BLDS Nga, Điều 128 quy định: “các đối tượng của luật dân sự bao gồm toàn bộ các vật, kể cả tiền và các giấy tờ trị giá bằng tiền, các tài sản khác trong đó cóquyền tài sản, các công việc
Trang 1MỤC LỤC
Trang
LỜI MỞ ĐẦU……… 1
NỘI DUNG……… 2
I Quan niệm về tài sản trong pháp luật một số nước……… 2
II Những quy định pháp luật về tài sản trong BLDS năm 2005………… 3
1 Khái niệm tài sản……… 3
a Vật……… 4
b Tiền……… 5
c Giấy tờ có giá……… 6
d Quyền tài sản……… 7
2 Động sản và bất động sản……… 8
3 Phân loại vật và chế độ pháp lý đối với vật……… 11
a Phân loại vật……… 11
b Chế độ pháp lý đối với vật……… 14
III Thực trạng và hướng hoàn thiện quy định pháp luật liên quan đến tài sản……… 15
TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 21
Một số từ viết tắt:
BLDS: Bộ luật dân sự
BLTTDS: Bộ luật tố tụng dân sự
LỜI MỞ ĐẦU
Trong thực tế cuộc sống, hẳn ai trong chúng ta cũng biết tới những thứ như: ngôi nhà, cái ti vi, xe đạp, tiền…Cùng với đó, ta cũng không xa lạ khi gọi chúng là những tài sản của chính mình hay của một chủ thể nhất định nào khác Có thể nói, tài sản là vấn đề trung tâm, cốt lõi của mọi quan hệ xã hội nói chung và quan hệ pháp luật nói riêng Khái niệm tài sản đã được đề cập từ lâu trên thực tiễn cũng như trong khoa học pháp lí
Trong đời sống kinh tế - xã hội, khi tài sản luôn được coi là điều kiện vật chất
để duy trì các hoạt động trong lĩnh vực kinh tế và trong đời sống của con người thì sự tồn tại của các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ tài sản lại được coi là điều kiện cần thiết để giải quyết các tranh chấp liên quan đến tài sản đó Luật dân sự - nền
Trang 2tảng căn bản của luật tư mà ở đó Nhà nước chỉ đóng vai trò trọng tài – có liên quantới con người, tới hành vi của con người và quan hệ của con người đối với nhau liênquan đến tài sản Chính vì tài sản là công cụ của đời sống xã hội nên khái niệm về tàisản không phải là một khái niệm thuần túy có tính cách học thuật mà là một kháiniệm có tính mục đích rất cao Nó là một khái niệm động, khái niệm này phải đápứng được các nhu cầu cần thiết của xã hội và không thể xem xét nó tách rời các giá trị
xã hội
Do vậy, việc nghiên cứu tìm hiểu về khái niệm tài sản không chỉ có ý nghĩa đốivới lý luận mà còn có ý nghĩa to lớn với thực tiễn, nó giúp ta có những hiểu biết sâusắc và đúng đắn về tài sản, từ đó hỗ trợ việc áp dụng, thực thi các quy định của phápluật về tài sản trong thực tiễn
NỘI DUNG
I Quan niệm về tài sản trong pháp luật ở một số nước
Vì tài sản là một vẫn đề quan trọng nên không chỉ ở Việt Nam mà các nướckhác trên thế giới cũng có những quy định riêng về nó Nhưng mỗi nước có một cáchquy định khác nhau để phù hợp với tình hình kinh tế, xã hội của nước mình
BLDS Việt Nam năm 2005 dùng phương pháp liệt kê tài sản gồm 4 loại: vật,tiền, giấy tờ trị giá được bằng tiền và quyền tài sản Song song với đó, BLDS nước tacũng chia tài sản thành động sản và bất động sản Nhưng việc phân chia như vậy đaphần chỉ áp dụng đối với vật (một bộ phận của tài sản)
Còn ở BLDS năm 1804 của nước Cộng hòa Pháp, tài sản bao gồm động sản vàbất động sản (phân biệt theo tính chất), sau đó dùng phương pháp liệt kê những loại
Trang 3tài sản nào là động sản, tài sản nào là bất động sản Điển hình như ở Điều 517 BLDSPháp quy định: “ Tài sản là bất động sản do tính chất, mục đích sử dụng hoặc do đốitượng gắn liền với tài sản”; Điều 518: “ Đất đai và các công trình xây dựng là bấtđộng sản do tính chất”; Điều 527: “Tài sản có thể là động sản do tính chất hoặc dopháp luật quy định”; Điều 528: “Được coi là động sản do tính chất, động vật vànhững vật có thể tự mình di chuyển từ nơi này sang nơi khác”…Như vậy, cả haiBLDS của nước ta và Cộng hòa Pháp đều dùng phương pháp liệt kê nhưng với nhữngcách thức và phương pháp khác nhau.
BLDS Đức năm 1900 bằng một kỹ thuật pháp điển hóa khác với hình mẫu củaPháp đã tách những vấn đề pháp lý chung nhất của luật dân sự để tập hợp trongquyển I của bộ luật này mang tên phần chung, bao gồm 240 điều mà trong đó có mộtchương nói về vật Tiếp đó bộ luật này còn chứa đựng Quyển III về luật tài sản quyđinh chi tiết các vật quyền Tuy không có định nghĩa cụ thể về tài sản trong bộ luậtnày nhưng người ta có thể hiểu rằng, tài sản theo nghĩa pháp lý không chỉ là vật liệu,
Những nhận thức trên của Họ pháp luật La Mã – Đức không quá khác xa vớinhận thức của Họ pháp luật Anh – Mỹ Các luật gia Hoa Kỳ cho rằng, tài sản là cácquyền giữa mọi người có liên quan tới vật
BLDS Nga, Điều 128 quy định: “các đối tượng của luật dân sự bao gồm toàn
bộ các vật, kể cả tiền và các giấy tờ trị giá bằng tiền, các tài sản khác trong đó cóquyền tài sản, các công việc và dịch vụ, thông tin, kết quả của hoạt động trí óc, kể cảcác quyền sở hữu trí tuệ và các tài sản vô hình” Điều 132, khoản 1 quy định: “Doanh
Trang 4nghiệp với tư cách là một tổng thể tài sản cũng được coi là bất động sản” Quy địnhnày thể hiện quan điểm theo đó bất động sản là những tài sản quý giá nhất
Tóm lại, mỗi quốc gia trên thế giới có những cách riêng để quy định về tài sản.Những cách đó phù hợp với từng điều kiện kinh tế, xã hội, lối sống riêng của nước.Việc BLDS Việt Nam quy định như vậy là hoàn toàn hợp lý Có chăng chúng ta chỉnên lấy các bộ luật của nước khác để tham khảo chứ không dập khuôn máy móc theo
đó Thực tế các nhà làm luật nước ta đã làm như vậy
II Những quy định pháp luật về tài sản trong BLDS năm 2005
Tài sản đòng một vai trò quan trọng trong BLDS Nó là đời tượng của quyền
sở hữu và là khách thể của phần lớn những quan hệ pháp luật dân sự Việc quy định
về tài sản và phân loại tài sản trong blds là cần thiết Yêu cấu cơ bản nhất đặt ra đốivới tài sản trong BLDS là tài sản đó phải được đưa vào giao dịch Vấn đề về tài sảnđược quy định tại Điều 163 và chương XI, từ Điều 174 đến Điều 181 BLDS
1 Khái niệm tài sản
Tài sản – với tính cách là khách thể quyền sở hữu – đã được Điều 163 BLDS
xác định như sau: “Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ trị giá được bằng tiền và các
quyền tài sản” Đây là cách phân loại cũng đồng thời là cách định nghĩa tài sản của
Bộ luật Theo quy định này thì tài sản được liệt kê khép kín chỉ tồn tại ở một trongbốn loại: Vật, tiền, giấy tờ trị giá được bằng tiền – giấy tờ có giá, quyền tài sản
a Vật
Vật là bộ phận của thế giới vật chất, tồn tại khách quan mà con người có thểcảm giác được bằng các giác quan của mình Vật chỉ có ý nghĩa khi nó trở thành đốitượng trong quan hệ pháp luật nên nếu bộ phận của thế giới vật chất ,à con ngườikhông thể kiểm soát, chiếm hữu được thì cũng đồng nghĩa với việc con người khôngthể tác động được vào nó Do đó, không khí, gió, mưa thuộc về vật chất nhưng khôngthể được coi là tài sản về mặt pháp lý Hơn nữa, là đối tượng trong quan hệ pháp luậtnên vật phải đáp ứng được lợi ích của các bên chủ thể trong quan hệ Để xác định mộtvật có được coi là tài sản hay không phải đặt nó vào từng quan hệ cụ thể và ta khôngthể lập luận một chiều rằng có vật là có tài sản Như vậy, các điều kiện để vật đượccoi là tài sản là:
Trang 5Một là, vật đó phải tồn tại khách quan hoặc vật đó chắc chắn được hình thành
trong tương lai xác định được;
Hai là, vật đó con người phải chi phối được, phải kiểm soát được, phải chiếm
hữu được;
Ba là, vật đó phải xác định được giá trị thanh toán hay giá trị trao đổi, vật đó
phải khai thác được về tài sản (thương mại, dân sự, tiêu dùng), đáp ứng nhu cầu vậtchất và tinh thần của con người;
Bốn là, vật đó là vật được phép lưu thông dân sự và mang giá trị tài sản, có thể
trao đổi được cho nhau dưới dạng vật chất hay quy đổi được bằng tiền
Tóm lại, vật chỉ được coi là tài sản khi nó được sử dụng vào mục đích xác lậpquyền và nghĩa vụ tài sản của các chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật nhất định
và vật được xác định là đối tượng của quan hệ đó Nhờ việc xác định vật nào là tàisản mà phương thức kiện yêu cầu chấm dứt các hành vi xâm phạm đến quyền tài sảncủa chủ thể, kiện đòi lại vật( kiện vật quyền) từ người chiếm hữu trái pháp luật hoặckiện đòi bồi thường thiệt hại về tài sản( kiện trái quyền) mới có thể thực hiệnđược.Vật được xác định là tài sản cũng đồng thời là căn cứ để xác định quyền sở hữuđối với tài sản đó của chủ thể nhất định
b Tiền
Tiền, theo kinh tế chính trị học là vật ngang giá chung được sử dụng làm thước
đo giá trị của các loại tài sản khác Một tài sản được coi là tiền hiện nay khi nó manggiá trị lưu hành trên thực tế
Pháp luật Việt Nam coi tiền là một loại tài sản riêng biệt Loại tài sản này cónhững đặc điểm pháp lý khác với vật Có thể liệt kê một số điểm khác biệt như sau: Thứ nhất, đối với vật, chúng ta có thể khai thác công dụng hữu ích từ chính vật
đó (nhà được dùng để ở, dùng xe máy để đi lại, dùng bút để viết…) Còn đối với tiềnthì không thể khai thác công dụng hữu ích từ chính tờ tiền hay đồng tiền xu đó Tiềnthực hiện 3 chức năng chính là: công cụ thanh toán đa năng, công cụ tích lũy tài sản
và công cụ định giá các loại tài sản khác Khái niệm “quyền sử dụng” chỉ được dùngmột cách trọn vẹn cho vật chứ không áp dụng được cho tiền
Trang 6Thứ hai, các vật thông thường có thể do rất nhiều chủ thể khác nhau tạo ra, còn
tiền lại chỉ do một chủ thể duy nhất phát hành - đó là nhà nước, nhà nước độc quyềnphát hành Tiền được coi là một trong những biểu hiện của chủ quyền của mỗi quốcgia
Thứ ba, vật được xác định số lượng bằng các đơn vị đo lường thông dụng còn
tiền lại được xác định số lượng thông qua mệnh giá của nó
Thứ tư, chủ sở hữu vật được toàn quyền tiêu hủy vật thuộc quyền sở hữu của
mình còn chủ sở hữu tiền lại không được tiêu hủy tiền( không được xé, đốt, sửa chữa,thay đổi hình dạng, kích thước, làm giả…)
Dưới góc độ kinh tế thì không có sự khác biệt cơ bản về bản chất giữa tiền mặt
và tiền trong tài khoản nhưng dưới góc độ luật dân sự thì “tiền trong tài khoản” lạiđược hiểu là quyền tài sản (quyền yêu cầu) – một loại tài sản khác chứ không phải làtiền Trong pháp luật dân sự, tiền có tính năng đặc biệt (khác với vật) là khi chuyểngiao tiền thì bao giờ cũng chuyển giao quyền sở hữu, trừ trường hợp khi chuyển giao
ta đặc định hóa gói tiền thông qua việc nghiêm phong gói tiền lại
Một vấn đề đáng quan tâm nữa là việc ngoại tệ có được coi là tiền theo phápluật dân sự Việt Nam hay không Theo BLDS năm 1995, về mặt pháp lý, ngoại tệkhông được coi là tiền Bởi lẽ, ngoại tệ không phải là phương tiện thanh toán đa năng
- một tính năng quan trọng nhất của tiền Theo đó, ngoại tệ phải được coi là một loạitài sản đặc biệt, thuộc nhóm hàng hóa hạn chế lưu thông Chỉ những chủ thể nhấtđịnh (ngân hàng hay các tổ chức tín dụng khác, các tổ chức có chức năng hoạt độngngoại thương…) mới được phép xác lập giao dịch đối với nó Với việc BLDS năm
2005 đã bỏ quy định tiền thanh toán phải là tiền Việt Nam như quy định tại BLDSnăm 1995 thì về mặt pháp lý tiền có thể được hiểu là ngoại tệ hoặc nội tệ Tuy nhiên,ngoại tệ là tài sản hạn chế lưu thông chứ không được lưu hành rộng rãi như tiền ViệtNam
c Giấy tờ có giá
Giấy tờ có giá là loại tài sản rất phổ biến trong giao dịch dân sự hiện nay, đặcbiệt là giao dịch trong các hệ thống ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác Theonghĩa rộng, giấy tờ có giá nói chung, được hiểu là chứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ,
Trang 7trong đó xác nhận quyền tài sản của một chủ thể nhất định (tổ chức, cá nhân) xéttrong mối quan hệ pháp lý với các chủ thể khác Tuy nhiên, trong số giấy tờ minhchứng cho quyền tài sản đó, có một số giấy tờ đặc biệt có thể chuyển giao được, aiđánh mất nó là mất quyền, ai có nó thì có quyền, thì những tờ giấy này mới được coi
là giấy tờ có giá với tư cách là một loại tài sản trong quan hệ pháp luật dân sự
Dưới góc độ pháp lý, giấy tờ có giá với tư cách là một hình thức pháp lý của tàisản trong quan hệ pháp luật dân sự có những đặc điểm cơ bản như: xét về mặt hìnhthức, giấy tờ có giá là một chứng chỉ được lập theo hình thức, trình tự luật định; nộidung thể hiện trên giấy tờ có giá là thể hiện quyền tài sản, giá của giấy tờ có giá là giátrị quyền tài sản và quyền này được pháp luật bảo về; giấy tờ có giá có tính thanhkhoản, là công cụ có thể chuyển nhượng toàn bộ một lần, việc chuyển nhượng mộtphần giấy tờ có giá là vô hiệu Ngoài ra, giấy tờ có giá còn có những đặc điểm khácnhư tính có thời hạn, tính có thể đưa ra yêu cầu, tính rủi ro…
Dưới góc độ pháp luật dân sự, những loại giấy tờ có giá ghi danh và cấmchuyển nhượng không được coi là giấy tờ có giá với tư cách là một loại tài sản tronggiao lưu dân sự, bởi lẽ mất chúng không phải là mất tiền, chúng chỉ đơn giản lànhững loại giấy tờ có giá trị minh chứng cho quyền sử dụng, quyền yêu cầu, quyềnđịnh đoạt hay quyền sở hữu nói chung mà thôi Chỉ những giấy tờ có giá không ghidanh, có thể chuyển giao, cầm cố, thế chấp…và mất nó coi như là mất tiền mới đượccoi là giấy tờ có giá với tư cách là một loại tài sản trong quan hệ pháp luật dân sự.Như vậy, chỉ những loại giấy tờ có giá không ghi danh (giấy tờ minh chứng choquyền tài sản vô danh) mới được coi là giấy tờ có giá với tư cách là một loại tài sảntrong giao dịch dân sự Có thể kể đến như: cổ phiếu, công trái, séc, kỳ phiếu, tínphiếu và một số hóa đơn vận chuyển đường biển Còn giấy chứng nhận quyền sửdụng đất, sổ tiết kiệm, thẻ rút tiền hay những giấy tờ minh chứng cho quyền tài sản;
sổ bảo hiểm xã hội là giấy tờ minh chứng cho quyền yêu cầu, đều không phải là giấy
tờ có giá
Cần lưu ý, các loại giấy tờ xác nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng đối với tàisản như giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà, giấy
Trang 8đăng kí ô tô, không phải là giấy tờ có giá Nếu cần phải xem xét thì đó chỉ đơn thuầnđược coi là một vật và thuộc sở hữu của người đứng tên trên giấy tờ đó.
d Quyền tài sản
Quyền tài sản, theo định nghĩa tại Điều 181 BLDS 2005 thống nhất viết tắt là
“quyền trị giá được bằng tiền và có thể chuyển giao được trong giao dịch dân sự, kể
cả quyền sở hữu trí tuệ” Theo đó thì quyền tài sản trước tiên phải được hiểu là xử sựđược phép của chủ thể mang quyền Quyền ở đây chính là một quyền năng dân sựchủ quan của chủ thể được pháp luật ghi nhận và bảo vệ Quyền này phải trị giá đượcthành tiền hay nói cách khác là tương đương với một đại lượng nhất định Quyền tàisản thì có rất nhiều nhưng chỉ những quyền tài sản nào có thể trở thành đối tượngtrong giao dịch dân sự thì mới được coi là tài sản tại Điều 163 BLDS 2005
Hiện nay, pháp luật dân sự Việt Nam công nhận một số quyền tài sản là tài sảnnhư quyền sử dụng đất, quyền khai thác tài nguyên thiên nhiên, quyền yêu cầu bồithường thiệt hại đối với tài sản bị xâm phạm, quyền tài sản phát sinh từ quyền tác giả,quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với cây trồng, quyền đòi nợ, quyền được nhận
số tiền bảo hiểm đối với vật bảo hiểm đối với vật bảo đảm, quyền tài sản đối với phầngóp vốn trong doanh nghiệp, quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng (theo Điều 322BLDS 2005) Vấn đề đặt ra là liệu có phải mọi quyền liên quan đến các đối tượng của
sở hữu trí tuệ đều được coi là quyền tài sản với tư cách một loại tài sản hay không?Pháp luật công nhận hai nhóm quyền năng chính đối với các đối tượng của sở hữu trítuệ: nhóm các quyền nhân thân của tác giả và nhóm các quyền tài sản liên quan đếnviệc sử dụng và thu lợi từ việc sử dụng các đối tượng đó Trong số đó, chỉ các quyềnthuộc nhóm thứ hai mới có thể được coi là quyền tài sản: có thể định giá được bằngtiền và có thể chuyển giao trong giao lưu dân sự
Như vậy, tài sản – với tính cách là khách thể của quyền sở hữu, nó có thể là đốitượng của thế giới vật chất hoặc là kết quả của các hoạt động sáng tạo tinh thần Kháiniệm về tài sản trong BLDS 2005 mang tính chất liệt kê Ngày nay, tài sản có thểđược hiểu là bất cứ thứ gì có giá trị nằm trong sự chiếm hữu của một chủ thể, mộtkhái niệm rộng và không có giới hạn, luôn được bồi đắp thêm bởi những giá trị mới
mà con người nhận thức ra
Trang 9Việc phân loại tài sản gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản theo Điều
163 BLDS 2005 mang nhiều ý nghĩa trong luật dân sự cũng như trong các ngành luậtkhác Trong luật dân sự, có nhiều trường hợp đối tượng của quan hệ dân sự không thể
là tiền hoặc giấy tờ có giá ví dụ như hợp đồng thuê, hợp đồng mượn Hơn nữa, khiđối tượng của giao dịch là các loại tài sản khác nhau thì phương thức thực hiện cũng
sẽ được áp dụng khác nhau (ví dụ phương thức thực hiện nghĩa vụ giao vật khác vớithực hiện nghĩa vụ có đối tượng là tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản Đối với tiềnkhi thực hiện chậm sẽ bị tính lãi tương ứng với thời gian chậm trả còn đối với vật chỉ
có thể là buộc phải giao vật và/hoặc bồi thường thiệt hại Đối với quyền tài sản thìvấn đề cung cấp thông tin và chuyển giao giấy tờ là yêu cầu bắt buộc.) Trong luậtdân sự, việc xác định đúng loại tài sản theo Điều 163 BLDS 2005 sẽ có ý nghĩa trongviệc xác định đúng một số tội danh như tội vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ quabiên giới (Điều 154 BLHS năm 1999); tội tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả,ngân phiếu giả, công trái giả (Điều 180 BLHS); tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưuhành séc giả, các giấy tờ có giá giả khác (Điều 181 BLHS); tội hợp pháp hóa tiền, tàisản do phạm tội mà có (Điều 251 BLHS)
2 Động sản và bất động sản
Tài sản là một chế định quan trọng của Luật dân sự mà trong đó việc phân loạitài sản có ý nghĩa rất lớn, bởi lẽ tài sản là công cụ của đời sống xã hội Nó liên quanđến hàng loạt vấn đề pháp lý như: thuế, đảm bảo nghĩa vụ dân sự, thừa kế, hiệu lựccủa hợp đồng, thương mại, tư pháp quốc tế,…Trong khoa học pháp lý, theo các căn
cứ khác nhau, người ta có nhiều cách phân loại tài sản khác nhau Nhưng quan trọngnhất và trên hết tất cả là cách phân loại tài sản truyền thống và theo thông lệ cũng nhưtập quán quốc tế, tài sản được chia thành động sản và bất động sản
Khái niệm bất động sản và động sản đã được quy định tại Điều 174 BLDS năm
Trang 10- Các tài sản khác gắn liền với đất đai;
- Các tài sản khác do pháp luật quy định.
Động sản là những tái sản không phải là bất động sản”.
Cũng giống như cách định nghĩa tài sản, BLDS đã sử dụng phương pháp liệt kê
để định nghĩa bất động sản Căn cứ vào quy định đó thì hiện nay đất đai như nhà,công trình xây dựng, cây cối, tài nguyên,… sẽ được coi là bất động sản Tuy nhiên, ởđây pháp luật đã liệt kê mở chứ không liệt kê khép kín như Điều 163 BLDS Do đó,
cả những tài sản khác do pháp luật quy định cũng sẽ được coi là bất động sản Ví dụnhư theo quy định của Luật kinh doanh bất động sản thì quyền sử dụng đất là bấtđộng sản
Cách phân loại tài sản thành bất động sản và động sản là cách phân loại chủyếu dựa vào đặc tính vật lý của tài sản là có thể di dời được hay không thể di dờiđược (một số nước còn dựa cả vào công dụng của tài sản như luật của Pháp coi cả hạtgiống, máy móc nông cụ,… là bất động sản) Cách phân loại này là tiêu chí mà hầuhết pháp luật của các nước trên thế giới đều sử dụng bởi việc xác lập, thực hiện giaodịch liên quan đến hai loại tài sản này rất khác nhau cần phải có quy phạm điều chỉnhriêng đối với từng loại Theo pháp luật dân sự Việt Nam, việc phân loại tài sản thànhbất động sản và động sản có rất nhiều ý nghĩa Có thể liệt kê một số ý nghĩa cơ bảnsau đây:
- Xác lập thủ tục đăng kí đối với tài sản: Theo quy định tài Điều 167 BLDS thìquyền sở hữu đối vối bất động sản được đăng kí theo quy định của BLDS và phápluật về đăng kí bất động sản còn quyền sở hữu đối với bất động sản thù không phảiđăng kí trừ trường hợp pháp luật có quy định khác
- Xác định thời điểm chuyển giao quyền sở hữu đối với tài sản
Khoản 1 Điều 168 BLDS quy định việc chuyển giao quyền sở hữu đối với bấtđộng sản có hiệu lực kể từ thời điểm đăng kí quyền sở hữu, trừ trường hợp pháp luật
có quy định khác Còn khoản 2 quy định việc chuyển quyền sở hữu đối với động sản
có hiệu lực kể từ thời điểm động sản được chuyển giao trừ trường hợp pháp luật cóquy định khác
Trang 11- Xác định được các quyền năng của chủ thể quyền đối với từng loại tài sảnnhất định Đối với bất động sản do đặc tính vật lý của nó là khó có thể di dời nên việcthực hiện các quyền năng của quyền sở hữu đối với loại tài sản này sẽ gặp những hạnchế nhất định Chính bởi vậy, pháp luật đã ghi nhận cho các chủ thể có những quyềnnăng nhất định đối với tài sản của người khác để bất động sản có thể được khai tháccông dụng một cách tốt nhất như quyền sử dụng hạn chế bất động sản liền kề (Điều
- Xác định căn cứ xác lập quyền sở hữu
Ví dụ, nếu vật vô chủ, vật không xác định được ai là chủ sở hữu là động sản sẽthuộc sở hữu của người phát hiện cong nếu vật là bất động sản thì sẽ thuộc sở hữunhà nước (Điều 239 BLDS) Hoặc theo Điều 247 BLDS thì một người chiếm hữu,được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình, liên tục công khaitrong thời hạn 10 năm đối với động sản, 30 năm đối với bất động sản thì trở thànhchủ sh tài sản đó, kể từ thời điểm bắt đầu chiếm hữu
- Xác định hình thức của hợp đồng
Theo quy định tại Điều 467 BLDS thì hợp đồng tặng cho bất động sản phảiđược lập thành văn bản có công chứng, chứng thực, hoặc phải đăng kí nếu theo quyđịnh của pháp luật bất động sản phải đăng kí quyền sở hữu Hoặc theo quy định tạiĐiều 459 BLDS thì việc mua bán đấu bất động sản phải được lập thánh văn bản cócông chứng, chứng thực hoặc phải được đăng kí nếu pháp luật có quy định,…
- Là căn cứ để xác định thời hạn, thời hiệu và các thủ tục khác
Ví dụ, thời hạn công bố công khai tài sản bán đấu giá chậm nhất là bảy ngàyđối với động sản, ba mươi ngày đối với bất động sản (Điều 457 BLDS); thời hạnchuộc lại đối với tài sản đâ bán trong hợp đồng mua bán có chuộc lại đối với động