1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Những vấn đề pháp lí về việc phối hợp chính sách kinh tế của Liên minh châu Âu (EU)

19 701 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 151 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sự phối hợp này sử dụng một loại các biện pháp, gồm trao đổi thông tin, thảo luận về các kinh nghiệm tốt, thảo luận chính sách, giám sát lẫn nhau giữa các nước thành viên cho đến nếu thí

Trang 1

I Những vấn đề pháp lí về việc phối hợp chính sách kinh tế của Liên minh châu

Âu (EU):

1 Chính sách kinh tế và việc phối hợp chính sách kinh tế:

Chính sách kinh tế đề cập đến các hành động của chính phủ áp dụng vào lĩnh vực kinh

tế Chính sách kinh tế thường bị chi phối từ các chính đảng, nhóm lợi ích có quyền lực trong nước, các cơ quan quốc tế như Quỹ tiền tệ quốc tế, Ngân hàng thế giới hay tổ chức thương mại thế giới Chính sách kinh tế bao gồm một số loại chủ yếu, đó là: chính sách kinh tế vĩ mô, chính sách điều tiết hoạt động kinh tế, chính sách kinh tế đối ngoại và chính sách phát triển kinh tế Theo đó, việc phối hợp chính sách kinh tế của các quốc gia là việc các quốc gia phối hợp các hành động của mình trong lĩnh vực kinh tế nhằm đạt được mục đích nhất định nào đó

Trong nửa cuối những năm 1980, các nước EU tập trung theo đuổi chiến lược thống nhất và hoàn thiện các thị trường Sự điều chỉnh chiến lược phát triển kinh tế của EU được thể hiện tập trung trong hàng loạt các văn kiện chính thức của EU cũng như trong quá trình thực thi Ba cột mốc quan trọng đánh dấu việc thực hiện chiến lược này là việc các

nước EU ký kết Định ước châu Âu duy nhất (1985), với mục tiêu chính là thực hiện lịch

trình 7 năm nhằm xóa bỏ các đường biên giới nội bộ EU, tọa ra một thị trường nội địa cho

sự lưu thông tự do hàng hóa, con người, dịch vụ và tư bản Hiệp ước thành lập liên minh châu Âu ( Hiệp ước Maastricht, 1992) với mục tiêu chính là xây dựng một EU gắn kết

chặt chẽ hơn về kinh tế, chính sách kinh tế lẫn chính trị và xã hội Một nội dung quan

trọng là thành lập Liên minh kinh tế và tiền tệ Châu Âu với một đồng tiền chung Chiến lược Lisbon (2000) đề ra mục tiêu chiến lược mới của EU cho thập kỷ 2000-2010 là “

trở thành một nền kinh tế tri thức có tính cạnh tranh và có tính năng động nhất thế giới, có khả năng tăng trưởng kinh tế bền vững, nâng cao số lượng và chất lượng việc làm và gắn kết xã hội chặt chẽ hơn”

Theo đó, chiến lược phát triển kinh tế của các nước EU từ giữa những năm 1980 đến nay bao gồm các nội dung chính sau:

(1) thúc đẩy tiến trình liên kết và mở rộng EU

(2) Thống nhất và nâng cao hiệu quả hoạt động của thị trường

(3) Xây dựng EMU với 1 đồng tiền chung, điều chỉnh các chính sách kinh tế vĩ mô theo hướng ổn định hóa

Trang 2

(4) Chiến lược nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế, thúc đẩy bước chuyển sang nền kinh tế tri thức

(5) Củng cố và hiện đại hóa mô hình xã hội châu Âu chú trọng bảo vệ môi trường (6) Kiên trì định hướng xây dựng nền kinh tế mở cửa, củng cố và tăng cường địa vị của EU trong các quan hệ kinh tế quốc tế

Nguyên nhân phải tăng cường phối hợp các chính sách kinh tế?

+ Trước hết, việc soạn thảo và thực hiện một chính sách chung đương nhiên cần sự phối hợp chính sách Tỷ lệ lạm phát của Khu vực đồng Euro, tỷ giá hối đoái của đồng Euro đã là các “tài sản chung” của các nước tham gia Khu vực đồng Euro và chính các nước này phải có trách nhiệm quan tâm Một hành động chính sách quốc gia, nếu có tác động đến các chỉ tiêu đó, có thể có tác động đến các quyết sách của ECB về lãi suất hay quyết sách của Hội đồng các Bộ trưởng kinh tế tài chính châu Âu ( ECOFIN) về tỷ giá + Do EMU mở ra một khuôn khổ chính sách kinh tế mới, độc đáo trong EU: có sự

“phân cấp” trách nhiệm về chính sách kinh tế giữa EU và các nước thành viên Một chính sách tiền tệ duy nhất là thẩm quyền duy nhất của ECB, một ngân hàng siêu quốc gia, độc lập Quyết sách tiền tệ của ECB do Hội đồng quản trị ECB đưa ra, Hội đồng này bao gồm Ban Giám Đốc ECB và các Thống đốc ngân hàng trung ương quốc gia của các nước tham gia Khu vực đồng Euro Trong khi đó, các chính sách khác, nhất là ngân sách, các chính sách, các chính sách cơ cấu, quyết định về tiền lương…nói chung vẫn chịu trách nhiệm của các chính phủ quốc gia Hơn nữa, chính sách của ECB phản ánh những tiến triển trong Khu vực đồng Euro, với tư cách là một tổng thể Ngược lại, phù hợp với nguyên tắc hỗ trợ, các chính phủ quốc gia có trách nhiệm ( theo một số quy tắc chung) chăm lo cho nền kinh

tế nước mình, ví dụ trong trường hợp có những vấn đề hay những cú sốc mang đặc điểm quốc gia

+ Môi trường kinh tế của các nước thành viên EU có đặc điểm là phụ thuộc lẫn nhau ngày càng gia tăng ( do thực hiện chiến lược Thị trường nội địa, EMU, tiến bộ công nghệ…), nên chính sách kinh tế của một nước có thể sẽ có tác động tai hại đến các nước láng giềng Do vậy cần phối hợp chính sách để tránh những tác động “ vượt biên giới” đó của các chính sách quốc gia Sự phối hợp chính sách cũng cần thiết để ngăn chặn hành vi “

đi xe miễn phí” của các nước thành viên ( hành vi nhằm lợi dụng những điều chỉnh chính sách của các nước thành viên khác trong EU, ví dụ chính sách tự do hóa thị trường)

Trang 3

+ Ngoài ra, bên cạnh các lập luận kinh tế, sự phối hợp chính sách có ích nếu xét từ quan điểm chính trị xã hội, vì nó giúp thực hiện những chính sách không được lòng dân nhưng cần thiết ở cấp quốc gia

Tuy nhiên sự phối hợp cũng có những cản lực Trước hết, nó không phải là không tốn kém (tính hợp lý kinh tế của sự phối hợp), và hơn nữa phải lưu ý đến nguyên tắc hỗ trợ, và

do những khác biệt trong các ưu tiên quốc gia Do vậy, mức độ và các cơ chế phối hợp khác nhau trong từng lĩnh vực chính sách:

+ Mất cân bằng tài khóa gây nguy cơ lớn cho sự ổn định của khu vực đồng Euro nên đòi hỏi sự phối hợp dựa trên những nguyên tắc chặt chẽ bao gồm cả phạt tiền nếu thâm hụt thái quá

+ Tác động của các chính sách cơ cấu quốc gia đối với các thành viên khác trong EMU

và đối với các chính sách của EMU không dễ nhận thấy và thường có độ trễ Mặc dù vậy, các thị trường linh hoạt và vận hành có hiệu quả là then chốt để nâng cao tiền năng tăng trưởng và sự vận hành trôi chảy của EMU Cho nên, một mặt, sự phối hợp trong lĩnh vực chính sách, cơ cấu chủ yếu dựa trên trao đổi thông tin, thảo luận về các kinh nghiệm hay giám sát lẫn nhau EU cũng không dự kiến một cơ chế chính thức để đảm bảo những tiến

bộ về cải cách cơ cấu của các nước thành viên Tuy nhiên, để tránh những rối loạn trong lĩnh vực đóng vai trò chuẩn mực và sự vận hành trôi chảy của thị trường nội địa, cần phối hợp chặt chẽ các chính sách cơ cấu có thể tác động đến sự vận hành của thị trường nội địa

và sự cạnh tranh

Cần nhấn mạnh rằng, phối hợp chính sách kinh tế trong EU và EMU được coi là một khuôn khổ bao trùm toàn bộ các hoạt động tương tác giữa các chủ thể chính sách, gồm các chủ thể chính sách tiền tệ, tài chính và Ủy ban Châu Âu với tư cách là đại diện cho lợi ích chung của EU Sự phối hợp này sử dụng một loại các biện pháp, gồm trao đổi thông tin, thảo luận về các kinh nghiệm tốt, thảo luận chính sách, giám sát lẫn nhau giữa các nước thành viên cho đến (nếu thích hợp) cùng đề ra các quy tắc và các mục tiêu chính sách, các hành động chung

2 Cơ sở pháp lý của việc phối hợp chính sách kinh tế:

a) Hướng dẫn rộng rãi chính sách kinh tế ( 1996 ):

Trước tình hình suy giảm đáng kể hoạt động kinh tế vào đầu năm 1995 và cuối năm

1996, Cộng đồng đã không thể đạt được tiến bộ đáng kể trong việc đạt được một số mục

Trang 4

tiêu cơ bản về kinh tế, cụ thể là thúc đẩy tăng trưởng bền vững không lạm phát, và mức độ cao làm việc

Cho nên Hội Đồng đã đưa ra “ Hướng dẫn rộng rãi chính sách kinh tế (1996)”, theo đó tất cả các bên được khuyến khích thực hiện các chính sách kinh tế của mình theo cách như vậy là để góp phần đạt được các mục tiêu của cộng đồng và cải thiện điều phối các chính sách của họ

Hội đồng tái khẳng định sự cần thiết của một khuôn khổ kinh tế vĩ mô ổn định, đặc trưng bởi:

+ Một sự ổn định theo định hướng chính sách tiền tệ;

+ Duy trì những nỗ lực để củng cố tài chính công

+ Xu hướng tiền lương danh nghĩa phù hợp với mục tiêu ổn định giá cả; xu hướng lương thực tế thấp hơn tăng năng suất để tăng cường lợi nhuận của việc làm tạo ra đầu tư Đồng thời dựa trên những đặc điểm cụ thể của mỗi nước, một số nguyên tắc chung đã được nêu ra:

+tăng chi tiêu kiềm chế, trái với việc tăng thêm gánh nặng thuế tổng thể;

+lại chỉ đạo chi tiêu chính phủ đối với đầu tư cơ sở hạ tầng, nguồn nhân lực và các biện pháp thị trường lao động đang hoạt động;

+ nâng cao hiệu quả các dịch vụ công;

+ đảm bảo rằng việc giảm gánh nặng thuế tổng thể, mong muốn trong nhiều quốc gia thành viên, không gây nguy hiểm giảm thâm hụt

Để củng cố uy tín của cả hai khuôn khổ kinh tế vĩ mô và hiệu quả của quá trình phối hợp, các nước thành viên được mời để trình bày chương trình hội tụ cập nhật thể hiện một cam kết chí nh trị mạnh mẽ Và yêu cầu các nước thành viên cần tiếp tục điều trị tỷ giá của các chính sách như là một vấn đề quan tâm chung

b) Nghị quyết của Hội đồng châu Âu phối hợp chính sách kinh tế (1997)

Mục đích của Nghị Quyết: Hội đồng châu Âu thể hiện một cam kết chính thức để tôn trọng các quy định của Hiệp ước về giám sát và điều phối các chính sách kinh tế, và tăng cường phối hợp trong thực tế, cả hai đều giữa các thành viên, trong đó sẽ chia sẻ một đồng tiền chung (trong số những thứ khác bằng cách thiết lập một “Euro” Group) và giữa các thành viên đó sẽ không tham gia

Trang 5

Theo đó, khu vực đồng euro, các nước thành viên sẽ chia sẻ một chính sách tiền tệ duy nhất và trao đổi tỷ lệ duy nhất, trong khi các khía cạnh khác của chính sách kinh tế sẽ vẫn

là vấn đề quốc gia Cho rằng mức độ phát triển kinh tế quốc dân sẽ ảnh hưởng đến điều kiện tiền tệ trong khu vực euro, gần giám sát cộng đồng và phối hợp các chính sách kinh tế giữa các khu vực euro nước thành viên sẽ là cần thiết

Nghị quyết cũng yêu cầu các nước thành viên tăng cường giám sát và phối hợp nên bao gồm các lĩnh vực sau: (i) Kinh tế vĩ mô phát triển của các nước thành viên và sự phát triển của tỷ giá hối đoái đối với đồng euro; (ii) Ngân sách các vị trí, chính sách; (iii)Cơ cấu chính sách lao động , sản phẩm và dịch vụ thị trường, cũng như chi phí và giá các xu hướng

c) Hiệp ước Lisbon 2009:

Cơ sở pháp lý của việc phối hợp chính sách tiền tệ Liên minh Châu Âu được quy định

cụ thể tại Điều 121 TFEU Theo khoản 1 Điều 121 quy định thì Nước thành viên phải coi chính sách kinh tế của họ là một vấn đề cùng quan tâm và có trách nhiệm phối hợp chúng trong hội đồng đảm bảo nguyên tắc thị trường mở và cạnh tranh tự do, phân bổ một cách hiệu quả các nguồn lực…Bên cạnh đó thì Điều 121 TFEU cũng quy định việc cơ chế giám sát chặt chẽ việc thực hiện việc phối hợp thực hiện chính sách kinh tế của các quốc gia thành viên cũng như là việc giải quyết các kiến nghị của các quốc gia thành viên

Như vậy, với việc quy định cơ sở pháp lý cho việc phối hợp chính sách kinh tế Liên minh Châu âu một cách rõ ràng như vậy vừa tạo ra sự thống nhất trong việc thực hiện chính sách kinh tế của các quốc gia thành viên đồng thời đảm bảo sự tự do cạnh tranh giữa các quốc gia với nhau

Điều 121 TFEU qui định:

“ 1 Nước thành viên sẽ đối chính sách kinh tế của họ như là một vấn đề cùng quan tâm và trách nhiệm phối hợp chúng trong Hội đồng, theo quy định tại Điều 120.

2 Hội đồng xem xét đề nghị của Ủy ban, xây dựng một dự thảo rộng hướng dẫn của các chính sách kinh tế của các nước thành viên và của Liên minh, và phải báo cáo kết quả cho Hội đồng châu Âu Hội đồng châu Âu phải, hành động trên cơ sở báo cáo của Hội đồng, thảo luận về một kết luận hướng dẫn mở rộng các chính sách kinh tế của các nước thành viên và của Liên minh.Trên cơ sở kết luận này, Hội đồng sẽ thông qua một đề nghị

Trang 6

thiết lập ra các hướng dẫn mở rộng Hội đồng sẽ thông báo cho Nghị Viện Châu Âu để giới thiệu nó.

3 Để đảm bảo phối hợp chặt chẽ hơn của chính sách kinh tế và hội tụ lâu dài của kinh

tế của các nước thành viên, Hội đồng trên cơ sở báo cáo của Ủy ban, theo dõi sự phát triển kinh tế ở mỗi nước thành viên và trong Liên minh như cũng như sự nhất quán của chính sách kinh tế với các hướng dẫn mở rộngi quy định tại khoản 2, và thường xuyên tiến hành đánh giá tổng thể 2008/05/09 EN Công báo của Liên minh châu Âu C 115/97 Với mục đích giám sát đa phương này, thành viên sẽ gửi thông tin đến Ủy ban về các biện pháp quan trọng trong lĩnh vực chính sách kinh tế của họ và như vậy các thông tin khác

mà họ cho là cần thiết.

4 Trường hợp thành lập, theo thủ tục quy định tại khoản 3, mà các kinh tế chính sách của một nước thành viên không phù hợp với các hướng dẫn mở rộng quy định tại khoản 2 hoặc có nguy cơ gây nguy hiểm cho các hoạt động đúng đắn của công đoàn kinh tế và tiền tệ, Ủy ban có thể đưa ra một cảnh báo cho các nước thành viên liên quan Hội đồng,

về một đề nghị từ Hoa hồng, có thể giải quyết các kiến nghị cần thiết để các nước thành viên liên quan Các Hội đồng có thể, trên một đề nghị của Ủy ban, quyết định kiến nghị của công chúng Trong phạm vi khoản này, Hội đồng hành động mà không tính đến bỏ phiếu của thành viên của Hội đồng đại diện cho các quốc gia thành viên có liên quan Một phần lớn có trình độ của các thành viên khác của Hội đồng phải được xác định theo quy định Điều 238 (3) (a).

5 Chủ tịch Hội đồng và Ủy ban phải báo cáo Quốc hội Châu Âu về kết quả giám sát

đa phương Chủ tịch Hội đồng có thể được mời xuất hiện trước Ủy ban có thẩm quyền của Nghị viện châu Âu nếu Hội đồng đã có những khuyến nghị của mình.

6 Nghị viện châu Âu và Hội đồng, hành động của phương tiện quy định theo thủ tục lập pháp thông thường, có thể áp dụng các quy tắc chi tiết cho các thủ tục giám sát đa phương nêu tại các khoản 3 và 4.”

3 Cơ chế phối hợp các chính sách kinh tế

Hiệp ước Rôma 1965 cũng đã kêu gọi các nước thành viên phối hợp các chính sách kinh tế của mình Để đạt được điều đó, một số uỷ ban đặc biệt đã được thành lập, cũng như đã triển khai một số thủ tục phối hợp chính sách kinh tế

Theo các Hiệp ước đó, Cộng đồng đóng vai trò khác nhau tuỳ theo lĩnh vực

Trang 7

- Quản lý trực tiếp những lũnh vực có vấn đề, như các cuộc thương lượng quốc tế của GATT, WTO

- Hành động, nhưng chỉ giới hạn ở vai trò phối hợp giản đơn các chính sách quốc gia hay thúc đẩy sự hợp tác giữa các nhà nước thành viên, như trong giáo dục và đào tạo

- Thông qua các văn bản nhằm hài hoà hoá các luật pháp quốc gia, như các chỉ thị nhằm tạo điều kiện cho sự vận hành của Thị trường nội địa châu Âu

- Thực hiện những “hành động tiên phong”, được giới hạn trong thời gian nhất định, nhằm thay đổi ở cấp châu Âu, đối với những vấn đề như trao đổi sinh viên, trao đổi viên chức, chương trình nhập học đối với những người khuyết tật

Từ đó, “luật pháp Cộng đồng” thể hiện ở 4 hình thức (do Hội đồng Bộ trưởng châu Âu quyết định, hoặc do Uỷ ban châu Âu cùng với Nghị viện châu Âu quyết định) khác nhau

về tính chất bắt buộc đối với các nước thành viên:

- Quy định (Regulation): được áp dụng trực tiếp

- Chỉ thị (Directive): buộc các nhà nước thành viên thực thi, nhưng để cho các nhà chức trách quốc gia lựa chọn các hình thức và phương tiện áp dụng

- Quyết định (Dicision): nhằm vào một số lĩnh vực, vào một hay tất cả các nước thành viên

- Khuyến nghị và ý kiến (Reconmmendation, Opinion)

Sự phối hợp chính sách kinh tế giữa các nước thành viên EU sẽ chặt chẽ hơn nếu tăng thêm số lượng (và tầm ảnh hưởng) của các quy định, chỉ thị của EU, song do bản chất, đặc điểm của tiến trình liên kết EU, hướng này có những giới hạn khách quan Trong một số trường hợp, các nước thành viên đã có những phản ứng rất khác nhau trước các cú sốc đến

từ bên ngoài, chủ yếu do thiếu nhất trí về các chính sách phối hợp, ví dụ như cuộc khủng hoảng dầu mỏ năm 1973 Sự phối hợp chính sách kinh tế trong EU đã được khởi động lại cùng với quá trình thành lập EMU – Liên minh kinh tế tiền tệ (với sự ra đời Hiệp ước Masstricht năm 1992 ) Từ đó đến nay, sự phối hợp này đã không ngừng được hoàn thiện, đồng thời đã chứng tỏ tính hiệu quả của nó

Các thủ tục phối hợp chính sách kinh tế đã được EU đưa ra đó là:

Các định hướng chính sách kinh tế tổng quát của EU (BEPG – Broad Economic

Policy Guidelines)

Trang 8

Đây là thủ tục trung tâm của quá trình phối hợp chính sách Được xây dựng hàng năm

từ năm 1993, BEPG dựa trên khuyến nghị của Uỷ ban châu Âu, và được Hội đồng Bộ trưởng châu Âu thông qua Mục tiêu của các BEPG là đưa ra những khuyến nghị tổng hợp, gắn kết tầm EU đối với các chủ thể chính sách kinh tế vĩ mô và chính sách cơ cấu (EU và các nước thành viên), đưa ra những tiêu chuẩn để đánh giá trong khuôn khổ giám sát lẫn nhau Lúc đầu còn khá chung chung (BEPG năm 1993 chỉ 4 trang), các BEPG ngày càng trở thành công cụ phối hợp chính sách thực thụ, nó ngày càng đi vào các vấn đề cụ thể hơn, chuyên biệt hơn, ngày càng tập trung vào các khuyến nghị đặc thù quốc gia, đồng thời là một viễn cảnh chung toàn thể các đường lối chính sách của Cộng đồng

Hiện nay, định hướng về chính sách kinh tế của liên minh châu âu được vạch ra cho đến năm 2020 Việc vạch ra chiến lược dài hạn này có thể cho phép EU đạt được sự tăng trưởng một cách bền vững và toàn diện trong khoảng 10 năm tiếp theo

BEPG là trung tâm của quá trình phối hợp chính sách, bởi vì BEPG:

+ có tầm bao phủ rộng: khác với các thủ tục khác, BEPG bao gồm cả chính sách vĩ mô

và các chính sách cơ câu

+ có tính nhất quán: BEPG cung cấp một quan điểm gắn kết, hợp nhất, thúc đẩy tính

nhất quán trong tất cả các lĩnh vực chính sách khác nhau, từ đó cho phép tận dụng tác động hỗ trợ lẫn nhau của các chính sách Các thủ tục phối hợp khác diễn ra thống nhất trong khuôn khổ BEPG

+ mang tính đồng thuận chính sách: BEPG sản sinh ra tính đồng thuận, được thể hiện ở

văn kiện cuối cùng, Đến lượt mình, đồng thuận chính sách là cơ sở cho việc thực thi giám sát lẫn nhau và là điều kiện cơ bản cho phối hợp chính sách thành công

Ràng buộc về chính trị, song BEPG không có cơ chế trừng phạt về kinh tế, Việc tuân thủ BEPG về cơ bản là mang tính tự nguyên, dựa trên sức ép giám sát lẫn nhau giữa các nước thành viên và những khuyến nghị của ECOFIN đối với các nước không tuân thủ (và hình phạt nặng nhất là đưa ra công luận) Trên thực tế hiệu quả thực thi của BEPG khá cao, bởi trước hết, BEPG là kết quả sự đồng thuận chính sách giữa các nước thành viên Thứ hai, do sức hấp dẫn của tư cách thành viên EU, sức ép của công luận, sức ép của các nước thành viên khác, các chính phủ quốc gia thường không muốn mất uy tín trong điều hành chính sách

Thủ tục thâm hụt ngân sách thái quá:

Trang 9

Xuất phát từ Hiệp ước ổn định và tăng trưởng (năm 1997), mục tiêu của thủ tục này là đảm bảo sự cân bằng giữa: (1) việc ngăn chặn các hành động ngân sách quốc gia có tác hại đến Khu vực đồng Euro và việc thực thi chính sách tiền tệ – (2) duy trì một giới hạn đủ lớn

để các chính sách ngân sách đóng vai trò ổn định hoá

Do vậy, trong thủ tục này đã thiết kế một hệ thống gồm một cơ chế có tính quy tắc (có trừng phạt kinh tế) và một yếu tố mềm dẻo trong những bối cảnh nhất định và đặc biệt Thủ tục thâm hụt ngân sách thái quá đòi hỏi các nước thành viên đạt được ngân sách gần tới cân bằng hoặc thặng dư xét về trung hạn Nó cho phép các nước xử lý các giao động chu kì, đồng thời kiềm chế thâm hụt ngân sách dưới giá trị tham chiếu là 3% GDP Trên mức đó là thâm hụt thái quá, trừ những hoàn cảnh nhất định và đặc biệt Hệ thống đó dựa trên các yếu tố cảnh báo và ngăn cản: (1) Cảnh báo thông qua giám sát thường kì, hệ thống cảnh báo sớm, kích thích các hành động chỉnh lý Các nước thành viên đệ trình các chương trình ổn định (nếu trong Khu vực đồng Euro), cập nhật hàng năm, trong đó trình bày mục tiêu trung hạn và con đường điều chỉnh của mình Hội đồng Bộ trưởng châu Âu

và Uỷ ban châu Âu cho ý kiến đối với chương trình đó (2) Ngăn cản thông qua làm rõ thủ tục thâm hụt thái quá, những điều kiện ngoại lệ và các cơ chế phạt

Quy trình Luých-xăm-bua về chiến lược việc làm châu Âu (bắt đầu từ năm 1997)

Trong khuôn khổ Hiệp ước Amsterdam, chính sách việc làm vẫn thuộc trách nhiệm của các nước thành viên Nghị quyết của Hội đồng Bộ trưởng tại Luých-xăm-bua đã khởi động áp dụng một khuôn khổ mới Chiến lược này nhằm cải thiện hiệu quả và năng suất của thị trường lao động thông qua đề ra các mục tiêu chung, và một quy trình đảm bảo những bước tiến tới các mục tiêu đó Do sự phối hợp chính sách trên lĩnh vực này kém biện minh về tính hợp lý kinh tế, nên các bước tiến của sự phối hợp chính sách này là tự nguyện và dựa trên một quy trình gồm: báo cáo thường kì, giám sát chéo, các đường lối chung và các khuyến nghị của Hội đồng đối với từng nước thành viên (đây là sức ép lớn nhất) Đường lối việc làm hàng năm do Uỷ ban châu Âu soan và do Hội đồng chính sách việc làm và xã hội phê chuẩn Nó phải nhất quán với BEPG, đưa ra những định hướng chung và được các nước thành viên chuyển vào các Kế hoạch hành động quốc gia về việc làm (NAP) Các NAP được Uỷ ban châu Âu và Hội đồng Bộ trưởng xem xét, phê duyệt

Quy trình Cardiff về cải cách thị trường sản phẩm và vốn (bắt dầu từ năm 1998):

cách tiến hành giống Quy trình Luých-xăm-bua, song về các thị trường sản phẩm và vốn

Trang 10

Quy trình Cologne về đối thoại kinh tế vĩ mô.

Thủ tục này được đưa ra từ Hội nghị thượng định Cologne nhằm cải thiện sự tương tác giữa các chính sách kinh tế vĩ mô và các tiến triển tiền lương để hỗ trợ tăng trưởng không lạm phát và việc làm Ở nhiều nước thành viên, đối thoại giữa giới quản lý và lao động về các vấn đề quan tâm chung đã là truyền thống lâu đời Gìơ đây, theo Quy trình Cologne, các tác nhân liên quan, nhất là các đối tác xã hội, ECB – Ngân hàng trung ương châu Âu, các đại diện Hội đồng Bộ trường và Uỷ ban châu Âu gặp nhau 2 lần/năm để trao đổi quan điểm về cách thức thúc đẩy các điều kiện kinh tế vĩ mô phù hợp Các cuộc hợp diễn ra ở cấp chính trị và cấp kĩ thuật, xoay quanh các chủ đề như tình hình kinh tế, thách thức chính sách, các chủ đề quan tâm chung khác

Sự hợp tác của các nước Khu vực đồng Euro (Eurogroup)

Eurogroup là diễn đàn không chính thức nhằm trao đổi “thằng thắn và tự do” về các vấn đề liên quan đến EMU, bao gồm các bộ trưởng trong nước Khu vực đòng Euro, đại diện của Uỷ ban châu Âu và ECB Diễn đàn này nhằm đi đến thống nhất quan điểm giữa các nước về một loạt các vấn đề như tình thế chu kì, lập trường chính sách, tiến triển tỷ giá hối đoái, những vấn đề cơ cấu có ảnh hưởng đến tài chính công

Thêm vào đó, một công cụ đặc biệt khác để điều chỉnh việc phối hợp chính sách kinh tế của EU đó là việc Hội đồng khuyến khích các quốc gia thành viên sử dụng đồng tiền chung Euro như thể là đơn vị tiền tệ duy nhất hiện hành để có thể làm giảm đi sự mất cân bằng về kinh tế vĩ mô trong khu vực đồng Euro của EU

Như vậy, EU ngày càng hoàn thiện cơ chế phối hợp chính sách kinh tế bằng cách bổ sung thêm các quy trình mới Quá trình này vẫn đang tiếp tục Hiện nay, để cho sự phối hợp chính sách kinh tế trong EU hiệu quả hơn, đã có một số đề nghị cải thiện cơ chế phối hợp đó, đang chú ý là các đề nghị sau:

- BEPG nên trở thành một công cụ tham vọng hơn, cụ thể: nâng BEPG lên thành công cụ chương trình hoá nhiều năm; tăng cường tính bắt buộc của BEPG (có thể có những hình thức phạt một nước thành viên khi nước này có chính sách kinh tế không tương hợp với các định hướng đã nhất trí);

- Cải tiến chất lượng của các dữ liệu thống kê;

- Mở rộng thẩm quyền của Nghị viện châu Âu và các nghị viện quốc gia các nước thành viên trong việc thảo luận và phê chuẩn BEPG;

Ngày đăng: 29/01/2016, 15:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w