâu để có thể đưa ra lời bào chữa chính xác cho mình, chính vì thế mà yêu cầu cần thiết phải có người bào chữa đủ khả năng về chuyên môn, có đủ lý lẽ để có thể bào chữa cho những người là bị can, bị cáo, người bị tạm giữ

Cũng cần nói thêm Khi một người bị các cơ quan tiến hành tố tụng bắt, đưa ra truy tố, bản thân họ rất hoang mang, tinh thần luôn trong tình trạng căng thẳng, lo sợ, khi đó bản thân họ không đủ tỉnh táo để có thể tự bào chữa cho mình được, chính vì thế mà yêu cầu được đặt ra là cần phải

có người khác bào chữa cho họ đề bào vệ quyền và lợi ích chính đáng cho họ

+ Người bào chữa có nghĩa vụ có mặt theo giấy triều tập của tòa án; tôn trọng sự thật và pháp luật; không được có các hành vi mua chuộc, cưỡng ép hoặc xúi giục người khác khai báo gián dối, cung cấp các tài liệu,

đồ vật sai sự thật Khi nhận được giất triệu tập của tòa án, người bào chữa phải có mặt theo đúng thời gian, địa điểm và có mặt kịp thời để có thể đưa

ra lời bào chữa cho người bị cáo và khi bào chữa người bào chữa cũng phải thực hiện bào chữa theo đúng sự thật khách quan của vụ án, bào chữa theo đúng các tình tiết của vụ án, không được thêm bớt các chứng cứ, các tình tiết sai sự thật, mua chuộc người khác… hòng gỡ tội cho bị can, bị cáo

+ Người bào chữa có nghĩa vụ tôn trọng các cơ quan tiến hành tố tụng, phải giữ bí mật điều tra của cơ quan điều tra khi thực hiện hoạt động bào chữa; không được sử dụng các tài liệu, đã ghi chép, sao chụp trong hồ

sơ vụ án vào mục đích xâm hại đến lợi ích nhà nước, quyền và lợi ích của người khác Khi người bào chữa thực hiện các hành vi ghi chép, sao chụp các tài liệu của cơ quan điều tra thì khi đó bàn thân người bào chữa đã biết được các thủ pháp, nghiệp vụ điều tra của cơ quan điều tra, biết được các tình tiết mới của vụ án, biết được về chứ cứ buộc tội cũng như chứng cứ có thể ghỡ tội cho ngươi mà mình bào chữa…hoặc biết các bí mật để có thể gây thiệt hại lợi ích cho một ai đó…nên đây là một nghĩa vụ bắt buộc, cần

Trang 10

thết mà người bào chữa phải thực hiện đúng để đảm bảo lợi ích chính đáng cho những người khác trong đó có cả lợi ích của nhà nước

+ Người bào chữa cũng không được từ chối bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo mà mình đã đảm nhận bào chữa nếu không có lý do chính đáng Bởi khi người bào chữa nhận bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo rồi nhưng vì một lý do nào đó như bất bình với chính người mà mình bào chữa hoặc bào chữa cho người khác được nhiều tiền công hơn… nên không tiếp tục bào chữa nữa thì khi đó người bị tạm giữ, bị can, bị cáo

sẽ bị thiệt thòi và các quyền, lợi ích hợp pháp của họ sẽ không được đảm bảo Ví dụ như: còn một ngày nữa là mởi phiên tòa xét sử bị can nhưng đột nhiên người bào chữa đưa ra tuyên bố không bào chữa cho bị can đó nữa với lý do người bào chữa bận đi nghỉ mát với gia đình, nếu như vật thì trong một khoảng thời gian ngắt là một ngày nữa bị can kia khó có thể tìm được một người khác thay thế bào chữa cho mình và nếu có tìm được thì quyền của bị can đó cũng không được đảm bảo vì người bào chữa mới kia chưa nắm được nội dung, các tình tiết gỡ tội cho bị can…như vậy thì quyền

và lợi ích của bị can sẽ không được bảo đảm và rất dễ bị xâm hại, gây thiệt thòi cho bị can

3 Hoàn thiện pháp luật nhằm đảm bảo thực hiện quyều và nghĩa

vụ của người bào chữa

Mặc dù pháp luật quy định chế định về người bào chữa, cho phép người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền mời người khác bào chữa cho mình và mục đích của chế định về người bào chữa là để bảo vệ quyền và lợi ích cho người bị tạm giữ, bị can, bị cao nhưng khi áp dụng chế định này vào thực tiễn nó đã bộc lộ một số điểm bất cập, hạn chế từ đó dẫn đến các quyền và lợi ích chính đáng của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo không được bảo đảm và nhiều khi là các quyền và lợi ích chính đáng của họ bị chính các cơ quan tiến hành tố tụng xâm hại

Chế định về người bào chữa có một số nhược điểm, hạn chế sau:

Ngày đăng: 29/01/2016, 15:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w