1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Theo dõi tình hình mắc bệnh viêm tử cung ở đàn lợn nái tại trại lợn của công ty TNHH một thành viên sản xuất kinh doanh thương mại Trường Thịnh và thử nghiệm một số phác đồ điều trị bệnh

64 612 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 64
Dung lượng 718,6 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Được sự nhất trí của giáo hướng dẫn và sự tiếp nhận của cơ sở, em đã tiến hành thực hiện đề tài : “Theo dõi tình hình mắc bệnh viêm tử cung ở đàn lợn nái tại trại lợn của Công ty TNHH mộ

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Chăn nuôi Thú y Khoa: Chăn nuôi Thú y Khóa học: 2011 - 2015

THÁI NGUYÊN, NĂM 2015

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Chăn nuôi Thú y

Khóa học: 2011 - 2015 Giảng viên hướng dẫn: ThS La Văn Công

THÁI NGUYÊN, NĂM 2015

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành chuyên đề tốt nghiệp này, ngoài sự cố gắng nỗ lực của bản thân, tôi còn được rất nhiều sự giúp đỡ nhiệt tình, quý báu của các Thầy các Cô trong khoa Chăn nuôi - Thú y cùng gia đình, bạn bè và người thân trong suốt thời gian thực tập

Trước hết tôi xin được bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc tới Thầy giáo Th.S

La Văn Công, cán bộ giảng dạy Bộ môn Bệnh động vật trường Đại học

Nông lâm Thái Nguyên Thầy đã hướng dẫn, chỉ bảo tôi tận tình trong suốt quá trình học tập cũng như trong quá trình thực hiện đề tài tốt nghiệp này

Tôi xin gửi lời cảm ơn tới ban lãnh đạo công ty TNHH Trường Thịnh, cùng các cán bộ của công ty đã hết lòng giúp đỡ tôi trong thời gian tôi thực tập tại trang trại

Tôi xin bày tỏ sự biết ơn tới gia đình, bạn bè và người thân, những người luôn động viên giúp đỡ tôi về mọi mặt, tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực tập chuyên đề tốt nghiệp này

Vậy một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn!

Trang 4

LỜI NÓI ĐẦU

Để hoàn thành chương trình đào tạo trong Nhà trường, thực hiện phương châm học đi đôi với hành, lý thuyết gắn liền với thực tiễn sản xuất, thực tập tốt nghiệp là giai đoạn cuối cùng trong toàn bộ chương trình học tập của tất cả các trường Đại học nói chung và trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên nói riêng Giai đoạn thực tập chiếm một vị trí hết sức quan trọng đối với mỗi sinh viên trước khi ra trường Đây là khoảng thời gian để sinh viên củng cố và hệ thống hóa toàn bộ kiến thức đã học, đồng thời giúp sinh viên làm quen với thực tiễn sản xuất, từ đó nâng cao trình độ chuyên môn, nắm được phương thức tổ chức và tiến hành công việc nghiên cứu, ứng dụng các tiễn bộ khoa học kỹ thuật vào thực tiễn sản xuất, tạo cho sinh viên có tác phong làm việc đúng đắn, sáng tạo, để khi ra trường trở thành một người cán bộ có chuyên môn, đáp ứng được yêu cầu thực tiễn, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp phát triển đất nước

Xuất phát từ quan điểm trên và được sự đồng ý của khoa Chăn nuôi Thú y, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên Được sự nhất trí của giáo hướng dẫn và sự tiếp nhận của cơ sở, em đã tiến hành thực hiện đề tài :

“Theo dõi tình hình mắc bệnh viêm tử cung ở đàn lợn nái tại trại lợn của Công ty TNHH một thành viên sản xuất kinh doanh thương mại Trường Thịnh và thử nghiệm một số phác đồ điều trị bệnh"

Do thời gian thực tập có hạn, kiến thức chuyên môn còn nhiều hạn chế nên trong bản khóa luận tốt nghiệp này không tránh khỏi những hạn chế

và thiếu sót Em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo, của bạn bè, đồng nghiệp để bản khóa luận được hoàn thiện hơn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG VÀ SƠ ĐỒ

Bảng 2.1: Các tiêu chí chẩn đoán viêm tử cung 17

Bảng 2.2: Ý nghĩa của dịch chảy ra từ âm đạo qua thời gian xuất hiện 18

Bảng 4.1: Lịch tiêm phòng bệnh cho lợn của trại 36

Bảng 4.2: Kết quả công tác phục vụ sản xuất 41

Bảng 4.3: Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái của trại 42

Bảng 4.4: Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung theo các các dòng giống lợn 43

Bảng 4.5: Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung theo lứa đẻ 44

Bảng 4.6: Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung theo dãy chuồng 45

Bảng 4.7: Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung ở điều kiện thời tiết khác nhau 46

Bảng 4.8: Kết quả điều trị bệnh viêm tử cung theo phác đồ điều trị 47

Bảng 4.9: Sơ bộ hạch toán thuốc thú y 48

Bảng 4.10: Một số chỉ tiêu sinh lý sinh sản của lợn nái sau điều trị 49

Sơ đồ 3.1: Bố trí thí nghiệm 30

Trang 6

DANH MỤC CÁC CỤM, TỪ VIẾT TẮT

FSH : Hormon kích thích nang trứng

LH : Hormon kích thích thể vàng Nxb : Nhà xuất bản

TNHH : Trách nhiệm hữu hạn

Trang 7

MỤC LỤC

Phần 1 MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài 2

1.2.1 Mục tiêu của đề tài 2

1.2.2 Yêu cầu của đề tài 2

1.3 Ý nghĩa của đề tài 2

1.3.1 Ý nghĩa trong khoa học 2

1.3.2 Ý nghĩa thực tế 3

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

2.1 Cơ sở khoa học 4

2.1.1 Cấu tạo giải phẫu và sinh lý cơ quan sinh dục cái 4

2.1.1.1 Bộ phận sinh dục bên ngoài 4

2.1.1.2 Bộ phận sinh dục bên trong 4

2.1.2 Đặc điểm sinh lý, sinh dục của lợn nái 8

2.1.2.1 Sự thành thục về tính 8

2.1.2.2 Chu kỳ tính 8

2.1.2.3 Khoảng cách giữa các lứa đẻ 9

2.1.3 Sinh lý lâm sàng 10

2.1.4 Quá trình viêm tử cung 11

2.1.5 Các thể viêm tử cung 13

2.1.5.1 Viêm nội mạc tử cung (Endometritis) 13

2.1.5.2 Viêm cơ tử cung (Myometritis Puerperalis) 14

2.1.5.3 Viêm tương mạc tử cung (Perimetritis Puerperali) 15

2.1.8 Biện pháp phòng và trị bệnh viêm tử cung 18

2.1.9 Thành phần hóa học và cơ chế tác dụng của thuốc sử dụng trong đề tài 20

Trang 8

2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước 23

2.2.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 23

2.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 24

PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27

3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 27

3.3 Nội dung nghiên cứu 27

3.3.1 Nội dung nghiên cứu 27

3.3.2 Các chỉ tiêu theo dõi 27

3.4 Phương pháp nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi 28

3.4.1 Phương pháp theo dõi và thu thập thông tin 28

3.4.2 Phương pháp bố trí thí nghiệm 28

PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 31

4.1 Công tác phục vụ sản xuất 31

4.1.2.1 Phòng bệnh 34

4.1.2.2 Công tác chẩn đoán và điều trị bệnh 37

4.2 Kết quả nghiên cứu 42

4.2.1 Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái tại cơ sở 42

4.2.1.1 Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái sinh sản của trại 42

4.2.1.3 Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung theo lứa đẻ 44

4.2.1.4 Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung theo dãy chuồng 45

4.2.2.1 Kết quả điều trị bệnh viêm tử cung theo phác đồ điều trị 47

4.2.2.2 Sơ đồ hạch toán thuốc thú y điều trị bệnh viêm tử cung 48

4.2.3 Một số chỉ tiêu sinh lý sinh sản của lợn nái sau điều trị 49

Phần 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 51

5.1 Kết luận 51

5.2 Đề nghị 51

TÀI LIỆU THAM KHẢO 52

Trang 9

Phần 1

MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề

Trong số các loài gia súc ở Việt Nam hiện nay, con lợn giữ vai trò rất quan trọng Nó cung cấp một khối lượng thịt lớn đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu Ngoài ra, chăn nuôi lợn còn cung cấp một lượng lớn phân chuồng cho ngành trồng trọt và là nguồn cung cấp các sản phẩm phụ như da, mỡ cho ngành công nghiệp chế biến

Nước ta từ ngày hội nhập với nền kinh tế thế giới chăn nuôi nói chung và chăn nuôi lợn nói riêng đang có tốc độ tăng trưởng rất nhanh, số đầu lợn năm 2002 là 23,17 triệu con đứng thứ 7 trên thế giới, đến năm 2004 tổng đàn lợn cả nước là 26,14 triệu con

Trong chiến lược phát triển chăn nuôi đến năm 2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt ngày 16 tháng 1 năm 2008, trong đó có chiến lược phát triển chăn nuôi lợn Đến năm 2020 tổng đàn lợn nước ta ước đạt khoảng 35 triệu con, bình quân tăng 2% trên năm Sản lượng thịt các loại đạt 5500 ngàn tấn, trong đó thịt lợn chiếm 65%, sản lượng thịt xẻ trung bình đạt 56kg trên đầu người Để đạt được các chỉ tiêu trên, trong những năm qua, Nhà nước đã có nhiều chính sách nhằm thúc đẩy ngành chăn nuôi lợn phát triển, như nâng cao chất lượng con giống, thức ăn, kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng và phòng trừ dịch bệnh

Tuy nhiên trong những năm qua ngành chăn nuôi lợn còn gặp nhiều khó khăn Tình hình dịch bệnh vẫn xảy ra thường xuyên, đặc biệt là bệnh viêm tử cung ở đàn lợn nái sinh sản sau khi sinh Bệnh viêm tử cung là một trong những tổn thương ở đường sinh dục của lợn nái sau khi sinh, ảnh hưởng đến khả năng sinh sản và năng suất chăn nuôi của lợn nái, như lợn con sinh ra bị còi cọc, lợn nái động dục lại chậm, không thụ thai, vô sinh và

có thể mất khả năng sinh sản Bệnh viêm tử cung là bệnh sinh sản gây ra do

Trang 10

một số vi khuẩn như: Escherichia coli, streptococcus, staphylococcus…

Bệnh tuy không xảy ra ồ ạt như các bệnh truyền nhiễm nhưng gây ảnh hưởng lớn đến hiệu quả chăn nuôi lợn nái sinh sản như: gây chết thai, lưu thai, sẩy thai… nghiêm trọng hơn bệnh vẫn âm thầm làm hạn chế khả năng sinh sản của đàn lợn nái ở các lứa tiếp theo, ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng con giống Với mục đích góp phần vào nâng cao khả năng sinh sản

và giảm chi phí thuốc thú y cho đàn lợn nái nuôi tại trại lợn của Công ty TNHH 1 thành viên sản xuất kinh doanh thương mại Trường Thịnh, đường

398 Lim Xuyên - sông Khê, Bắc Giang

Xuất phát từ thực tế của trại chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:

“Theo dõi tình hình mắc bệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái nuôi tại trại lợn của Công ty TNHH một thành viên sản xuất kinh doanh thương mại Trường Thịnh và thử nghiệm một số phác đồ điều trị bệnh"

1.2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài

1.2.1 Mục tiêu của đề tài

- Đánh giá tỷ lệ cảm nhiễm bệnh viêm tử cung ở lợn

- Đánh giá hiệu quả của hai phác đồ điều trị

- Xác định những biểu hiện lâm sàng của bệnh

1.2.2 Yêu cầu của đề tài

- Điều tra tình hình chăn nuôi của trại

- Đánh giá hiệu quả của hai phác đồ điều trị

1.3 Ý nghĩa của đề tài

1.3.1 Ý nghĩa trong khoa học

Đề tài xác định một số thông tin có giá trị khoa học bổ sung thêm những hiểu biết về bệnh viêm tử cung ở lợn, là cơ sở khoa học cho những biện pháp phòng trị bệnh có hiệu quả

Trang 12

Phần 2

TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Cơ sở khoa học

2.1.1 Cấu tạo giải phẫu và sinh lý cơ quan sinh dục cái

Qúa trình hoạt động sinh lý của cơ quan sinh dục là rất quan trọng, giúp gia súc trong hoạt động sinh sản nhằm duy trì nòi giống Cấu tạo gồm

bộ phận sinh dục bên ngoài và bộ phận sinh dục bên trong

2.1.1.1 Bộ phận sinh dục bên ngoài

* Âm môn (vulva)

Âm môn hay còn gọi là âm hộ, nằm dưới hậu môn Bên ngoài có hai môi, trên hai môi có sắc tố, nhiều tuyến tiết chất nhờn màu trắng và tuyến tiết mồ hôi

* Tiền đình (vetstibulum vaginae simusinogenitalism)

Tiền đình là giới hạn giữa âm môn và âm đạo Trong tiền đình có màng trinh, phía trước là âm đạo Màng trinh là các sợi cơ đàn hồi do hai lớp niêm mạc gấp lại tạo thành một nếp Tiền đình có một số tuyến xếp theo hàng chéo, hướng quay về âm vật

2.1.1.2 Bộ phận sinh dục bên trong

* Âm đạo (vagina)

Âm đạo là một ống tròn để chứa cơ quan sinh dục đực trong quá trình giao phối, đồng thời là đường cho thai ra ngoài trong quá trình đẻ,

Trang 13

phía trước là cổ tử cung, phía sau là tiền đình có màng trinh Âm đạo được cấu tạo bởi ba lớp:

Lớp liên kết: bên ngoài

Lớp cơ trơn: bên ngoài là cơ dọc, bên trong là cơ vòng, các lớp cơ

âm đạo liên kết với các cơ ở cổ tử cung

Lớp niêm mạc: trên bề mặt có nhiều tế bào thượng bì gấp nếp dọc Ngoài ra âm đạo còn là bộ phận thải thai ra bên ngoài khi sinh đẻ và

là ống thải các chất dịch từ trong tử cung.Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [4], âm đạo của lợn dài 10 - 12 cm

* Tử cung (uterus)

Tử cung có cấu tạo phù hợp với chức năng phát triển và dinh dưỡng bào thai Trứng được thụ tinh ở ống dẫn trứng rồi trở về tử cung làm tổ, ở đây hợp tử phát triển nhờ chất dinh dưỡng từ cơ thể mẹ thông qua lớp niêm mạc tử cung cung cấp Tử cung còn có nhiệm vụ đẩy thai ra ngoài trong quá trình sinh đẻ nhờ vào các lớp cơ Tử cung được cấu tạo bởi 3 lớp:

Ngoài cùng là tổ chức liên kết (Perimetrium)

Lớp cơ trơn (Myometrium): giữ vai trò quan trọng trong việc đẩy

thai ra ngoài Nó là lớp cơ trơn khỏe nhất trong cơ thể Bên trong các cơ trơn có những sợi liên kết đàn hồi và tĩnh mạch lớn Các lớp cơ đan vào nhau làm cho tử cung chắc và có tính đàn hồi cao

Lớp niêm mạc tử cung (Endometrium): màu hồng, được phủ lên

bằng những tế bào biểu mô kéo dài thành lông nhung Xen kẽ giữa các tế bào biểu mô là các tuyến tiết chất nhầy Chất nhày được gạt về cổ tử cung khi các lông rung động

Tử cung nằm trong xoang chậu, phía trên là âm đạo, phía dưới là

bàng quang Tử cung của lợn thuộc loại tử cung hai sừng (Uteus Bicorus)

Tử cung được chia làm ba phần: cổ, thân và hai sừng Sừng tử cung một đầu thông với thân tử cung một đầu thông với ống dẫn trứng Sừng tử cung

Trang 14

của lợn ngoằn ngoèo như ruột non dài 0,5 - 1 m Ở lợn thai làm tổ đều hai sừng tử cung Thân tử cung lợn ngắn, độ dài khoảng 3 - 5 cm nối giữa sừng

tử cung và cổ tử cung Niêm mạc thân và sừng tử cung là những nếp gấp nhăn nheo theo chiều dọc Cổ tử cung thông với âm đạo Cổ tử cung: là phần ngoài của tử cung, cổ tử cung của lợn dài và tròn, không gấp nếp hoa

nở mà là những cột thịt dài xen kẽ cài răng lược với nhau do đó dễ dàng cho việc thụ tinh nhân tạo đồng thời cũng dễ gây sảy thai (Đặng Quang Nam và cs, 2002 [10]) Theo Trần Tiến Dũng và cs, (2002) [4] thì cổ tử cung lợn dài 10 - 18 cm

* Ống dẫn trứng

Ống dẫn trứng (vòi fallop) nằm ở màng treo buồng trứng Khi có tinh

trùng vào đường sinh dục của gia súc cái, tế bào trứng có thể bị đứng lại ở các đoạn khác nhau của ống dẫn trứng

Ống dẫn trứng được chia thành hai đoạn:

Đoạn ống dẫn trứng phía buồng trứng: phần đầu trên thông với xoang bụng ở gần buồng trứng, được phát triển to tạo thành một cái phễu

để hứng tế bào trứng gọi là loa kèn Loa kèn có nhiều tua, nhung mao rung động để hứng tế bào trứng Quá trình thụ tinh xảy ra khi tinh trùng và tế bào trứng gặp nhau ở 1/3 phía trên ống dẫn trứng

Đoạn ống dẫn trứng phía sừng tử cung: gắn với mút sừng tử cung Đoạn này phía ngoài là lớp liên kết sợi, được kéo dài từ màng treo buồng trứng Ở giữa là hai lớp cơ, cơ vòng phía trong cơ dọc phía ngoài Trong cùng là lớp niêm mạc làm nhiệm vụ tiết niêm dịch Phía trên lớp niêm mạc có lớp nhung mao luôn rung động để đẩy tế bào trứng hay hợp tử xuống tử cung làm tổ

Cấu tạo ống dẫn trứng gồm có phễu, phần rộng và phần eo

Phễu mở ra để tiếp nhận noãn và có những sợi lông nhung để tăng diện tích tiếp xúc với buồng trứng khi xuất noãn Phễu tiếp nối với phần

Trang 15

rộng Phần rộng chiếm khoảng 1/2 chiều dài của ống dẫn trứng, đường kính tương đối lớn và mặt trong có nhiều nếp gấp với tế bào biểu mô có lông nhỏ Phần eo nối tiếp sừng tử cung, nó có thành rộng hơn phần rộng và ít nếp nhăn hơn

Vai trò cơ bản của ống dẫn trứng là vận chuyển trứng và tinh trùng đến nơi thụ tinh trong ống dẫn trứng (1/3 phía trên ống dẫn trứng), tiết các chất để nuôi dưỡng trứng, duy trì sự sống và gia tăng khả năng sống của tinh trùng, tiết các chất nuôi dưỡng phôi trong vài ngày trước khi phôi đi vào tử cung

lớp đệm (Stromaovaris) Ở vỏ có tác dụng về sinh dục vì ở đó xảy ra quá

trình trứng chín và rụng trứng Trên buồng trứng của một lợn cái 10 ngày tuổi đã có khoảng 60.000 trứng non Theo thời gian, buồng trứng này phát triển qua các giai đoạn khác nhau Tầng ngoài là những noãn bào sơ cấp phân bố tương đối đều, tầng trong là những noãn bào thứ cấp đang sinh trưởng, khi noãn bào chín sẽ nổi lên bề mặt buồng trứng

Noãn bào sơ cấp có trứng ở giữa, xung quanh là noãn bào, noãn bào lúc đầu có hình dẹt sau có hình trụ Noãn bào thứ cấp do noãn bào tăng sinh và hình thành xoang noãn bào ép trứng về một phía, khi noãn bào chín là quá trình sinh trưởng đã hình thành Noãn bào nổi lên trên bề mặt buồng trứng, đến một giai đoạn nhất định sẽ vỡ ra, tế bào trứng theo dịch noãn bào vào loa kèn rồi đi vào ống trứng, nơi noãn bào vỡ sẽ hình thành thể vàng

Trang 16

Thể vàng tiết ra progesteron, khối lượng thể vàng và hàm lượng progesteron tăng nhanh từ ngày thứ 8 và tương đối ổn định cho đến ngày thứ 15, sự thoái hóa thể vàng bắt đầu từ ngày thứ 17 - 18 và sẽ chuyển thành thể bạch nếu trứng không được thụ tinh

2.1.2 Đặc điểm sinh lý, sinh dục của lợn nái

2.1.2.1 Sự thành thục về tính

Thành thục về tính là tuổi con vật có phản xạ sinh dục và có khả năng sinh sản So với thành thục thể vóc, sự hình thành về tính ở gia súc nói chung và lợn nói riêng thường sớm hơn, nên người ta thường bỏ qua chu kỳ động dục đầu tiên, mà phối cho lợn ở chu kỳ sau, khi đó lợn đã phát triển toàn diện về thể vóc và sẵn sàng đảm nhiệm vai trò làm mẹ

Sự thành thục về tính được nhận biết bằng sự biến đổi bộ phận bên ngoài của cơ quan sinh dục và sự biến đổi của thần kinh Đầu tiên hai mép

âm môn sưng đỏ và có dịch chảy ra, sau chuyển sang đỏ thẫm và dịch keo dính Tương ứng là sự biến đổi về thần kinh lúc đầu hưng phấn sau chuyển sang giai đoạn mê ì Cùng với sự biểu hiện sinh dục bên ngoài, ở bên trong buồng trứng cũng có sự biến đổi, các noãn bào nổi trên bề mặt buồng trứng

và chín, niêm mạc tử cung tăng sinh, cổ tử cung mở dần kèm theo tiết dịch

Trang 17

gọi là động dục Do trứng rụng có tính chu kỳ nên động dục cũng mang tính chu kỳ

Sở dĩ trứng rụng có tính chu kỳ: dưới sự điều khiển của thần kinh trung ương, tuyến yên tiết ra FSH tác động lên buồng trứng làm các noãn bao phát triển, trong khi đó LH làm trứng chín, khi đạt đến tỷ lệ LH/FSH là 3:1 thì khi đó rụng trứng, hình thành thể vàng Thể vàng tồn tại cho đến khi gần đẻ nếu gia súc được thụ thai, nhưng nó chỉ tồn tại từ 3 - 15 ngày nếu trứng không được thụ tinh, sau đó nó teo đi dưới tác dụng của PGF2α làm

co mạch máu ngoại vi nuôi thể vàng, lúc này thể vàng rơi vào tình trạng không được cung cấp chất dinh dưỡng và bị tiêu hủy trong vòng 24h giờ, kết quả làm hàm lượng progesteron giảm, lúc này FSH và LH được giải phóng làm trứng phát triển và chín, xuất hiện chu kỳ động dục tiếp theo

Một chu kỳ động dục được tính từ lần thải trứng trước đến lần thải trứng sau Các loài gia súc khác nhau thì thời gian hình thành chu kỳ là khác nhau Ở lợn thời gian hình thành một chu kỳ trung bình là 21 ngày biến động trong phạm vi từ 18 - 25 ngày Khi tiến hành phối giống nếu có thai thì lợn không động dục lại Thời gian mang thai của lợn là 114 ngày, thời gian động dục trở lại là 7 ngày sau cai sữa, dao động từ 5 - 12 ngày

2.1.2.3 Khoảng cách giữa các lứa đẻ

Khoảng cách giữa các lứa đẻ là chỉ tiêu quan trọng đánh giá khả năng sinh sản của gia súc cái Đây là tính trạng bao gồm nhiều tính trạng tạo nên bao gồm thời gian có chửa, thời gian nuôi con, thời gian cai sữa đến thụ thai lứa sau, do vậy khoảng cách lứa đẻ ảnh hưởng đến số con cai sữa/nái/năm Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy thời gian mang thai của lợn nái dao động không đáng kể, từ 113 - 115 ngày, đây là yếu

tố ít biến đổi

Để rút ngắn khoảng cách các lứa đẻ ta chỉ có thể tác động rút ngắn thời gian bú sữa của lợn con bằng cách cai sữa sớm ở lợn con Nhiều công

Trang 18

trình nghiên cứu cho thấy rằng: để rút ngắn thời gian sau đẻ đến phối giống lại có kết quả cao thì phải chăm sóc nuôi dưỡng tốt và đặc biệt phải cai sữa sớm cho lợn con, điều đó tăng số con cai sữa/nái/năm Để rút ngắn thời gian cai sữa, phải tập cho lợn con ăn sớm từ 7 ngày tuổi đến khi lợn con có thể sống bằng thức ăn được cung cấp, không cần sữa mẹ

Hiện nay các cơ sở chăn nuôi tập trung, thời gian cai sữa ở lợn con

là 21 ngày, sau cai sữa 5 - 6 ngày nái mẹ được phối giống lại Như vậy khoảng cách các lứa đẻ trung bình là 140 ngày, một năm nái có thể sản xuất được 2,3 lứa

tố như adrenalin, parathyoroxyn, nước muối, glucoza ưu chương đều có thể gây sốt

Trang 19

+ Tần số hô hấp

Tần số hô hấp là số lần thở trên phút, nó phụ thuộc vào cường độ trao đổi chất, tuổi, tầm vóc Gia súc non có cường độ trao đổi chất mạnh nên tần số hô hấp tăng hơn Động vật nhỏ cũng có tần số hô hấp cao hơn so với động vật có thể vóc lớn Ngoài ra trạng thái sinh lý, vận động, nhiệt độ môi trường cũng ảnh hưởng đến nhịp thở Tần số hô hấp bình thường dao động trong khoảng 8 - 18 lần/phút

2.1.4 Quá trình viêm tử cung

Viêm là phản ứng toàn thân chống lại các tác nhân gây bệnh, thường

biểu hiện ở cục bộ, quá trình viêm xảy ra nhiều giai đoạn khác nhau, mỗi giai đoạn có những biểu hiện khác nhau Tại ổ viêm thường xảy ra các biểu hiện sưng, nóng, đỏ, đau Xét trên mặt tích cực, viêm là phản ứng nhằm ổn định các hằng số nội môi trong cơ thể, giúp cơ thể chống lại các tác nhân

gây bệnh

Theo Hồ Văn Nam và cs, (1997) [11], sau khi quan sát hiện tượng di động và nuốt các dị vật của bạch cầu đa nhân trung tính cho rằng, trung tâm của phản ứng viêm là sự hoạt động của những tế bào thoát mạch và chống lại các vật kích thích viêm gọi là hiện tượng thực bào

(phagocytosis)

Theo Vũ Triệu An và cs, (1990) [1] thì viêm là một phản ứng của cơ thể mà nền tảng của nó là phản ứng của tế bào Phản ứng này hình thành và phát triển trong quá trình tiến hóa của sinh vật

Ngày nay người ta cho rằng viêm là phản ứng toàn thân chống lại mọi kích thích có hại cho cơ thể, thể hiện ở cục bộ mô bào (Nguyễn Hữu Phước, 1982 [13])

Trang 20

* Hậu quả của phản ứng tuần hoàn và tế bào trong viêm

Phản ứng tuần hoàn và phản ứng tế bào trong viêm đã gây ra các rối loạn chủ yếu sau:

+ Rối loạn chuyển hóa

Tại ổ viêm quá trình ôxy hóa tăng mạnh, nhu cầu ôxy tăng nhưng vì

có rối loạn tuần hoàn nên khả năng cung cấp ôxy không đủ, gây rối loạn chuyển hóa gluxit, lipit và protein làm thay đổi pH, gây tăng độ axit, xeton, lipit, polypeptit, và các axit amin tại ổ viêm

+ Tổn thương ở mô bào

Các tế bào bị thương tại ổ viêm giải phóng các enzym càng làm trầm trọng thêm quá trình hủy hoại mô bào và phân hủy các chất tại ổ viêm, chúng tạo ra các chất trung gian có hoạt tính sinh học cao và hạ thấp pH tại

ổ viêm

+ Dịch rỉ viêm

Dịch rỉ viêm được hình thành do tăng áp lực thủy tĩnh trong các mạch quản tại ổ viêm, tăng áp lực thẩm thấu, tăng tính thấm thành mạch là các yếu tố quan trọng nhất và các protein bị thoát ra ngoài làm tăng lượng nước ngoại vi gây phù thũng

+ Tăng sinh ở mô bào

Là hiện tượng tăng lên về số lượng, các tế bào này có thể từ máu tới hoặc các tế bào tại chỗ sinh sản và phát triển ra Trong quá trình viêm giai đoạn đầu chủ yếu tăng sinh bạch cầu đa nhân trung tính Sự tăng sinh và phát triển của các loại tế bào phụ thuộc vào mức độ tổn thương của ổ viêm cũng như tình trạng phản ứng của cơ thể (Phạm Khắc Hiếu và cs, 1997 [7])

+ Các tế bào viêm

Các tế bào tăng sinh trong ổ viêm được gọi chung là các tế bào viêm, bao gồm bạch cầu đa nhân trung tính, bạch cầu ái toan, bạch cầu ái kiềm, bạch cầu đơn nhân lớn

Trang 21

2.1.5 Các thể viêm tử cung

Theo Đặng Đình Tín (1986) [16], bệnh viêm tử cung được chia làm

3 thể: viêm nội mạc tử cung, viêm cơ tử cung, viêm tương mạc tử cung

2.1.5.1 Viêm nội mạc tử cung (Endometritis)

Theo NguyễnVăn Thanh (2003) [15], viêm nội mạc tử cung là viêm lớp niêm mạc của tử cung, đây là một trong các nguyên nhân làm giảm khả năng sinh sản của gia súc cái, nó cũng là thể bệnh phổ biến và chiếm tỷ lệ cao trong các bệnh của viêm tử cung Viêm nội mạc tử cung thường xảy ra sau khi gia súc sinh đẻ nhất là trong trường hợp đẻ khó phải can thiệp làm

niêm mạc tử cung bị tổn thương, tiếp đó là các vi khuẩn Streptococcus,

Staphylococcus, E.Coli, Salmonella, C.Pyogenes, Bruccella, roi trùng Trichomonas Foetus… xâm nhập và tác động lên lớp niêm mạc gây viêm

Theo Nguyễn Hữu Ninh và cs, (1994)[12], bệnh viêm nội mạc tử cung có thể chia 2 loại:

- Viêm nội mạc tử cung thể cata cấp tính có mủ, chỉ gây tổn thương

ở niêm mạc tử cung

- Viêm nội mạc tử cung thể màng giả, tổ chức niêm mạc đã bị hoại

tử, tổn thương lan sâu xuống dưới tầng của cơ tử cung và chuyển thành viêm hoại tử

Puerperalis)

Lợn bị bệnh này thân nhiệt hơi cao, ăn kém, lượng sữa giảm Con vật

có trạng thái đau đớn nhẹ, có khi con vật cong lưng rặn, tỏ vẻ không yên tĩnh Từ âm hộ chảy ra hỗn dịch, niêm dịch lẫn với dịch viêm, mủ, lợn cợn những mảnh tổ chức chết,… khi con vật nằm xuống dịch viêm thải ra ngày càng nhiều hơn Xung quanh âm môn, gốc đuôi, hai bên mông dính nhiều dịch viêm, có khi nó khô lại thành từng đám vẩy màu trắng xám Kiểm tra

Trang 22

qua âm đạo, niêm dịch và dịch rỉ viêm thải ra nhiều Cổ tử cung hơi mở và

có mủ chảy qua cổ tử cung Niêm mạc âm đạo bình thường

Ở thể viêm này, niêm mạc tử cung thường bị hoại tử Những vết thương đã ăn sâu và tầng cơ của tử cung và chuyển thành hoại tử Lợn nái mắc bệnh này thường xuất hiện triệu chứng toàn thân rõ : thân nhiệt tăng cao, lượng sữa giảm có khi hoàn toàn mất sữa, kế phát viêm vú, ăn uống giảm xuống Con vật đau đớn, luôn rặn, lưng và đuôi cong lên Từ cơ quan sinh dục luôn thải ra ngoài hỗn dịch: dịch viêm, máu, mủ, lợn cợn những mảnh tổ chức hoại tử, niêm dịch…

2.1.5.2 Viêm cơ tử cung (Myometritis Puerperalis)

Theo Nguyễn Hữu Ninh và cs, (1994) [12],viêm cơ tử cung thường

kế phát từ viêm nội mạc tử cung thể màng giả Niêm mạc tử cung bị thấm dịch thẩm xuất, vi khuẩn xâm nhập và phát triển sâu vào tổ chức làm niêm mạc bị phân giải, thối rữa gây tổn thương cho mạch quản và lâm ba quản,

từ đó làm lớp cơ và một ít lớp tương mạc của tử cung bị hoại tử Nếu bệnh nặng, can thiệp chậm có thể dẫn tới nhiễm trùng toàn thân, huyết nhiễm trùng hoặc huyết nhiễm mủ Có khi do lớp cơ và lớp tương mạc của tử cung bị phân giải mà tử cung bị thủng hoặc tử cung bị hoại tử từng đám to Lợn nái bị bệnh này thường biểu hiện triệu chứng toàn thân rõ : thân nhiệt tăng cao, mệt mỏi, ủ rũ, ăn uống giảm, lượng sữa giảm hoặc mất hẳn Mép âm đạo tím thẫm, niêm mạc âm đạo khô, nóng màu đỏ thẫm Gia súc biểu hiện trạng thái đau đớn, rặn liên tục Từ cơ quan sinh dục luôn thải ra ngoài hỗn dịch màu đỏ nâu, lợn cợn mủ và những mảnh tổ chức thối rữa nên có mùi tanh, thối Con vật thường kế phát viêm vú, có khi viêm phúc mạc

Thể viêm này thường ảnh hưởng đến quá trình thụ thai và sinh đẻ lần sau Có trường hợp điều trị khỏi nhưng gia súc vô sinh

Trang 23

2.1.5.3 Viêm tương mạc tử cung (Perimetritis Puerperali)

Theo Đặng Đình Tín (1986) [16] thì viêm tương mạc tử cung thường

kế phát từ viêm cơ tử cung Quá trình viêm này thường ở thể cấp tính, con vật biểu hiện triệu chứng toàn thân Lúc đầu lớp tương mạc tử cung có màu hồng, sau chuyển sang đỏ sẫm, sần sùi mất tính trơn bóng Sau đó các tế bào bị hoại tử và bong ra, dịch thẩm xuất tăng tiết Nếu bị viêm nặng, nhất

là viêm có mủ, lớp tương mạc có thể dính với các tổ chức xung quanh gây

nên tình trạng viêm mô tử cung (thể Perimetritis), thành tử cung dầy lên, có

thể kế phát viêm phúc mạc Lợn nái biểu hiện triệu chứng toàn thân: thân nhiệt tăng cao, mạch nhanh, con vật ủ rũ, mệt mỏi, uể oải, đại tiện khó khăn, ăn uống kém hoặc bỏ ăn Lượng sữa rất ít hoặc mất hẳn, thường kế phát viêm vú Con vật luôn biểu hiện trạng thái đau đớn, khó chịu, lưng và đuôi cong lên, rặn liên tục Từ âm hộ thải ra ngoài hỗn dịch gồm: mủ, các

tổ chức hoại tử có mầu nâu và mùi thối khó chịu Khi kích thích vào tử cung thấy con vật có phản xạ đau đớn, rặn mạnh hơn, từ âm hộ dịch chảy ra nhiều hơn Trường hợp một số vùng của tương mạc đã dính với các bộ phận xung quanh thì có thể phát hiện được trạng thái thay đổi vị trí và hình dáng của tử cung, có khi không tìm thấy một hoặc cả hai buồng trứng Nếu điều trị không kịp thời sẽ chuyển thành viêm mãn tính, tương mạc đã dính với các bộ phận xung quanh thì quá trình thụ tinh và sinh đẻ lần sau sẽ gặp nhiều khó khăn, có thể dẫn tới vô sinh Thể viêm này thường kế phát bệnh viêm phúc mạc, bại huyết, huyết nhiễm mủ

2.1.6 Một số nguyên nhân gây viêm tử cung

Theo Nguyễn Hữu Phước (1982) [13] thì lợn nái sinh sản đều mang khuẩn trong âm đạo nhưng không gây bệnh, chỉ khi cổ tử cung mở, chất tiết dịch tụ lại tạo điều kiện cho vi khuẩn phát triển

Theo Nguyễn Đức Lưu và cs, (2004) [8] trong quá trình có thai, lợn nái ăn uống nhiều chất dinh dưỡng, ít vận động hoặc bị nhiễm một số bệnh

Trang 24

truyền nhiễm như: bệnh xoắn khuẩn, sảy thai truyền nhiễm và một số bệnh nhiễm khuẩn khác làm cho cơ thể lợn nái yếu dẫn đến sảy thai, thai chết lưu và viêm tử cung

Ngoài ra còn một số nguyên nhân sau:

* Thiếu dinh dưỡng

Khẩu phần ăn thừa hay hiếu protein trước, trong thời kỳ mang thai

có ảnh hưởng đến viêm tử cung

Nái mẹ sử dụng quá nhiều tinh bột, gây khó đẻ, gây viêm tử cung do xây sát

Ngược lại thiếu chất dinh dưỡng nái mẹ sẽ bị ốm yếu, sức đề kháng giảm không chống lại mầm bệnh xâm nhập gây viêm tử cung

Khoáng chất, vitamin ảnh hưởng đến viêm tử cung Thiếu vitamin A gây sưng niêm mạc, sót nhau

* Chăm sóc quản lý

Vệ sinh chuồng trại kém, vệ sinh bộ phận sinh dục lợn nái trước khi

đẻ không tốt, khu vực chuồng trại có mầm bệnh Do quá trình can thiệp khi lợn đẻ, thủ thuật đỡ đẻ, thao tác và dụng cụ không đúng kỹ thuật làm tổn thương niêm mạc Do tinh dịch bị nhiễm khuẩn và dụng cụ thụ tinh không

vô trùng đã đưa vi khuẩn gây viêm nhiễm vào bộ phận sinh dục của lợn cái

Do lợn đực bị viêm niệu quản và dương vật khi nhảy trực tiếp sẽ truyền sang lợn cái

Chăm sóc, quản lý, vệ sinh là khâu rất quan trọng Vệ sinh trang trại, cơ sở chăn nuôi, vệ sinh cơ thể lợn nái đồng thời quản lý tốt,… sẽ làm giảm tỷ lệ viêm

* Tiểu khí hậu chuồng nuôi

Thời tiết khí hậu quá nóng hoặc quá lạnh trong thời gian đẻ dễ làm cho lợn nái bị viêm tử cung Vì vậy chúng ta phải tạo tiểu khí hậu phù hợp đối với lợn nái khi sinh để làm hạn chế viêm tử cung

* Tuổi, lứa đẻ, tình trạng sức khỏe

Trang 25

Nái đẻ những lứa đầu và nái đẻ nhiều lứa thường hay ít bị viêm tử cung hơn Nái già do sức khỏe kém, hay kế phát một số bệnh, sức rặn đẻ yếu, thời gian đẻ kéo dài, đẻ khó dễ dẫn đến viêm tử cung

* Đường xâm nhiễm của mầm bệnh

Mầm bệnh có mặt trong ruột, truyền qua niêm mạc đi vào máu, xâm nhập vào tử cung, nguyên nhân chính của sự xâm nhập này là do nhu động của ruột kém

Xâm nhập có thể từ ngoài vào do vi khuẩn hiện diện trong phân, nước tiểu Bệnh nhiễm trùng mãn tính của thận, bàng quang và dường niệu đạo cũng là nguyên nhân gây bệnh

Hầu hết các trường hợp viêm tử cung đều có sự hiện diện của vi sinh vật thường xuyên có mặt trong chuồng lợn Lợi dụng lúc sinh sản, tử cung, âm đạo tổn thương chứa nhiều sản dịch, vi trùng xâm nhập gây viêm tử cung

2.1.7 Chẩn đoán viêm tử cung

Để chẩn đoán người ta dựa vào những triệu chứng điển hình ở cục bộ

cơ quan sinh dục và triệu chứng toàn thân, có thể dựa vào các chỉ tiêu ở bảng 2.1

Bảng 2.1: Các tiêu chí chẩn đoán viêm tử cung

viêm

Màu Trắng xám,

trắng sữa Hồng, nâu đỏ Nâu rỉ sắt

4 Phản ứng co của

cơ tử cung

Phản ứng co giảm

Phản ứng co rất yếu

Phản ứng co mất hẳn

Bỏ ăn một phần hoặc hoàn toàn

Bỏ ăn hoàn toàn

Bỏ ăn hoàn toàn

Trang 26

Như vậy, chẩn đoán viêm tử cung cần rất cẩn thận, phải theo dõi thường xuyên vì mủ chảy ra ở âm hộ chỉ mang tính chất thời điểm và có khi bị viêm tử cung nhưng không sinh mủ

Bảng 2.2: Ý nghĩa của dịch chảy ra từ âm đạo qua thời gian xuất hiện

Thời gian xuất hiện dịch Ý nghĩa

1 – 4 ngày sau khi đẻ Bình thường

>5 ngày sau khi phối Bình thường

14 – 21 ngày sau khi phối

Qua bảng 2.2, ta thấy có thể phát hiện được nái mắc bệnh qua việc quan sát dịch từ âm đạo chảy ra qua các ngày, từ đó có các biện pháp can thiệp kịp thời Ngoài ra, chúng ta còn cần phải chú ý đến dịch chảy ra trong các ngày mà dịch chảy ra chúng ta cho là bình thường vì nếu kéo dài và nặng dần lên cũng có khả năng bị viêm tử cung

2.1.8 Biện pháp phòng và trị bệnh viêm tử cung

* Phòng bệnh: vệ sinh chuồng nái đẻ sạch sẽ một tuần trước đẻ, rắc vôi bột hoặc nước vôi 20 % sau đó rửa sạch bằng nước thường hoặc dùng dung dịch Biocid - 30 pha với tỷ lệ 1/1000

Khi đẻ, vệ sinh sạch sẽ bộ phận sinh dục và bầu vú, phun sát trùng bằng dung dịch Biocid - 30 pha với tỷ lệ 1/1000 lên mình gia súc

Khi đỡ đẻ bằng tay cần có găng tay,găng tay phải đảm bảo vô trùng và được bôi trơn bằng vaseline hoặc dầu thực vật Sau khi lợn đẻ xong phải thụt rửa âm môn, âm vật và âm đạo bằng dung dịch Han Iodine 10% Sau đó tiêm kháng sinh Vetrimoxin để chống viêm Trước khi cho lợn giao phối cần

Trang 27

kiểm tra lợn đực xem có mắc bệnh không, vệ sinh sạch sẽ bộ phận sinh dục của lợn đực lẫn lợn nái Nếu thụ tinh nhân tạo cần kiểm tra dụng cụ, vệ sinh sát trùng dụng cụ, kiểm tra phẩm chất tinh dịch,

* Biện pháp điều trị

Để điều trị tốt bệnh viêm tử cung cần phải theo dõi, phát hiện bệnh kịp thời và chẩn đoán đúng bệnh Phát hiện điều trị bệnh sớm sẽ rút ngắn được thời gian điều trị, giảm chi phí thuốc thú y mà bệnh chóng khỏi, con vật chóng hồi phục

+ Tiêm thuốc tạo sữa: thyroxin ngày 1 - 2 ống, liên tiếp 2 - 3 ngày, chỉ dùng khi nhiệt độ cơ thể hạ xuống bình thường

* Phương pháp điều trị bệnh tại trại lợn của công ty TNHH Trường Thịnh

Trang 28

Liệu trình ngày 1 lần

Điều trị cục bộ

Thụt rửa tử cung bằng dung dịch thuốc sát trùng Biocid - 30 (pha 1

ml Biocid - 30 với 2000 ml nước sạch) mỗi lần dùng cho 1 con từ 500 ml đến 800 ml dung dịch đã pha Bơm dung dịch đã pha vào tử cung của lợn

và chờ khoảng 30 phút cho dung dịch và dịch viêm ra hết

Điều trị toàn thân

Tiêm kháng sinh: Vetrimoxin dùng tiêm bắp thịt, tiêm 1ml/10 - 15kg TT/ngày

Tiêm thuốc trợ sức: vitamin B1, B12, C

Cùng với việc điều trị, con vật được chăm sóc, nuôi dưỡng vệ sinh tốt

2.1.9 Thành phần hóa học và cơ chế tác dụng của thuốc sử dụng trong đề tài

Dung dịch thụt rửa: Biocid - 30

+ Thành phần: trong 100 ml Biocid có chứa 3 % I-ốt

+ Công dụng: dùng thụt rửa tử cung, chất lượng thuốc ổn định, có tác dụng diệt khuẩn nhanh, kéo dài, an toàn cho gia súc khi sử dụng, diệt vi khuẩn, virus, các dạng nha bào của vi sinh vật, nấm

Biocid liều lượng sử dụng thụt rửa tử cung là 1/2000 còn có tác dụng sát trùng chuồng trại, dụng cụ chăn nuôi Dùng thuốc pha với tỷ lệ 1/500 để phun rửa Pha tỷ lệ 1/1000 phun sát trùng lên mình gia súc trong chuồng nuôi, pha tỷ lệ 1/2000 sát trùng nước uống gia súc

Lưu ý: khi sử dụng Biocid thụt rửa pha tỷ lệ 1/2000 không được pha quá liều dẫn đến se, cháy niêm mạc tử cung làm cho khó giao phối lần sau

Kháng sinh:

Trên thị trường hiện nay có rất nhiều loại thuốc kháng sinh, áp dụng khoa học kỹ thuật mà cho ra nhiều kháng sinh tổng hợp điều trị bệnh đạt hiệu quả rất cao

Trang 29

- Pen - Step: kháng sinh bột pha tiêm

+ Thành phần:

Penicillin G Potassium: 500000 UI

Steptomycin (dạng sulphat) : 1 gam

+ Công dụng: đặc trị các bệnh do vi khuẩn Gram(+), Gram(-) gây

bệnh trên đường hô hấp, tiêu hóa, niệu dục; ỉa chảy, tụ huyết trùng, thương hàn, phó thương hàn ở gia súc, gia cầm

khuẩn đường ruột như E.coli Penicilin chủ yếu dùng tiêm bắp, tiêm tĩnh

mạch bởi nó thải trừ rất nhanh và ít gây tác dụng phụ, gần đây người ta đã điều chế ra loại penicilin tổng hợp, loại này có thể dùng cho đường tiêu hóa rất tốt

Khi dùng penicilin tiêm cần phải thử phản ứng vì nó hay xảy ra phản ứng thuốc Khi xảy ra phản ứng cần có thuốc chống phản ứng histamin tiêm kịp thời

Penicilin có tác dụng chủ yếu với các bệnh

Nhiệt thán trâu bò - dùng liều cao - tiêm nhiều ngày

Actiromy cosis ở bò

Trang 30

Bệnh đóng dấu lợn

Bệnh viêm vú truyền nhiễm

Nhiễm trùng khi đẻ, viêm tử cung, sót nhau, và nhiều bệnh khác

- Streptomycine

Nó gồm 3 phần chính: stcotobiosamin, streptoz, streptidin Trong đó Streptidin quyết định tính kháng khuẩn của streptomycin Nó là một vòng benzen đã mất đi các nối kép của vòng Trong đó có 4 nhóm OH và 2 nhóm guanidin Streptomycin bột màu trắng hoặc hơi hồng nhẹ, tính kiềm, tan nhiều trong nước, không tan trong ete và cồn, bột khô để trong lọ kín có thể

để được lâu, dung dịch vô trùng để nơi mát có thể được vài tuần, phạm vi tác dụng tốt nhất ở pH = 7,8 - 9 Streptomycin được sử dụng trong lâm sàng rộng rãi trên thị trường thuốc thường được đóng 1g/1 lọ là 1 triệu UI Thuốc chủ yếu tác dụng với vi khuẩn gram âm, tác dụng trên cầu khuẩn gram dương kháng penicilin

* Thuốc thường được sử dụng trong các bệnh

Điều trị bệnh tụ huyết trùng ở gia súc, gia cầm

Viêm âm đạo tử cung trâu bò, kết hợp với penicilin

Viêm vú do staphylococcus

Trộn vào môi trường pha chế tinh dịch

Điều trị viêm ruột ỉa chảy của bê nghé, lợn con

Actinomycosis: phải điều trị lâu kết hợp với các thuốc khác

Leptospirosis: dùng phối hợp với penicilin

Viêm dạ dày, viêm ruột của mèo

Trang 31

Nếu có uống qua đường tiêu hóa thì streptomycin được hấp thụ rất ít chừng 5 - 10 % Đại bộ phận được thải qua phân do đó nó có tác dụng chống vi trùng ở đường ruột chủ yếu dùng streptomycin để tiêm bắp, dưới da và thụt rửa

2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước

2.2.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước

Chăn nuôi lợn là một nghề chiếm tỷ lệ khá cao trong ngành chăn nuôi ở nhiều nước trên thế giới Để khai thác hiệu quả hơn giá trị dinh dưỡng và sinh khối của loài, các nước phát triển trên thế giới không ngừng đầu tư cải tạo đàn giống lợn và áp dụng khoa học kỹ thuật nhằm nâng cao khả năng sinh sản của chúng Trong lĩnh vực thú y đặc biệt quan tâm đến các vấn đề về bệnh sinh sản

Theo Xobko và cs (1987) [18], nguyên nhân của bệnh viêm tử cung

là do tử cung bị tổn thương, sát nhau Bệnh phát triển do chế độ chăm sóc nuôi dưỡng không tốt, không đủ chất dinh dưỡng, đưa vào đường sinh dục những chất kích thích đẻ khác nhau, chúng phá hủy hoặc làm kết tủa các chất nhầy ở bộ máy sinh dục Tác giả cũng đưa ra phương pháp chẩn đoán

và biện pháp điều trị

Theo Vtrekaxova A.V (1985) [17] thì các nguyên nhân gây đẻ ít con trong một lứa đẻ hoặc vô sinh của lợn nái là do các bệnh ở cơ quan sinh dục chiếm từ 5 - 15 %

Trong chăn nuôi lợn sinh sản thậm chí cả nuôi lợn thịt, năng suất chăn nuôi phụ thuộc phần lớn vào khả năng sinh sản, trong đó hai yếu tố chính là số con trên một lứa đẻ và số lứa đẻ của một nái trên một năm Do vậy ưu tiên hàng đầu trong chăn nuôi lợn sinh sản là tăng số lợn con sơ sinh trên lứa, tỷ lệ nuôi sống đến lúc sau cai sữa là cao và đồng thời giảm chí phí trong sản xuất chăn nuôi Để đáp ứng mục tiêu trên, đòi hỏi cơ quan sinh sản của lợn nái phải làm việc với cường độ cao Như vậy, cơ quan sinh

Trang 32

sản của lợn nái đóng vai trò hết sức quan trọng, nó quyết định đến năng suất chăn nuôi Những bất thường của cơ quan sinh sản, nhất là viêm tử cung sẽ làm năng suất chăn nuôi lợn nái bị ảnh hưởng (Madec F, 1995 [9])

Winson khi mổ khám những lợn vô sinh đã xác định trong cơ quan sinh sản 52,5 %, lợn nái đẻ lứa đầu 32,1 %, lợn nái cơ bản có những biến đổi bệnh lý: viêm nội mạc tử cung có mủ,

Theo Madec F (1995) [9], viêm tử cung thường bắt đầu bằng sốt vài giờ khi đẻ, chảy dịch viêm vài giờ sau khi đẻ, chảy mủ vài hôm sau và thường kéo dài 48 đến 72 giờ

Madec F (1995) [9] cho biết, qua kiểm tra bệnh tích vi thể của lợn ở xứ Brơ-ta-nhơ miền Tây Bắc nước Pháp cho thấy có 26 % số lợn nái sinh sản bị bệnh viêm tử cung Ngoài ra có 2 % số lợn nái thể hiện bệnh tích thoái hóa

mô nội mạc tử cung với đặc điểm là thành tử cung có cấu tạo sợi fibrine

Cũng theo Madec F (1995) [9] thì tỷ lệ bệnh tích đường tiết niệu đường sinh dục ở đàn nái loại thải tăng theo số lứa đẻ

Madec khi tiến hành nghiên cứu bệnh lý sinh đẻ vào năm 1991 trên đàn lợn xứ Brơ- ta nhơ (Pháp) cho thấy 15 % số lợn nái bị viêm tử cung

2.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước

Ở Việt Nam một số nhà khoa học thú y đã có những nghiên cứu tổng kết về bệnh viêm tử cung Nhưng những tư liệu nghiên cứu về bệnh viêm

tử cung ở lợn nái cũng còn rất ít

Hồ Văn Nam và cs (1997) [11], bệnh viêm tử cung ở đại gia súc nói chung là một quá trình bệnh lý phức tạp được thể hiện dưới nhiều thể khác nhau Đây là một trong những nguyên nhân chính dẫn tới hiện tượng rối loạn sinh sản, ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng sinh sản của gia súc cái sinh sản

Ngày đăng: 29/01/2016, 14:05

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Các tiêu chí chẩn đoán viêm tử cung - Theo dõi tình hình mắc bệnh viêm tử cung ở đàn lợn nái tại trại lợn của công ty TNHH một thành viên sản xuất kinh doanh thương mại Trường Thịnh và thử nghiệm một số phác đồ điều trị bệnh
Bảng 2.1 Các tiêu chí chẩn đoán viêm tử cung (Trang 25)
Bảng 2.2: Ý nghĩa của dịch chảy ra từ âm đạo qua thời gian xuất hiện - Theo dõi tình hình mắc bệnh viêm tử cung ở đàn lợn nái tại trại lợn của công ty TNHH một thành viên sản xuất kinh doanh thương mại Trường Thịnh và thử nghiệm một số phác đồ điều trị bệnh
Bảng 2.2 Ý nghĩa của dịch chảy ra từ âm đạo qua thời gian xuất hiện (Trang 26)
Sơ đồ 3.1: Bố trí thí nghiệm - Theo dõi tình hình mắc bệnh viêm tử cung ở đàn lợn nái tại trại lợn của công ty TNHH một thành viên sản xuất kinh doanh thương mại Trường Thịnh và thử nghiệm một số phác đồ điều trị bệnh
Sơ đồ 3.1 Bố trí thí nghiệm (Trang 38)
Bảng 4.1: Lịch tiêm phòng bệnh cho lợn của trại - Theo dõi tình hình mắc bệnh viêm tử cung ở đàn lợn nái tại trại lợn của công ty TNHH một thành viên sản xuất kinh doanh thương mại Trường Thịnh và thử nghiệm một số phác đồ điều trị bệnh
Bảng 4.1 Lịch tiêm phòng bệnh cho lợn của trại (Trang 44)
Bảng 4.2: Kết quả công tác phục vụ sản xuất - Theo dõi tình hình mắc bệnh viêm tử cung ở đàn lợn nái tại trại lợn của công ty TNHH một thành viên sản xuất kinh doanh thương mại Trường Thịnh và thử nghiệm một số phác đồ điều trị bệnh
Bảng 4.2 Kết quả công tác phục vụ sản xuất (Trang 49)
Bảng 4.5: Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung theo lứa đẻ - Theo dõi tình hình mắc bệnh viêm tử cung ở đàn lợn nái tại trại lợn của công ty TNHH một thành viên sản xuất kinh doanh thương mại Trường Thịnh và thử nghiệm một số phác đồ điều trị bệnh
Bảng 4.5 Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung theo lứa đẻ (Trang 52)
Bảng 4.6: Tỷ lệ mắc  bệnh viêm tử cung theo dãy chuồng - Theo dõi tình hình mắc bệnh viêm tử cung ở đàn lợn nái tại trại lợn của công ty TNHH một thành viên sản xuất kinh doanh thương mại Trường Thịnh và thử nghiệm một số phác đồ điều trị bệnh
Bảng 4.6 Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung theo dãy chuồng (Trang 53)
Bảng 4.7: Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung ở điều kiện thời tiết khác nhau - Theo dõi tình hình mắc bệnh viêm tử cung ở đàn lợn nái tại trại lợn của công ty TNHH một thành viên sản xuất kinh doanh thương mại Trường Thịnh và thử nghiệm một số phác đồ điều trị bệnh
Bảng 4.7 Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung ở điều kiện thời tiết khác nhau (Trang 54)
4.2.2.2. Sơ đồ hạch toán thuốc thú y điều trị bệnh viêm tử cung - Theo dõi tình hình mắc bệnh viêm tử cung ở đàn lợn nái tại trại lợn của công ty TNHH một thành viên sản xuất kinh doanh thương mại Trường Thịnh và thử nghiệm một số phác đồ điều trị bệnh
4.2.2.2. Sơ đồ hạch toán thuốc thú y điều trị bệnh viêm tử cung (Trang 56)
Bảng 4.10: Một số chỉ tiêu sinh lý sinh sản của lợn nái sau điều trị - Theo dõi tình hình mắc bệnh viêm tử cung ở đàn lợn nái tại trại lợn của công ty TNHH một thành viên sản xuất kinh doanh thương mại Trường Thịnh và thử nghiệm một số phác đồ điều trị bệnh
Bảng 4.10 Một số chỉ tiêu sinh lý sinh sản của lợn nái sau điều trị (Trang 57)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm