Đó là dựa trên mức độ hành vi, tìnhtrạng tài sản, khả năng bồi thường của cá nhân và xác định cá nhân gây thiệt hạiphải chịu trách nhiệm bồi thường cho người bị hại theo các mức độ năng
Trang 11 Khái niệm trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng……… 1
2 Năng lực chủ thể của cá nhân trong trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng 2
II Cơ sở pháp lý về năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá 3 nhân do gây thiệt hại ngoài hợp đồng
1 Mức độ năng lực của cá nhân chịu trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng… 3
2 Trách nhiệm pháp lý và trách nhiệm bổ sung bồi thường thiệt hại của… 4
cá nhân do gây thiệt hại ngoài hợp đồng
III Thực tiễn về năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá…… 12 nhân do gây thiệt hại ngoài hợp đồng
IV Một số giải pháp nhằm hoàn thiện những quy định pháp luật còn bất cập 14
về năng lực chịu TN BTTH của cá nhân do gây thiệt hại ngoài hợp đồng
2. Về cơ chế phối hợp giải quyết yêu cầu đòi BTTH ngoài hợp đồng……… 17
3. Tuyên truyền giáo dục pháp luật, nâng cao nhận thức của nhân dân, cụ… 17 thể là về BLDS và chế định BTTH ngoài hợp đồng
C KẾT LUẬN……… 18
Trang 2A LỜI MỞ ĐẦU
Những quan hệ dân sự luôn luôn phát triển và thay đổi đa dạng, phức tạpkhông ngừng nên pháp luật không thể bắt kịp hết trường hợp cụ thể trên thựctiễn Trong đời sống xã hội, năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoàihợp đồng của cá nhân là vấn đề mặc dù được pháp luật điều chỉnh, song lại chịunhiều ảnh hưởng của các quan hệ đạo đức, truyền thống, phong tục tập quán.Tuy nhiên, vấn đề này cũng được quy định tại Điều 606 BLDS 2005 và các Điềuluật khác cùng với những văn bản liên quan Đó là dựa trên mức độ hành vi, tìnhtrạng tài sản, khả năng bồi thường của cá nhân và xác định cá nhân gây thiệt hạiphải chịu trách nhiệm bồi thường cho người bị hại theo các mức độ năng lựchành vi dân sự khác nhau
B NỘI DUNG
I Lý luận chung về năng lực chịu trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng của
cá nhân
1 Khái niệm trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng
Trong lịch sử pháp luật thế giới, BTTH ngoài hợp đồng là một trongnhững chế định có sớm nhất của pháp luật dân sự BTTH ngoài hợp đồng còngọi là trách nhiệm dân sự do gây thiệt hại Theo quy định của Điều 604 BLDS
2005, trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng được hiểu: “ 1 Người nào do lỗi cố ý
hoặc lỗi vô ý xâm phạm… mà gây thiệt hại thì phải bồi thường” Như vậy, trách
nhiệm BTTH ngoài hợp đồng là một chế định pháp lý đặc biệt, trong đó chủ thểgây thiệt hại phải gánh chịu những hậu quả pháp lý bất lợi do hành vi gây thiệt
Trang 3hại của mình gây ra Trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng bao gồm các yếu tố: cóthiệt hại xảy ra; hành vi gây thiệt hại là hành vi trái pháp luật; có lỗi của ngườigây thiệt hại; và có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại và hành vi trái pháp luật.
2 Năng lực chủ thể của cá nhân trong trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng
Năng lực của chủ thể là cá nhân bao gồm năng lực pháp luật và năng lựchành vi dân sự tạo thành Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là khả năng của
cá nhân được hưởng các quyền và thực hiện các nghĩa vụ dân sự theo quy định
của pháp luật tại Điều 14 BLDS: “ Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là
khả năng….chấm dứt khi người đó chết” Như vậy, năng lực pháp luật dân sự là
khả năng khách quan và mọi cá nhân đều có năng lực pháp luật dân sự ngangnhau Cá nhân có năng lực pháp luật dân sự có quyền nhân thân không gắn vớitài sản và quyền nhân thân gắn với tài sản Cá nhân có quyền sở hữu, quyền thừa
kế và các quyền khác đối với tài sản Quyền tham gia quan hệ dân sự và có ýnghĩa phát sinh từ quan hệ đó Ngoài năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vidân sự của cá nhân là một yếu tố cùng với năng lực pháp luật dân sự cấu thànhnăng lực chủ thể của cá nhân Theo các quy định tại các Điều từ 17 đến Điều 21BLDS, quy định mức độ năng lực hành vi dân sự của cá nhân gồm các bậc ngườithành niên, người chưa thành niên và năng lực hành vi của họ được quy định rất
cụ thể: “ Người từ đủ mười tám tuổi trở lên…là người chưa thành niên” Theo
quy định tại Điều 19 BLDS thì người thành niên có năng lực hành vi dân sự đầy
đủ, trừ trường hợp người đó mất năng lực hành vi dân sự mà không thể nhậnthức được, làm chủ được hành vi của mình thì theo yêu cầu của người có quyền,lợi ích liên quan, tòa án ra quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự.Theo quy định tại Điều 21 BLDS, thì người không có năng lực hành vi dân sự làngười chưa đủ sáu tuổi Năng lực hành vi dân sự của người chưa thành niên chưa
đủ sáu tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi được quy định tại Điều 20 BLDS, thìđược coi là người có một phần năng lực hành vi dân sự, do vậy người ở độ tuổi
Trang 4này phải chịu trách nhiệm một phần tài sản của mình, khi gây thiệt hại cho ngườikhác Còn năng lực chịu trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng của cá nhân đượcquy định tại Điều 606 BLDS.
II Cơ sở pháp lý về năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân do gây thiệt hại ngoài hợp đồng
Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại (BTTH) của cá nhân đượcxác định theo những tiêu chí dưới đây:
1 Mức độ năng lực của cá nhân chịu trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng
Trong trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng, pháp luật có quy định về nănglực chịu trách nhiệm BTTH của cá nhân Quy định về năng lực chịu trách nhiệmBTTH của cá nhân là thật sự cần thiết Bởi vì, cá nhân gây thiệt hại hoặc làngười đã thành niên hoặc là người chưa thành niên hoặc là người mất năng lựchành vi dân sự và việc xác định trách nhiệm BTTH thuộc về ai có ý nghĩa khôngnhững về mặt lý luận, mà còn có ý nghĩa về mặt thực tế quan trọng Việc xácđịnh ai là người phải BTTH do có hành vi gây thiệt hại là mục đích điều chỉnhcủa pháp luật
Một mặt, việc xác định rõ chủ thể phải BTTH để quy trách nhiệm chongười đó phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình
Mặt khác, còn là căn cứ xác định tư cách chủ thể trong tố tụng dân sự; ai
là bị đơn dân sự trước Tòa án khi có việc cá nhân gây thiệt hại cho người khácphải bồi thường theo trách nhiệm dân sự? Hơn nữa, lợi ích của người bị thiệt hạihoặc thân nhân của người bị thiệt hại, để có căn cứ để yêu cầu BTTH, bảo đảmtính nghiêm minh của pháp luật đồng thời với việc bảo về các quyền, lợi ích hợppháp của người bị gây thiệt hại
Năng lực chịu trách nhiệm BTTH của cá nhân được quy định tại Điều 606BLDS, xác định trách nhiệm của cá nhân gây thiệt hại phải chịu trách nhiệm bồithường cho người bị thiệt hại theo các mức độ năng lực hành vi dân sự khác
Trang 5nhau Căn cứ vào những điều kiện về độ tuổi và sự phát triển của trí tuệ, nhậnthức của cá nhân để có cơ sở xác định trách nhiệm của cá nhân khi gây thiệt hạicho người khác thì trách nhiệm bồi thường được thực hiện với những mức độnào.
2 Trách nhiệm pháp lý và trách nhiệm bổ sung bồi thường thiệt hại của cá nhân do gây thiệt hại ngoài hợp đồng
Điều 606 BLDS, quy định về năng lực chịu trách nhiệm BTTH của cánhân trong ba mức độ khác nhau, theo đó chủ thể có trách nhiệm BTTH đượcxác định:
* Mức độ thứ nhất: Tại khoản 1 của điều luật quy định: “ Người từ đủ mười tám
tuổi trở lên gây thiệt hại thì phải bồi thường” Như vậy, người có đầy đủ năng
lực hành vi dân sự, người đã thành niên phải chịu trách nhiệm về hành vi củamình, phải BTTH bằng tài sản của mình và không phụ thuộc vào tài sản của bảnthân người này Người đã thành niên có hành vi gây thiệt hại cho người khácphải chịu trách nhiệm bồi thường toàn bộ thiệt hại bằng tài sản của mình và có tưcách là bị đơn dân sự trước tòa án, là người có trách nhiệm dân sự bồi thườngtoàn bộ thiệt hại Người trưởng thành còn được hiểu bao gồm những người bịhạn chế năng lực hành vi dân sự theo quy định tại Điều 23 BLDS Điều 23BLDS quy định trường hợp một người đã thành niên (đủ mười tám tuổi, khôngmắc bệnh tâm thần hoặc các bệnh khác mà không thể nhận thức và làm chủ hành
vi của mình), có các hành vi sau đây thì năng lực hành vi dân sự của người đó bịhạn chế không được tham gia một số quan hệ pháp luật dân sự, ví dụ giao dịchliên quan đến tài sản của người đó, nhưng trách nhiệm dân sự của họ không đượcloại trừ khi họ có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại cho người khác Tại khoản 1
Điều 23 BLDS quy định: “Người nghiện ma túy, nghiện các chất kích thích
khác… năng lực hành vi dân sự” Theo quy định trên, nhằm hạn chế năng lực
hành vi dân sự của cá nhân khi tham gia vào quan hệ giao dịch dân sự mà có liên
Trang 6quan đến tài sản của người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, nhưng khôngphải là căn cứ loại trừ trách nhiệm dân sự của người bị hạn chế năng lực hành vidân sự, khi có hành vi gây thiệt hại cho người khác Bởi vì, khi tham gia giaodịch dân sự thì chủ thể tự mình tham gia theo ý chí tự do, tự nguyện, tự định đoạt
và có nghĩa vụ thực hiện các quyền và nghĩa vụ dân sự liên quan đến tài sản củamình Người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự theo một bản án tuyên bố người
đó bị hạn chế năng lực hành vi dân sự có hiệu lực pháp luật, do vậy việc địnhđoạt tài sản của người đó bị hạn chế trong quan hệ giao dịch liên quan đến tài sảncủa người đó Vì người đó đã có hành vi được xác định là nghiện ma túy, nghiệncác chất kích thích khác dẫn đến phá tài sản của gia đình, của bản thân (đã cóbản án hạn chế năng lực hành vi dân sự) Nhưng người bị hạn chế năng lực hành
vi dân sự do các nguyên nhân được quy định tại Điều 23 BLDS, không đồng thời
là căn cứ miễn trách nhiệm BTTH cho người đó, khi có hành vi trái pháp luậtgây thiệt hại cho người khác Vì người đó là người trưởng thành, phải chịu tráchnhiệm về mọi hành vi của mình
* Mức độ thứ hai: Theo quy định tại khoản 2 Điều 606 BLDS: “ Người chưa
thành niên dưới mười lăm tuổi gây thiệt hại mà còn cha, mẹ thì cha, mẹ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại; nếu tài sản của cha, mẹ không đủ để bồi thường mà con chưa thành niên gây thiệt hại có tài sản riêng thì lấy tài sản đó để bồi thường phần còn thiếu, trừ trường hợp quy định tại Điều 621 của Bộ luật này.
Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi gây thiệt hại thì phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu không đủ tài sản để bồi thường thì cha, mẹ phải bồi thường phần còn thiếu bằng tài sản của mình”.
Theo quy định trên, việc xác định chủ thể BTTH được chia thành haitrường hợp khác nhau trong việc xác định chủ thể có trách nhiệm bồi thường và
tư cách của chủ thể là bị đơn trong tố tụng dân sự:
Trang 7Trường hợp thứ nhất, người dưới mười lăm tuổi gây thiệt hại mà còn cha,
mẹ thì cha, mẹ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại, theo đó cha, mẹ của người gâythiệt hại trong độ tuổi này có tư cách bị đơn dân sự trước tòa án Nếu tài sản củacha, mẹ người ở độ tuổi này gây thiệt hại không đủ để bồi thường mà người conchưa thành niên gây thiệt hại có tài sản riêng thì lấy tài sản của người con đó đểbồi thường phần còn thiếu Người con trong độ tuổi này gây thiệt hại không cótrách nhiệm phải bồi thường, mà trách nhiệm bồi thường thuộc về cha, mẹ người
đó Trách nhiệm của cha, mẹ của người dưới mười lăm tuổi phải BTTH do conchưa thành niên gây ra là trách nhiệm pháp lý, không cần điều kiện lỗi của cha,
mẹ trong việc quản lý, giám sát hành vi của con mình Quy định này khôngnhững có ý nghĩa về mặt lý luận, mà còn có ý nghĩa về mặt thực tiễn, nhằm bảo
vệ lợi ích hợp pháp của người bị gây thiệt hại Người bị gây thiệt hại trừ khi cólỗi, không quan tâm đến việc gây thiệt hại do người dưới mười lăm tuổi gây rahay do người đã trưởng thành gây ra Người bị thiệt hại phải được bồi thường vàtrách nhiệm bồi thường đó thuộc về ai, người bị hại luôn luôn quan tâm Trongtrường hợp cha, mẹ không có đủ tài sản để bồi thường thiệt hại do con dướimười lăm tuổi gây ra, mà con có tài sản riêng thì lấy tài sản của con để bồithường phần còn thiếu, không thể hiểu là khi đó trách nhiệm bồi thường thuộc vềngười con hoặc hiểu trách nhiệm BTTH trong trường hợp này là theo phần, cảhai cách hiểu như vậy đều là không đúng với quy định của pháp luật Tráchnhiệm của cha, mẹ của những người dưới mười lăm tuổi phải BTTH là tính đếnthời điểm người con gây thiệt hại là người dưới mười lăm tuổi, mà không căn cứvào thời điểm tòa án giải quyết tranh chấp
Việc lấy tài sản của con để bồi thường phần còn thiếu trong trường hợpnày không thể được hiểu là nghĩa vụ bổ sung, vì khi đề cập đến nghĩa vụ bổ sung
là đề cập đến chủ thể của nghĩa vụ đó Trong trường hợp này, việc lấy tài sản củacon để bồi thường bổ sung phần còn thiếu hoặc toàn bộ trong trường hợp cha,
Trang 8mẹ không có tài sản hoặc không đủ tài sản để bồi thường là xét về việc khắcphục phần còn thiếu về tài sản, mà không phải là trường hợp xác định chủ thểthực hiện nghĩa vụ bổ sung Nghĩa vụ bổ sung là nghĩa vụ của người phải thựchiện nghĩa vụ bổ sung bằng tài sản của mình với tư cách là người thực hiện nghĩa
vụ bổ sung trong trường hợp người có nghĩa vụ chính không thực hiện hoặckhông thực hiện đúng, đầy đủ nghĩa vụ với bên có quyền khi đến hạn thực hiệnnghĩa vụ Nhưng trong trường hợp theo quy định tại Điều 606 BLDS quy định vềnăng lực chịu trách nhiệm BTTH của cá nhân không thể hiểu là người con dướimười lăm tuổi trực tiếp gây thiệt hại phải thực hiện nghĩa vụ bổ sung trongtrường hợp cha, mẹ không có hoặc không đủ tài sản để bồi thường cho người bịthiệt hại Bởi vì, trách nhiệm BTTH luôn thuộc về cha, mẹ trong trường hợp condưới mười lăm tuổi của họ gây thiệt hại, mà trách nhiệm BTTH không thuộc vềngười con Trong quan hệ BTTH thì cha, mẹ của người dưới mười lăm tuổi cótrách nhiệm bồi thường, còn người con trực tiếp gây thiệt hại không phải là chủthể trong quan hệ nghĩa vụ BTTH Trách nhiệm BTTH của cha, mẹ do con dướimười lăm tuổi gây ra là trách nhiệm trực tiếp, trách nhiệm pháp lý do pháp luậtquy định Còn hành vi của người con dưới mười lăm tuổi gây thiệt hại là nguyênnhân trực tiếp của thiệt hại, nhưng trách nhiệm bồi thường thiệt hại lại thuộc vềcha, mẹ của họ Việc lấy tài sản của người con dưới mười lăm tuổi trực tiếp gâythiệt hại để bồi thường bổ sung phần còn thiếu là nhằm bảo vệ kịp thời quyền, lợiích hợp pháp của người bị thiệt hại và nhằm bảo vệ nguyên tắc BTTH là toàn bộ
và kịp thời Người con dưới mười lăm tuổi gây thiệt hại thì cha, mẹ của ngườinày có trách nhiệm bồi thường nhưng cha, mẹ lại không có đủ hoặc không có tàisản để bồi thường, mà lấy tài sản của con để bồi thường là việc pháp luật quyđịnh về điều kiện kinh tế có thể giải quyết được, dùng để BTTH Cha, mẹ củangười con chưa trưởng thành trực tiếp gây thiệt hại với tư cách là người quản lýtài sản của con vị thành niên, có nghĩa vụ dùng tài sản để bồi thường bổ sung
Trang 9phần còn thiếu Việc cha, mẹ dùng tài sản của con để bồi thường phần còn thiếukhông phải là trách nhiệm bồi thường được chuyển sang cho người con trực tiếpgây thiệt hại, đồng thời cũng không làm chấm dứt trách nhiệm BTTH của cha,
mẹ Hơn nữa, việc cha, mẹ dùng tài sản của người con dưới mười lăm tuổi đãgây thiệt hại để bồi thường phần còn thiếu không thuộc trường hợp người convới tư cách là người thực hiện nghĩa vụ bổ sung Bởi vì việc cha, mẹ dùng tài sảncủa con để bồi thường phần còn thiếu thì cha, mẹ vẫn là chủ thể có trách nhiệmbồi thường, việc dùng tài sản của con để bồi thường không phải là căn cứ xácđịnh tư cách người phải bồi thường từ cha, mẹ được chuyển sang cho con vàtrách nhiệm của cha, mẹ không thể triệt tiêu trong trường hợp này Những phântích trên đây nhằm củng cố thêm cơ sở trách nhiệm pháp lý luôn thuộc về cha,
mẹ kể cả trong trường hợp con dưới mười lăm tuổi trực tiếp gây thiệt hại màkhông có tài sản riêng để cha, mẹ có thể dùng vào việc BTTH do người con đógây ra, mà trách nhiệm luôn luôn thuộc về cha, mẹ của người con dưới mười lămtuổi gây thiệt hại cho dù cha, mẹ của người đó có hoặc không có đủ tài sản đểBTTH do con dưới mười lăm tuổi gây ra
Trường hợp thứ hai, theo quy định tại đoạn hai khoản 2 Điều 606 BLDS,
thì “ người từ đủ mười lăm tuổi đến …thì cha, mẹ phải bồi thường phần còn
thiếu bằng tài sản của mình” Quy định này trái ngược với quy định tại đoạn thứ
nhất khoản 2 Điều 606 BLDS ở những điểm sau đây:
Người từ đủ mười lăm tuổi gây thiệt hại thì phải bồi thường bằng tài sảncủa mình và người này là chủ thể BTTH Pháp luật quy định người từ đủ mườilăm tuổi gây thiệt hại có trách nhiệm BTTH là căn cứ vào điều kiện xã hội thực
tế Bộ luật Lao động quy định những người từ đủ mười lăm tuổi được tham giagiao kết hợp đồng lao động với những công việc phù hợp với nhận thức và sứckhỏe của người đó, theo đó người ở độ tuổi này tham gia lao động trong cáccông ty, doanh nghiệp, hợp tác xã… được hưởng các khoản tiền lương, tiền
Trang 10thưởng và các khoản phúc lợi khác và là chủ sở hữu của các khoản thu nhập hợppháp đó Hơn nữa, theo quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự, thì người từ đủmười lăm tuổi có quyền tham gia tố tụng dân sự với tư cách nguyên đơn hoặc bịđơn dân sự trước tòa án Người ở độ tuổi này đã nhận thức được hành vi củamình và phần nào cũng tự định đoạt ý chí tham gia các quan hệ dân sự phổ biếntrong cuộc sống Như vậy, pháp luật đã căn cứ vào những cơ sở này để quy địnhtrách nhiệm của người từ đủ mười lăm tuổi gây thiệt hại cho người khác thì phảibồi thường bằng tài sản của mình Cha, mẹ của người trong độ tuổi này có tráchnhiệm bồi thường thay cho người ở đọ tuổi này gây thiệt hại, mà không có tàisản hoặc không đủ tài sản để bồi thường Cha, mẹ của người gây thiệt hại ở độtuổi từ đủ mười lăm tuổi phải BTTH thay cho người gây thiệt hại được hiểu lànghĩa vụ bổ sung Nếu con không bồi thường được thiệt hại, thì cha, mẹ có tráchnhiệm BTTH do con gây ra bằng tài sản của cha, mẹ Đặc điểm của nghĩa vụ dân
sự bổ sung được thể hiện rõ trong quy định tại đoạn hai khoản 2 Điều 606BLDS
* Mức độ thứ ba: Theo quy định tại khoản 3 Điều 606 BLDS: “Người chưa
thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự gây thiệt hại ….thì không phải lấy tài sản của mình để bồi thường”.
Địa vị pháp lý của người giám hộ hoàn toàn khác biệt so với địa vị pháp lýcủa người là cha, là mẹ của những người chưa thành niên khác Bởi vì, người
giám hộ được quy định tại Điều 58 BLDS là: “Giám hộ là việc cá nhân, tổ chức
……người mất năng lực hành vi dân sự ( sau đây gọi chung là người được giám hộ)” Người được giám hộ theo quy định tại khoản 2 Điều 58 gồm: “ a,Người chưa thành niên không còn cha, mẹ, không xác định được cha, mẹ….b,Người mất năng lực hành vi dân sự” Theo quy định tại khoản 3 Điều 58 BLDS thì:
“Người chưa đủ mười lăm tuổi…phải có người giám hộ”.