Trong nền kinh tế hiện đại, mỗi quốc gia đều có nhu cầu sử dụng ngoại hối để nhập khẩu hàng hóa hay can thiệp vào thị trường hàng hóa, thị trường tiền tệ, điều hòa cán cân thanh toán quố
Trang 1ĐẶT VẤN ĐỀ
Ngoại hối có ảnh hưởng rất to lớn đối với đời sống kinh tế xã hội của mỗi quốc gia Trong nền kinh tế hiện đại, mỗi quốc gia đều có nhu cầu sử dụng ngoại hối để nhập khẩu hàng hóa hay can thiệp vào thị trường hàng hóa, thị trường tiền tệ, điều hòa cán cân thanh toán quốc tế… Nhận thấy tầm quan trọng của hoạt động ngoại hối, nước ta đã có những quy định pháp luật để điều chỉnh, quản lý lĩnh vực này Pháp luật điều chỉnh lĩnh vực về ngoại hối ngày càng được Nhà nước ta chú tâm hoàn thiện, tuy nhiên bên cạnh đó thì vẫn tồn tại
những điểm bất cập chưa hợp Vì vậy tôi xin chọn đề tài: “Phân tích cơ sở pháp lý để Ngân hàng nhà nước quản lý, điều hành thị trường ngoại hối; thực trạng và đề xuất pháp lý” để đi sâu và phân tích vấn đề này.
NỘI DUNG
I- Khái quát chung
1- Khái niệm ngoại hối
Ở Việt Nam, khái niệm ngoại hối được pháp luật quy định cụ thể bằng cách liệt kê các thành phần của ngoại hối, bao gồm:
- Đồng tiền của quốc gia khác hoặc đồng tiền chung châu Âu và đồng tiên chung khác được sử dụng trong thanh toán quốc tế và khu vực;
- Phương tiên thanh toán bằng ngoại tệ, gồm sec thẻ thanh toán,hối phiếu đòi nợ, hối phiếu nhận nợ và các phương tiện thanh toán khác;
- Các loại giấy tờ có giá bằng ngoại tệ, gồm trái phiếu chính phủ, trái phiếu công ty, kỳ phiếu, cổ phiếu và các loại giấy tờ có giá khác;
- Vàng thuộc dữ trự ngoại hối nhà nước, trên tài khoản ở nước ngoài của người cư trú; vàng thỏi dưới dạng khối, thỏi, hạt, miếng trong trường hợp chuyển vào và chuyển ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc sử dụng trong thanh toán quốc tế
Trang 2Như vậy, hiểu một cách đơn giản, ngoại hối là thuật ngữ dùng để chỉ các phương tiện thanh toán sự dụng trong giao dịch quốc tế bao gồm ngoại tệ, công
cụ thanh toán bằng ngoại tệ, các loại chứng từ có giá bằng ngoại tệ, vàng tiêu chuẩn quốc tế, đồng tiền quốc gia
2- Hoạt động ngoại hối.
2.1 Khái niệm hoạt động ngoại hối.
Khái niệm hoạt động ngoại hối: là hoạt động quản lý nhà nước về lĩnh vực ngoại hối hay quá trình tổ chức, điều hành của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với các hoạt động ngoại hối trong nền kinh tế trên cơ sở các quy định của pháp luật, nhằm đạt được những mục tiêu của nhiệm vụ quản lý nhà nước
Hoạt động quản lý nhà nước về ngoại hối có phạm vi rộng, bao gồm nhiều hình thức hoạt động khác nhau, chẳng hạn như: ban hành các quy định pháp luật điều chỉnh lĩnh vực ngoại hối; tổ chức thực hiện các quy định pháp luật về ngoại hối; thanh tra, kiểm tra việc chấp hành và xử lý các vi phạm pháp luật về ngoại hối
2.2 Đặc điểm của hoạt động quản lý ngoại hối.
Thứ nhất, chủ thể QLNH phải là những cơ quan nhà nước có chuyên môn và nghiệp vụ chuyên sâu về quản lý kinh tế, đặc biệt là quản lý đối với ngoại hối
Do xu hướng hoạt động ngoại hối trong nền kinh tế hiện đại ngày cáng đa dạng hóa và phức tạp, chứa đựng nhiều rủi ro, không chỉ gói gọn trong lãnh thổ một quốc gia mà còn có sự liên thông với nhiều thị trường trên thế giới, vì vậy đòi hỏi cơ quan quản lý nhà nước phải là cơ quan chuyên trách, có đội ngũ dân sự
đủ năng lực, trình độ nghiệp vụ, kiên thức chuyên sâu về hoạt động ngoại hối và quản lý nhà nước
Thứ hai, đối tượng quản lý ngoại hối là các chủ thể có hoạt động ngoại hối trong nền kinh tế Nghĩa là quản lý con người có sự tham gia của hoạt động ngoại hối, chứ không phải quản lý đối với tài sản là ngoại hối
Trang 3Thứ ba, nội dung của hoạt động ngoại hối bao gồm các giao dịch vãng lai, giao dịch vốn, các hành vi sử dụng ngoại hối, hoạt động kinh doanh ngoại hối, cung ứng dịch vụ ngoại hối và các giao dịch khác liên quan đến ngoại hối trên lãnh thổ Việt Nam Các hành vi pháp lý này luôn gắn với đối tượng là ngoại hối
và dịch vụ ngoại hối Vì vậy, khi xác định một hoạt động nào đó được cấu thành bới hnahf vi pháp lý nào đó, là giao dịch vãng lai, giao dịch vốn, hành vi
sử dụng, kinh doanh ngoại hối hay hành vi cung ứng dịch vụ ngoại hối…Như vậy, nội dung của hoạt dộng ngoại hối có thể xem là một trong những dấu hiệu quan trọng để phân biệt hoạt động ngoại hối với các hoạt động kinh tế khác
3 Quản lí hoạt động ngoại hối.
3.1 Khái niệm.
Quản lí hoạt động ngoại hối là hoạt động quản lý nhà nước về lĩnh vực ngoại hối hay quá trình tổ chức, điều hành của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với các hoạt động ngoại hối trong nền kinh tế trên cơ sở các quy định của pháp luật, nhằm đạt được những mục tiêu nhiệm vụ quản lý nhà nước
3.2 Đặc trưng của hoạt động quản lý ngoại hối.
Thứ nhất, chủ thể quản lý ngoại hối phải là những cơ quan nhà nước có chuyên môn nghiệp vụ sâu về quản lý kinh tế, đặc biệt là quản lý đối với ngoại hối Do xu hướng hoạt động ngoại hối trong nền kinh tế hiện đại ngày càng đa dạng hóa và phức tạp, chứa đựng nhiều rủi ro, không chỉ giưới hạn trong lãnh thổ một quốc gia mà còn có sự liên thông với nhiều thị trường trên thế giới, vì vậy đòi hỏi cơ quan quản lý nhà nước phải là cơ quan chuyên trách có đội ngũ nhân sự đủ năng lực, trình độ nghiệp vụ, kiến thức chuyên sâu về hoạt động ngoại hối và QLNH
Thứ hai, đối tượng QLNH là các chủ thể có hoạt động ngoại hối trong nền kinh tế, Nghĩa là chủ thể quản lý con người có tham gia hoạt ddoogj ngoại hối, chứ không phải quản lý đối với tài sản là ngoại hối
Trang 4Thứ ba, phương thứ QLNH có sự kết hợp giữa các biện pháp hành chính với các biện pháp kinh tế, trong đó các biện pháp kinh tế là chủ yếu Hoạt động ngoại hối là một hoạt động kinh tế có mối liên hệ với nhiều chỉ số kinh tế vĩ mô như tỷ giá, tỷ lệ lạm phát…, chịu tác động của các quy luật kinh tế như quy luật cung cầu, cạnh tranh…Vì vậy, các biện pháp kinh tế thương được sủ dụng phổ biến trong quá trình QLNH của cơ quan quản lý để điều chỉnh và tác động đến hoạt động ngoại hối của các chủ thể trong nền kinh tế, đặc biệt đối với nền kinh
tế thị trường phát triển
II- Cơ sở pháp lý để Ngân hàng nhà nước quản lý, điều hành thị trường ngoại hối.
1 Các chủ thể có thẩm quyền quản lý.
Chủ thể QLNH là các cơ quan quản lí được Nhà nước trao quyền bằng các quy định pháp luật để thay mặt Nhà nước thực hiện chức năng QLNH Vì vậy, chủ thể QLNH là nội dung quạn trọng cầ phải được pháp luật về QLNH điều chỉnh Pháp luật quy đinh cụ thể về hệ thống các cơ quan tham gia QLNH, phân định rõ phạm vi thẩm quyền, chức năng của mỗi cơ quan trong hệ thống QLNH; các thẩm quyền cụ thể khi thực hiện quản lý đối với từng hoạt động ngoại hối của các đối tượng quản lý và các công cụ, phương tiện thực hiện quản
lý của các chủ thể đó Theo Diều 40 Pháp lệnh số 28/2005/PL-UBTVQH ngày 13/12/2005 về ngoại hối,các cơ quan nhà nước có thẩm quyền quản lý ngoại hối
ở Việt Nam bao gồm:
- Chính phủ là cơ quan hành pháp có thẩm quyền chung chịu trách nhiệm trước Quốc hội trong việc thực hiện vai trò thống nhất quản lí nhà nước
về ngoại hối và hoạt động ngoại hối trên toàn lãnh thổ Việt Nam Để thực hiện
có hiệu quả hoạt động này, Chính phủ phân cấp cho Ngân hàng nhà nước và một số Bộ có liên quan trực tiếp thực hiện các hành vi quản lí nhà nước vè ngoại hói và hoạt động ngoại hối
Trang 5- Ngân hàng nhà nước Việt nam là cơ quan chức năng của Chính phủ, được Chính phủ trao quyền hạn trực tiếp tiến hành các hoạt động quản lí nhà nước về ngoại hối trên lãnh thổ Việt Nam Trong khi thự hiện thẩm quyền này, Ngân hàng nhà nước chịu trách nhiệm trước Quốc hội và Chính phủ Ngoài ra, với vai trò là ngân hàng trung ương, Ngân hàng nhà nước Việt Nam còn có thẩm quyền thực hiện các nghiệp vụ ngoại hối bằng cách tham giá trực tiếp vào các giao dịch ngoại hối, thông qua đó nhằm thực hiện việc điều hành chính sách tiền tệ quốc gia theo nhu cầu phát triển kinh tế- xã hội
Đây là một khung pháp lý rộng rãi, tạo mọi điều kiện tập trung quyền quản lí trực tiếp để Ngân hàng Nhà nước có thể nhanh chóng và linh hoạt thực hiện hiệu quả các chính sách tiền tệ và cơ chế quản lí của mình đối với thị trường tài chính nói chung và thị trường ngoại hối nói riêng Tuy nhiên, dù được tạo điều kiện, được linh hoạt đến đâu, Ngân hàng Nhà nước vẫn chịu sự giám sát của Quốc hội và Chính phủ Tạo ra một cơ chế như vậy là hợp lí, vừa chặt chẽ vừa linh hoạt
- Các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuốc trung ương có thẩm quyền quản lí ngoại hối và hoạt động ngoại hối trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn được pháp luật quy định
Như vậy, khung pháp lý dành cho Ngân hàng Nhà nước quản lí, điều hành thị trường ngoại hối khá rõ ràng và cụ thể Pháp luật quy định rõ từ việc Ngân hàng Nhà nước có quyền quản lí, điều hành thị trường ngoại hối như thế nào, đối tượng chịu sự điều chỉnh, quản lí ấy là những ai, Ngân hàng Nhà nước được thực hiện những quyền gì và phải chịu trách nhiệm gì, chịu trách nhiệm với ai… Cơ sở pháp lí như vậy là đúng đắn và rõ ràng Nhưng trên cơ sở pháp lý như vậy, Ngân hàng Nhà nước trong thời gian qua đã sử dụng những quyền
Trang 6năng của mình như thế nào ? Đã quản lí và tác động tới thị trường ngoại hối ra sao ? Chúng ta sẽ cùng tìm hiểu điều này trong phần tiếp theo
2 Đối tượng quản lí nhà nước về ngoại hối.
Theo quy định tại điều 2 Pháp lệnh ngoại hối, đối tượng chịu sự quản
lí nhà nước về ngoại hối bao gồm:
- Các tổ chức, cá nhân là người cư trú, người không cư trú có hoạt động ngoại hối trên lãnh thổ Việt Nam
- Các đối tượng khác có liên quan đến hoạt động ngoại hối
Đối tượng quản lú nhà nước về ngoại hối là các tổ chức cá nhân có ngoại hối có hoạt động liên quan đến ngoại hối, Pháp luật ngoại hối của nước đều quy định rất rõ đối tượng thuộc diện quản lý là người cư trú và không cư trú Theo khuyến nghị của Quỹ tiền tệ quốc tế, cách phân loại người cư trú và không cư trú cơ bản sựa trên ba tiêu chí thời hạn cư trú, nơi phát sinh nguồn thu nhập và nơi ở Trong đó, hai khái niệm người cư trú và người không cư trú được hiểu là
- Người cư trú được thống nhất hiểu là toàn bộ tổ chức, doanh nghiệp được thành lập theo pháp luật hiện hành của mỗi quốc gia, hoạt động, kinh doanh trên phạm vi lãnh thổ nước đó, hoặc đặt đại diện tại nước ngoài các tổ chức, doanh nghiệp được thành lập theo pháp luật của nước ngoài được phép hoạt động, kinh doanh tại nước đó Người cư trú còn bao gốm những người thuộc quóc tịch nước đó và người nước ngoài được phép cư trú có thời hạn tại nước đó
- Người không cứ trú được hiểu là những tổ chức, doanh nghiệp được thành lâp theo pháp luật hiện hành của một không hoạt động kinh doanh trong nước mà không hoạt động kinh doanh tại nước ngoài, cũng như các tổ chức doanh nghiệp dược thành lập theo pháp luật của nước ngoài không hoạt động kinh doanh trong nước đó, hay các cơ quan đại diện của các tổ chức quốc tế,
Trang 7của các Chính phủ khác đặt tại nước đó Người không cư trú còn là những người mang quốc tịch nước ngoài đến nước đó không phải vì mục đích định cư
- Như vậy, việc phân chia người cư trú và người không cư trú không phụ thuộc việc tổ chức đó được thành lập theo pháp luật nước nào hay cá nhân
đó mang quốc tịch nước nào Dấu hiệu cơ bản là thu nhập chủ yếu của tổ chức,
cá nhân đó là ở trong nước hay nước ngoài Việc phân chia này giúp ghi chéo
và phân tích chính xác cán cân thanh toán quốc tế, có chính sách quản lý phù hợp đối với hoạt động ngoại hối của từng loại đối tượng khác nhau, nhằm khuyến khích hoạt động kinh tế đối ngoại và tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước bằng pháp luật
3 Nội dung quản lí nhà nước về ngoại hối
Nội dung quản lí nhà nước về ngoại hối có nghĩa là nghiên cứu các vấn đề
cơ bản sau đây:
- Các chủ thể và phạm vi thẩm quyền của các chủ thể đó trong hoạt động quản lí nhà nước về ngoại hối;
- Chế độ thông tin, báo cáo liên quan đến hoạt động ngoại hối;
- Thanh tra, kiểm tra và kiểm soát đối với hoạt động ngoại hối;
- Chế tài đối với các hành vi vi phạm pháp luật về ngoại hối;
III- Thực trạng quản lí, điều hành của NHNN với thị trường ngoại hối
ở Việt Nam và một số giải pháp
1 Thực trạng pháp luật.
Để tạo môi trường hoạt động lành mạnh, ổn định cho mọi thành phần trong nền kinh tế khi tham gia hoạt động ngoại hối, pháp luật Việt Nam đã có những quy định tương đối chặt chẽ về xử lý vi phạm vi phạm pháp luật trong QLNH Theo nghị định số 202/2004/NĐ-CP ngày 10/12/2004 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng và Nghị định 95/2011/
Trang 8NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 202/2004/NĐ-CP, việc xử
lý vi phạm trong lĩnh vực ngoại hối được phân chia theo từng loại hành vi cụ thể như: Không niêm yết công khái tỷ giá mua và bán ngoại tệ tại địa điểm gia dịch: Mua, bán, thanh toán ngoại tệ đối với khách hàng hoặc chỉ trả ngoại tệ của khách hàng gửi từ nước ngoài về Việt Nam không đúng tỉ giá giao dịch theo quy định; Cho vay, cho thuê tài chính hoặc trả nợ trong nước bằng ngoại tệ không đúng quy đinh; Cho vay, cho thuê tài chính hoặc trả nợ trong nước bằng ngoại tệ không đúng quy định; Chuyển, mang ngoại tệ ra nước ngoài và vào Việt Nam không đúng quy định; Thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ bằng ngoại
tệ với người nước ngoài không đúng quy định của pháp luật; Mua bán, thanh toán ngoại tệ không đúng quy định; Mở tài khoản hoặc sử dụng tài khoản ngoại
tệ ở nước ngoài mà chưa được phép hoặc không đúng quy định trong giấy phép của cấp có thẩm quyền; Niêm yết giá, quảng cáo hàng hóa, dịch vụ quyền sử dụng đất bằng ngoại tệ, vàng không đúng quy định; hoạt dộng ngoại hối mà không được cấp có thẩm quyền cấp giấy phép hoặc giấy phép hoạt động ngoại hối đã hết thời hạn hoặc bị đình chỉ; Hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu ngoại tệ, vàng mà không có giấy phép của NHNN…
Các đối tượng có hành vi vi phạm pháp luật ngoại hối bị áp dụng hình thức phạt tiền từ mức 200.000 đồng đến 500.000.000 đồng tùy theo từng hành vi cụ thể và có thể phải chịu áp dụng hình thức phạt bổ sung như : tịch thu tang vật, tước quyền sử dụng Giấy chứng nhân đăng ký Đại lý đổi ngoại tệ
Ngoài thẩm quyền về xử phạt vi phạm hành chính của NHNN là cơ quan quản lý nhà nước về lĩnh vực ngoại hối, pháp luật cũng quy định rõ thẩm quyền
xử phạt của các chủ thể quản lý khác nhau như Chủ tịch UBNN cấp tỉnh, Cục trưởng Cục cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự quản lý kinh tế và chức vụ, Cục trưởng Cảnh sát điều tra tội pham về trật tự xã hội…
2 Thực trạng hoạt động ngoại hối ở Việt Nam.
Trang 9Năm 2009, tỉ giá USD/VND tiếp tục đà tăng trong 4 tháng đầu năm, đặc biệt sau khi Ngân hàng nhà nước (NHNN) thực hiện nới rộng biên độ tỉ giá lên ±5% khiến cho tỉ giá ngoại tệ liên ngân hàng đã có đợt tăng đột biến Năm 2010, giá USD đã tăng khá mạnh trong năm 2009, sang đến tháng 1/2010 lại giảm nhẹ và tiếp tục dao động quanh mức 18.479 đồng/USD cho đến giữa tháng 2/2010 Nguyên nhân là do: nguồn cung USD có thể tăng từ nguồn vốn đầu tư trực tiếp,
từ vốn hỗ trợ phát triển chính thức, từ vốn đầu tư gián tiếp, từ nguồn kiều hối từ Việt kiều và từ lao động làm việc ở nước ngoài gia tăng; nguồn thu từ khách quốc tế đến Việt Nam gia tăng trở lại; kim ngạch xuất khẩu chuyển từ tăng trưởng âm sang tăng trưởng dương…; bên cạnh đó, các tập đoàn, tổng công ty lớn của Nhà nước bán ngoại tệ cho ngân hàng, sức ép tâm lý găm giữ USD do
lo sợ rủi ro tỉ giá giảm, chênh lệch giữa giá thị trường tự do với giá niêm yết trên thị trường chính thức đã giảm đáng kể
Đến cuối năm 2010, thị trường ngoại hối Việt Nam rơi vào tình trạng căng thẳng khi cầu ngoại tệ quá lớn, trong khi nguồn cung lại khan hiếm Điều này khiến cho giá USD/VND tăng mạnh, làm ảnh hưởng đến nền kinh tế vĩ mô
Đầu tháng 11/2010, giá trị đồng USD đang giảm trên toàn thế giới nhưng ở Việt Nam lại tăng mạnh Đây là một nghịch lý và đã gây ra những tác hại lớn cho nền kinh tế Giá USD trên thị trường tự do liên tục bứt phá lên mức cao, bỏ xa tỷ giá chính thức Các ngân hàng đều niêm yết giá đúng quy định,song thực tế, ngoài giá mua vào bán ra cộng thêm các chi phí khác đã cao hơn giá niêm yết Hiện tượng này dường như lặp lại tình hình của một số thời
kỳ trước Đáng chú ý,trong hệ thống ngân hàng, quy mô giao dịch, trạng thái ngoại hối cũng giảm Nếu trước đây (hồi tháng 8) điều chỉnh là dương 3%, gần đây, đã giảm xuống dương 1% và đến giai đoạn gần đây xuống xấp xỉ 0% Điều này cho thấy, các ngân hàng cũng không dư thừa ngoại tệ Đây thực sự là một
Trang 10nghịch lý khi trên thế giới USD mất giá, vàng tăng giá, còn ở Việt Nam USD tăng giá, vàng lên giá và tiền Việt lại mất giá
Sáu tháng đầu năm 2011, với chính sách thắt chặt tiền tệ của NHNN, điểm nổi bật nhất của thị trường ngoại tệ là duy trì được sự ổn định Tỉ giá giao dịch dần hạ xuống Bắt đầu từ sự “giảm nhiệt” của tỉ giá trên thị trường tự do, chênh lệch tỉ giá giữa thị trường này so với thị trường chính thức giảm dần xuống, thậm chí có thời điểm còn thấp hơn cả thị trường chính thức – một hiện tượng hiếm thấy trong nhiều năm qua Khi thị trường tự do bị thu hẹp, chênh lệch tỉ giá giữa thị trường tự do và thị trường chính thức giảm thiểu, tỉ giá cơ bản ổn định và có xu hướng giảm, đã tạo thời cơ để NHNN mua vào ngoại tệ
Tính đến ngày 29/9/2011, huy động vốn ngoại tệ của hệ thống các tổ chức tín dụng từ nền kinh tế tăng 0,07% (tương đương 17 triệu USD) so với cuối tháng 8/2011, tiền gửi ngoại tệ của tổ chức tín dụng tại NHNN tăng 45,1%
so với cuối tháng 8/2011, tương đương với mức tăng thêm 586 triệu USD Dư
nợ tín dụng bằng ngoại tệ (thu nợ ngoại tệ) giảm 792 triệu USD, tương đương 2,71% so với cuối tháng 8/2011 Như vậy, trong tháng 9/2011, phần thu ngoại
tệ (809 triệu USD) vẫn lớn hơn phần chi ngoại tệ trả nợ (745 triệu USD) của hệ thống ngân hàng là 64 triệu USD Mặt khác, tiền gửi ngoại tệ của tổ chức tín dụng tại NHNN tăng cao trong tháng 9/2011cho thấy thanh khoản ngoại tệ của
hệ thống ngân hàng tiếp tục được đảm bảo
Bên cạnh những chuyển biến tích cực, thị trường ngoại hối Việt Nam cũng đang đứng trước nhiều khó khăn cần phải giải quyết kịp thời:
- Trong hệ thống các tổ chức tín dụng, tốc độ tăng tín dụng ngoại tệ lớn hơn gần 2 lần tốc độ tăng tín dụng nội tệ, tốc độ tăng tín dụng vàng cũng rất cao là những nghịch lý không giống nước nào trong khu vựcvà trên thế giới Hậu quả là đã làm tăng tình trạng đô la hóa (thậm chí vàng hóa) vốn đã rất nặng
nề, nay lại càng phức tạp thêm Thêm vào đó, chênh lệch quá lớn giữa lãi suất