1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Những điều chỉnh của hệ thống ngân hàng các nước asean nhằm gia nhập cộng đồng kinh tế asean 2015

34 313 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 34
Dung lượng 732 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đối với lĩnh vực dịch vụ tài chính, các quốc gia thành viên đã camkết tự do hóa mạnh mẽ, xóa bỏ các hạn chế trong các ngành ngân hàng, bảo hiểm vàcác thị trường vốn vào năm 2015.. Những

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

-** -NHỮNG ĐIỀU CHỈNH CỦA HỆ THỐNG NGÂN HÀNG

CÁC NƯỚC ASEAN NHẰM GIA NHẬP

CỘNG ĐỒNG KINH TẾ ASEAN 2015

Lớp : Nhóm 1 - TCNH3 - QH 2014 E GVHD : TS Trần Thị Vân Anh

Hà Nội, năm 2015

Trang 2

Danh sách các thành viên nhóm 1

2 Lương Minh Loan 14057708 0983.527.504

3 Nguyễn Thị Lan Hương 14057696 0945.666.006

Trang 3

NHỮNG ĐIỀU CHỈNH CỦA HỆ THỐNG NGÂN HÀNG

CÁC NƯỚC ASEAN NHẰM GIA NHẬP CỘNG ĐỒNG KINH TẾ ASEAN 2015

2015 Khi ý tưởng thành lập Cộng đồng Kinh tế ASEAN được thông qua, tất cả cácquốc gia thành viên ASEAN đã rất tích cực chuẩn bị để AEC 2015 trở thành hiệnthực Bài viết phân tích, đánh giá động thái của 9/10 quốc gia thành viên ASEANtrong lĩnh vực ngân hàng nói riêng đối với quá trình hội nhập AEC

I Quá trình hình thành và phát triển của tổ chức ASEAN

ASEAN - Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á - được thành lập ngày08/08/1967 tại Bangkok, Thái Lan trên cơ sở Tuyên bố ASEAN (hay Tuyên bốBangkok) được ký kết bởi các thành viên sáng lập Indonesia, Malaysia, Philippines,Singapore và Thái Lan Tiếp đó, sự gia nhập của Vương quốc Brunei vào ngày07/01/1984, Việt Nam ngày 28/07/1995, Lào và Myanmar ngày 23/07/1997, sau đó làCampuchia ngày 30/04/1999 nâng tổng số thành viên ASEAN hiện tại lên đến con số

10 Với mục tiêu của hiệp hội, hợp tác trong các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, kỹthuật, giáo dục và một số lĩnh vực khác, đồng thời cũng cho thấy mục đích đẩy mạnh

và ổn định nền hòa bình trong khu vực, được cụ thể hóa bằng sự tôn trọng quy định,luật pháp và các cam kết đối với nguyên tắc hiến chương Liên Hiệp Quốc

II Sơ lược về Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC)

Kinh nghiệm thực tế từ cuộc khủng hoảng tài chính Đông Á năm 1997-1998,cộng thêm sự nổi lên của các nền kinh tế Trung Quốc và Ấn Độ đã khiến các nướcASEAN quyết tâm tạo ra một cộng đồng hợp tác kinh tế mạnh mẽ, gắn kết hơn Hộinghị thượng đỉnh Hiệp hội ASEAN năm 1997 tại Kualar Lumpur, Malaysia đã raTuyên bố về Tầm nhìn ASEAN 2020 với ý tưởng biến ASEAN thành một khu vựcphát triển ổn định, hội nhập và cạnh tranh, thiết lập một cộng đồng kinh tế khu vựcvào năm 2020 Vào năm 2003, Hội nghị thượng đỉnh ASEAN ở Bali đã quyết đinhđẩy nhanh quá trình hình thành cộng đồng kinh tế ASEAN (Asean EconomicCommunity - AEC), thay vì thời hạn 2020, các nước quyết định hình thành AEC vàocuối năm 2015 Năm 2007 thông qua Kế hoạch AEC 2007 đặt ra các thời hạn rõràng cụ thể cho các nước thành viên ASEAN thực hiện để hình thành AEC, với mụcđích hợp nhất các quốc gia thành viên thành một cộng đồng kinh tế chung vào ngày

Trang 4

31/12/2015 Không giống như EU, ASEAN không tạo lập các tổ chức quản lý trungương như Ủy ban Liên minh châu Âu EU hay Ngân hàng Trung ương châu Âu mà

sẽ tập trung vào việc xóa bỏ các rào cản kinh doanh, thương mại

Kế hoạch AEC bao gồm 04 trụ cột (04 nội dung then chốt): tạo lập một thịtrường và cơ sở sản xuất thống nhất; tạo lập một khu vực kinh tế cạnh tranh cao;thúc đẩy sự phát triển kinh tế công bằng; xây dựng một khu vực hội nhập hoàn toànvới nền kinh tế toàn cầu Tóm lại, AEC sẽ biến ASEAN thành một khu vực với sự tự

do dịch chuyển hàng hóa, dịch vụ, đầu tư, lao động có kỹ năng và tự do dịch chuyểndòng vốn Liên quan đến việc tạo lập một thị trường và cơ sở sản xuất thống nhất,các quốc gia thành viên ASEAN đang tập trung thực hiện giảm và tiến tới xóa bỏcác rào cản để đảm bảo dòng chảy hàng hóa, dịch vụ và vốn trở nên tự do giữa cácnước ASEAN Đối với lĩnh vực dịch vụ tài chính, các quốc gia thành viên đã camkết tự do hóa mạnh mẽ, xóa bỏ các hạn chế trong các ngành ngân hàng, bảo hiểm vàcác thị trường vốn vào năm 2015 Điều này bao hàm tự do hóa 4 phương thức cungcấp thương mại dịch vụ qua biên giới như được định nghĩa trong WTO - là cung cấpthương mại dịch vụ qua biên giới (phương thức 1), Tiêu dùng (sử dụng dịch vụ) ởnước ngoài (phương thức 2), Hiện diện thương mại (Phương thức 3) và Tự do dịchchuyển cá nhân (Phương thức 4)

III Những điều chỉnh trong hệ thống ngân hàng các nước ASEAN hướng tới gia nhập AEC

Đến cuối năm nay, AEC sẽ chính thức được thành lập và một trong những mụctiêu của nó là thực thi hệ thống ngân hàng mở có nghĩa là các quốc gia thành viên sẽphải bỏ mọi giới hạn về sở hữu nước ngoài với các ngân hàng nội địa của mình

1 Singapore

1.1 Giới thiệu chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế của Singapore

1.1.1 Điều kiện tự nhiên

Singapore, tên chính thức là nước Cộng hòa Singapore, là một thành bang vàđảo quốc tại Đông Nam Á Đảo quốc nằm ngoài khơi mũi phía nam của bán đảo MãLai và cách xích đạo 137 km về phía bắc

Lãnh thổ Singapore gồm có một đảo chính hình thoi, và khoảng 60 đảo nhỏhơn Sự đô thị hóa đã làm biến mất nhiều cánh rừng mưa nhiệt đới một thời ởSingapore, không có nước ngọt từ sông và hồ, nguồn cung cấp nước chủ yếu củaSingapore là từ những trận mưa rào được giữ lại trong những hồ chứa hoặc lưu vựcsông cung cấp được khoảng 50% lượng nước, phần còn lại được nhập khẩu từMalaysia hoặc lấy từ nước tái chế - một loại nước có được sau quá trình khử muối.Nhiều nhà máy sản xuất nước tái chế đang được đề xuất và xây dựng nhằm giảm bớt

sự phụ thuộc vào việc nhập khẩu

1.1.2 Điều kiện kinh tế

Singapore hầu như không có tài nguyên, nguyên liệu chủ yếu đều phải nhập từbên ngoài, hàng năm đều phải nhập khẩu lương thực, thực phẩm và nước ngọt đểđáp ứng nhu cầu trong nước Tuy nhiên, Singapore đã xây dựng được hệ thống cơ sở

Trang 5

hạ tầng và các ngành công nghiệp phát triển hàng đầu châu Á và trên thế giới như:cảng biển, hệ thống giao thông, công nghiệp đóng và sửa chữa tàu biển, công nghiệplọc dầu, chế biến, điện tử và lắp ráp linh kiện

Singapore có nền kinh tế thị trường tự do phát triển cao và rất thành công.Người dân Singapore được hưởng một môi trường kinh tế mở cửa đa dạng, lànhmạnh và không tham nhũng, thu nhập bình quân đầu người vào hàng cao nhất thếgiới Tuy nhiên, năm 2014 Singapore cũng được đưa vào danh sách 10 quốc gia đắt

đỏ nhất thế giới

Singapore là một trong các trung tâm thương mại lớn của thế giới, với vị thếtrung tâm tài chính lớn thứ tư và một trong năm cảng bận rộn nhất Nền kinh tếmang tính toàn cầu và đa dạng của Singapore phụ thuộc nhiều vào mậu dịch, đặcbiệt là chế tạo, chiếm 26% GDP vào năm 2005 Quốc gia này xếp hạng cao trongcác bảng xếp hạng quốc tế liên quan đến giáo dục, chăm sóc sức khỏe, sự minh bạchcủa chính phủ, và tính cạnh tranh kinh tế

1.2 Tình hình phát triển kinh tế trong những năm gần đây

Singapore có nền kinh tế thị trường tự do phát triển cao và rất thành công.Nền kinh tế phụ thuộc rất nhiều vào xuất khẩu, đặc biệt là các thiết bị điện tử tiêudùng, sản phẩm công nghệ thông tin, dược phẩm, và lĩnh vực dịch vụ tài chính

GDP thực tế tăng trưởng trung bình 7,1% từ năm 2004 - 2007 Nền kinh tế sụtgiảm 0,8% trong năm 2009 do hệ quả của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu,nhưng lại hồi phục 14,5% trong năm 2010 và 5,3% trong năm 2011, với sức mạnhcủa xuất khẩu Về lâu dài, Chính phủ hy vọng sẽ thiết lập một lộ trình tăng trưởngmới tập trung vào nâng cao năng suất Singapore đã thu hút được đầu tư lớn vào sảnxuất dược phẩm và công nghệ y tế và sẽ tiếp tục nỗ lực để thiết lập Singapore làtrung tâm tài chính và công nghệ cao của khu vực Đông Nam Á Năm 2011 và 2012,

do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế toàn cầu, tăng trưởng GDP của Singapore chỉđạt được lần lượt là 4.9% và 2.1% Tuy nhiên , nền kinh tế của “đảo quốc Sư tử”năm 2013 tăng trưởng 4,1%, cao hơn nhiều so với mức tăng trưởng trong năm 2012

Năm 2014 đánh dấu một năm tương đối thành công với nền kinh tếSingapore, nhất là trong bối cảnh tình hình kinh tế thế giới và khu vực chưa thực sựtăng trưởng ổn định Theo báo cáo của nhiều tổ chức quốc tế, Singapore tiếp tụcnhận được sự tín nhiệm cao về sự cạnh tranh, môi trường kinh doanh tốt nhất,thương mại và đầu tư nước ngoài

Báo cáo của Bộ Thương mại và Công nghiệp Singapore (MTI) cho thấy trongnăm 2014, tăng trưởng kinh tế của Singapore đạt mức 2,9%, so với mức tăng 4,4%của năm trước đó Đóng góp vào tăng trưởng GDP trong năm qua chủ yếu đến từkhu vực dịch vụ tài chính - bảo hiểm và sản xuất

Tổng thương mại hàng hóa của Singapore trong năm 2014 cũng tăng 0,3% sovới năm 2013 và đạt 987,2 tỷ SGD Mức tăng này thấp hơn so với con số dự kiếnban đầu là 1,5-2,0%./

Trang 6

Trong khi đó, thị trường lao động sẽ tiếp tục bị thắt chặt do tỷ lệ thất nghiệpthấp và chi phí tuyển dụng tăng Vì thế, các ngành sử dụng nhiều lao động như xâydựng, bán lẻ và thực phẩm sẽ bị tác động bởi hạn chế về nguồn nhân lực Tuy nhiên,các ngành kinh tế nội địa như dịch vụ được kỳ vọng vẫn duy trì được tốc độ tăngtrưởng trước đó.

1.3 Những điều chỉnh trong hệ thống ngân hàng Singapore

1.3.1 Hệ thống ngân hàng

Quá trình phát triển kinh tế với tốc độ tăng trưởng cao trong quá trình côngnghiệp hoá của quốc gia này cần phải kể đến sự thành công của lĩnh vực tài chính,ngân hàng, những toà nhà chọc trời tập trung ở khu vực trung tâm kinh tế lớn trởthành biểu tượng hùng vĩ của ngành dịch vụ tài chính Singpore

Ở Singapore ngân hàng có lẽ nhiều nhất so với tỷ lệ các dịch vụ ở đây Dịch

vụ tài chính mang tính cạnh tranh cao, nhưng bên cạnh các ngân hàng hiện đạiSingapore vẫn tồn tại các ngân hàng truyền thống

Hệ thống ngân hàng Singapore bao gồm Ủy ban tiền tệ Singapore, ngân hàngthương mại, ngân hàng thương mại dịch vụ, ngân hàng tiết kiệm bưu điện, công tytài chính…Trong đó Ủy ban tiền tệ Singapore do Bộ tài chính Singapore thành lập từnăm 1971 để giám sát các tổ chức tài chính và thực thi chính sách tiền tệ Ủy bantiền tệ Singapore chịu trách nhiệm đối với tất cả các chức năng ngân hàng trungương Các định chế tài chính còn lại hoạt động đẩy mạnh việc lôi cuốn các tổ chứctài chính nước ngoài, để phát triển ngân hàng thương mại theo hướng ngân hànghiện đại, chú trọng đổi mới công nghệ và đa dạng hoá sản phẩm đáp ứng yêu cầudịch chuyển vốn trên thị trường

So với các nước trong khối ASEAN thì Singapore có thị trường tài chính pháttriển nhất, năm 1975 ở Singapore lãi suất tiền vay và tiền gửi trong nước đã được tự

do hóa Năm 1978, việc kiểm soát hối đoái cũng đã được nới lỏng, đem lại việc tự

do hóa tài chính đầy đủ nhằm tạo điều kiện cho các ngân hàng Singapore huy độngtối đa nguồn vốn nhàn rỗi trong và ngoài nước để phân phối và sử dụng hiệu quả cácnguồn vốn tiền tệ đã huy động được, đáp ứng nhu cầu vốn cho quá trình công nghiệphóa và hiện đại hóa

1.3.2 Những điều chỉnh hệ thống ngân hàng của Singapore trước thềm AEC

Là quốc gia phát triển nhất tại khu vực, Singapore sẽ là đầu tàu của ASEANtrong cạnh tranh toàn cầu khi AEC 2015 hình thành Singapore, với dân số 5,4 triệungười, là quốc gia tiên tiến nhất ASEAN về khoa học, công nghệ, giáo dục, và hạtầng và luôn chú trọng tới hệ thống ngân hàng Một số chính sách cụ thể củaSingapore:

Ngày 28/1/2015, Singapore đã có một động thái bất ngờ nới lỏng chính sáchtiền tệ, trong bối cảnh giá dầu đang tụt dốc ảnh hưởng đến lạm phát và ngân hàngtrung ương nước này tìm cách thúc đẩy nền kinh tế

Cơ quan Quản lý Tiền tệ Singapore (MAS - tức ngân hàng trung ương) chobiết sẽ làm chậm lại việc nâng tỷ giá đồng nội tệ so với một loạt loại tiền tệ khác,

Trang 7

đồng thời hạ mức dự báo lạm phát của Singapore, chủ yếu do giá dầu thế giới giảm.Thông tin trên đã dẫn tới việc đồng SGD giảm giá, theo đó 1 USD đổi được 1,3569SGD, mức cao nhất của đồng USD kể từ tháng 8/2010 và tăng so với mức 1 USDđổi được 1,3441 SGD vào hôm 27/1/2015

Singapore sử dụng tỷ giá hối đoái như một công cụ chủ chốt trong chính sáchtiền tệ, theo đó điều chỉnh tỷ giá đồng nội tệ so với các đồng tiền của các đối tác giaothương chính.Trong tuyên bố, MAS cho biết việc điều chỉnh lần này phù hợp vớitriển vọng lạm phát giảm trong năm 2015 đồng thời đảm bảo sự ổn định giá cả trongtrung hạn của Singapore

Một chuyên gia phân tích đầu tư thuộc tập đoàn Phillip Futures của Singaporenhận định đồng SGD giảm giá sẽ tạo thuận lợi cho xuất khẩu của đảo quốc này, tăngtính cạnh tranh của hàng hóa Singapore trên thị trường quốc tế

Các ngân hàng của Singapore rất tích cực mở rộng phạm vi hoạt động củamình ở các nước thành viên ASEAN khác bằng cách ráo riết thâu tóm các đối thủnhỏ hơn nhằm đón đầu làn sóng tăng trưởng tại khu vực này Chẳng hạn như DBSGroup Holdings của Singapore, năm 2012, cho biết sẽ trả tới 9,1 tỉ đô la Singapore(tương đương 7,3 tỉ USD) để mua lại PT Bank Danamon, ngân hàng lớn thứ nămcủa Indonesia Đây là thuơng vụ lớn nhất từ trước đến nay tại quốc gia này DBS vàUnited Overseas Bank của Singapore chủ yếu nhắm đến các thị trường tăng trưởngcao của ASEAN là Indonesia và Malaysia trong khi đó nhiều ngân hàng của cácquốc gia khác muốn hiện diện tại hầu hết các thị trường ASEAN với mục tiêu trởthành ngân hàng đầu tư được ưa chuộng tại khu vực “Việc mua lại Danamon sẽcủng cố vị trí của DBS như là một ngân hàng châu Á hàng đầu, giúp cân đối lại và

đa dạng hóa địa bàn hoạt động, đồng thời tăng cường sự hiện diện của chúng tôi tạicác thị trường có tốc độ tăng trưởng cao”, Tổng Giám đốc Piyush Gupta của BDS,cho biết

Ngoài ra, Singapore cũng thông báo và bắt buộc về tính thanh khoản mới củaMAS, nhằm đảm bảo các ngân hàng có tài sản chất lượng và tính thanh khoản cao

Những ngân hàng quan trọng đối với hệ thống tài chính quốc gia (D-SIB) sẽphải duy trì vốn cao hơn 2% so với mức tối thiểu theo quy định quốc tế Basel III,đồng thời phải có kế hoạch giải quyết khủng hoảng tốt Các ngân hàng tại Singaporephải đáp ứng yêu cầu mới về tính thanh khoản từ tháng 1/2015, trong khi quy địnhliên quan đến ngân hàng nước ngoài sẽ có hiệu lực từ tháng 1/2016

Thông thường, những ngân hàng đã bắt rễ sâu rộng trong nền kinh tế mộtnước nào đó thì vị trí của nó trên thị trường thường khó có thể bị thách thức bởinhững đối thủ mới, nhất là từ nước khác đến Trên giác độ này thì các ngân hàngSingapore có thể nói là bất khả chiến bại do đã thống trị hệ thống ngân hàng pháttriển ở trình độ rất cao của nước này, với 3 ngân hàng lớn nhất Singapore cùng nhaukiểm soát tới khoảng 80% tổng tài sản ngân hàng của Singapore từ việc sáp nhậptrước đó

Trang 8

2 Thái Lan

2.1 Giới thiệu chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế của Thái Lan

2.1.1 Điều kiện tự nhiên

Thái Lan là một trong những nước lớn của khu vực Đông Nam Á Với đườngbiên giới dài tiếp giáp với các quốc gia CHDCND Lào, CH Myanmar, Campuchia,Malayxia phía tây tiếp giáp với biển Andaman, phía đông Vịnh Thái Lan là thuận lợitrong phát triển kinh tế của quốc gia này Thiên nhiên đã phú cho mảnh đất màu mỡnày với diện tích đất đai là 513.115 km2, kéo dài trên 1.800 km từ Bắc xuống Nam

Vùng Bắc có nhiều núi cao, vùng Trung là châu thổ Chao-phra-gia, vựa lúacủa Thái Lan, vùng Đông Bắc chủ yếu là cao nguyên, Vùng Nam giáp Malaysia Bờbiển Thái Lan dài khoảng 2.500 km, Băng Cốc là hải cảng lớn của vùng Đông Nam

Á Vịnh Thái Lan là nguồn hải sản, khí và dầu quan trọng nhất của Thái Lan

Nguồn tài nguyên truyền thống quan trọng nhất của Thái Lan là lúa gạo Cao

su là nông sản quan trọng thứ hai Ngoài ra Thái Lan còn chú trọng đến việc trồngrau quả và hoa xuất khẩu

Bên cạnh những điều kiện thuận lợi như vậy, Thái Lan cũng có những điều

mà thiên nhiên không ưu đãi Nguồn tài nguyên khoáng sản nghèo nàn của đất nướckhông cho phép Chính phủ Thái Lan theo đuổi tham vọng xây dựng nền công nghiệpnặng bằng mọi giá như nhiều quốc gia khác, mặc dù họ ý thức được vai trò của côngnghiệp nặng đối với sự phát triển kinh tế quốc dân Như vậy, để phát triển kinh tế đấtnước, Thái lan chỉ có thể dựa vào nông nghiệp và một ít tài nguyên thiên nhiên,trong đó giá trị nhất là những mỏ thiếc ở Puket thuộc miền Nam Thái Lan Bên cạnh

đó, cũng như nhiều quốc gia khác, Thái lan luôn phải hứng chịu những thảm họathiên tai không mong muốn như: lũ lụt, hạn hán Sự phát triển kinh tế dẫn đến ônhiễm môi trường nghiêm trọng, gây ảnh hưởng đến đời sống sản xuất, sức khỏe của

cư dân Thái lan

2.1.2 Điều kiện kinh tế Thái Lan.

Khác với Việt Nam và một số nước trong khu vực Đông Nam Á, Thái lan lànước tiến hành công nghiệp hóa trong môi trường quốc tế khá thuận lợi

Thái Lan đã hưởng các nguồn lợi gián tiếp trong cuộc chiến tranh ĐôngDương thông qua việc Mỹ sử dụng Thái Lan như một căn cứ quân sự và hậuphương cung cấp nhu yếu phẩm cho chiến tranh Các khoản viện trợ không hoàn lại,các khoản đầu tư lớn từ các nước tư bản phát triển đổ vào đây ngoài mục đích lợinhuận trước mắt, phương Tây muốn biến Thái Lan thành "hình mẫu của Mỹ và thếgiới tư bản" ở Đông Nam Á Chính sự lưu tâm của Mỹ và thế giới tư bản khôngnhững là một yếu tố cực kỳ quan trọng thúc đẩy công nghiệp hóa đất nước, mà còn

có tác dụng củng cố địa vị lâu bền của phái quân sự trong đời sống kinh tế,chính trị

- xã hội của nước này

2.2 Khái quát tình hình kinh tế Thái Lan những năm gần đây

Thái Lan hiện là một nước công nghiệp mới (trước vốn là nước nông nghiệptruyền thống) Bắt đầu từ năm 1960, Thái Lan thực hiện Kế hoạch phát triển Kinh tế

Trang 9

- Xã hội đến nay đã đạt được những thành tưu nhất định

Từ năm 2007, những bất ổn chính trị đã gây ảnh hưởng đến sự phát triển kinh

tế của Thái Lan Tuy nhiên, các yếu tố cơ bản của nền kinh tế vẫn vững Do bất ổnchính trị trong nước và ảnh hưởng tiêu cực bởi khủng hoảng tài chính, tăng trưởngkinh tế của Thái Lan năm 2008 chỉ đạt 3,6% Năm 2009, xuất khẩu giảm mạnh, thấtnghiệp gia tăng, tăng trưởng kinh tế Thái Lan giảm 2,4% Thời gian gần đây, kinh tếThái Lan đã dần phục hồi GDP năm 2010 và 2011 lần lượt tăng 7,8% và 1,5% Tuynhiên, đà tăng trưởng kinh tế vẫn còn phụ thuộc vào một số yếu tố trong đó có sự ổnđịnh chính trị trong nước

Nổi bật trong tình hình kinh tế của Thái Lan phải kể đến ngành du lịch củanước này Ngành Du lịch chiếm khoảng 6,5% GDP toàn quốc Năm 2011, đã có hơn

19 triệu khách du lịch tới Thái Lan, tăng 19,84% so với năm 2010 (theo thống kêCục Du lịch Thái Lan) Thái Lan đã thu được 734,6 tỷ Bat năm 2011, tăng 23,92%

so với năm 2010

Qua những nét khái quát về tình hình kinh tế Thái Lan, ta có thể thấy tuy kinh

tế Thái Lan luôn có những bước thăng trầm không ổn định nhưng xét chung trong cảquá trình phát triển, nền kinh tế luôn có xu hướng phát triển đi lên

2.3 Những điều chỉnh trong hệ thống ngân hàng Thái Lan

2.3.1 Hệ thống ngân hàng

Hệ thống ngân hàng Thái Lan bao gồm Ngân hàng trung ương Thái Lan(Bank of Thailand –BOT), ngân hàng thương mại, ngân hàng chuyên doanh nhànước, các công ty tài chính… Ngân hàng Thái Lan được thành lập từ năm 1942 đượccoi như là ngân hàng trung tâm của cả nước; giữ vai trò ngân hàng của các ngânhàng và chịu ảnh hưởng rất lớn của các chi nhánh ngân hàng phương Tây

Luật ngân hàng Thái Lan cũng đã được thông qua năm 1962 và được bổ sungsửa đổi vào năm 1979,1985, và 1992 Hệ thống ngân hàng ở Thái Lan phát triểnmạnh theo xu hướng xây dựng mô hình tập đoàn ngân hàng, nhiều ngân hàng trongnước đã mở được các chi nhánh ở nước ngoài hoặc liên doanh với các ngân hàng ởnước ngoài Đến năm 1997, Thái Lan có 63 ngân hàng trong số đó có 10 ngân hàngthuộc sở hữu nhà nước Hoạt động của các ngân hàng thương mại đã đóng góp quantrọng đối với nền kinh tế Thái Lan và đảm đương về vốn cho nhu cầu phát triển côngnghiệp hóa – hiện đại hóa Bằng cách hạ lãi suất để mở rộng tín dụng đối với lĩnhvực nông nghiệp để đảm bảo nhu cầu vốn cho nông dân đặc biệt là vùng sâu vùng

xa, Ngân hàng trung ương Thái Lan có quyền kiểm soát chặt chẽ các ngân hàngthương mại trong lĩnh vực cho vay nông nghiệp, bên cạnh đó Nhà nước thành lập Uỷban kiểm soát giá cả, tạo điều kiện kiểm soát giá nông sản và khi cần Nhà nước kịpthời tham gia để bình ổn giá thị trường

Thị trường chứng khoán phát triển sôi động và việc các ngân hàng Thái Lanphát triển mạnh mẽ nghiệp vụ đầu tư vào thị trường tài chính cho thấy cả hai hệthống trên đóng vai trò ngang nhau trong việc cung cấp vốn cho nền kinh tế

2.3.2 Những điều chỉnh trong hệ thống ngân hàng

Trang 10

Sau khủng hoảng tài chính năm 1997, Chính phủ Thái Lan đã đưa ra biệnpháp bao gồm: cải thiện khuôn khổ pháp lý bảo đảm an toàn hoạt động ngành tàichính ngân hàng và tiến hành các bước tái cấu trúc hệ thống ngân hàng.Với nhữngkiên quyết trong cải cách ngân hàng vừa qua đã giúp Thái Lan phục hồi sau khủnghoảng

Từ năm 2010 trở lại đây triển vọng của hệ thống ngân hàng xứ Chùa Vàngđược đánh giá là vẫn rất ổn định bất chấp những bất ổn về chính trị đang tàn phá nền

kinh tế đất nước Đó là khẳng định của Hãng xếp hạng tín dụng Moody's Investors Service (Moody’s) mặc dù lợi nhuận của ngành ngân hàng Thái Lan trong ba năm qua

có xu hướng giảm vì nền kinh tế trong nước bị tàn phá bởi cuộc khủng hoảng chínhtrị Kết luận rút ra bởi cuộc khảo sát 12 ngân hàng Thái Lan, gồm 9 ngân hàngthương mại và 3 ngân hàng chính sách, chiếm 72% tổng giá trị của hệ thống ngânhàng Thái Lan

Theo Moody’s, tiềm lực vốn và khả năng chống chịu của các ngân hàng trước

sự tăng nhẹ của các khoản nợ xấu trong vòng 12-18 tháng tới rất vững chắc Về mặt thanh khoản và tiềm lực vốn, báo cáo cho biết, nguồn vốn của các ngân hàng Thái

Lan chủ yếu đến từ các khoản tiền gửi ổn định trong nước, ít phụ thuộc vào nguồnvốn liên ngân hàng và các khoản nợ Do vậy, tiềm lực vốn của hệ thống ngân hàngThái rất vững chắc, hoàn toàn có thể chống chọi tốt trước hiện tượng rút tiền gửi đột

ngột Về yếu tố lợi nhuận, Moody’s nhận định, lợi nhuận của ngành ngân hàng Thái

Lan trong thời gian tới sẽ sụt giảm so với sự tăng trưởng mạnh mẽ suốt hơn ba nămqua

Mới đây nhất, Tòa án Hiến pháp Thái Lan hôm 12/3/2014 đã ra phán quyết,

dự luật vay tín dụng 2.200 tỷ baht (67,8 tỷ USD) để tài trợ cho các dự án khổng lồ vềxây dựng cơ sở hạ tầng là vi phạm hiến pháp nước này Động thái này được đưa rasau khi Ủy ban Chính sách Tiền tệ của Thái Lan hôm 12/3/2014 tuyên bố cắt giảmlãi suất chính sách thêm 0,25 điểm, xuống mức 2% (mức thấp nhất trong vòng 4năm qua, kể từ tháng 12 năm 2010) nhằm tạo bước đệm trong bối cảnh rủi ro đixuống của nền kinh tế ngày càng lớn

Bangkokpost dẫn lời chủ tịch Ngân hàng Krung Thai (KTB), ông Vorapak

Thanyawong cho biết, Ngân hàng có tổng tài sản lớn nhất Thái Lan này đang cânnhắc cắt giảm chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng từ 7-10% xuống còn 4,5% trong năm naysau khi hạ thấp dự đoán tăng trưởng GDP của nước này từ 4-5% xuống 3,3% chobiết KTB sẽ cắt giảm lãi suất cho vay và huy động vào thời gian tới để phù hợp vớimức cắt giảm lãi suất chính sách

Bangkokpost đưa tin hôm 22/05/2014, dịch vụ đổi tiền tại Thái Lan đang có

những chuyển động mạnh mẽ trong cuộc hội nhập tài chính ngay trước thời điểmCộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) chính thức ra đời vào cuối 2015, theo Hiệp hộiNgoại hối Thái Lan (TAFEX) Chủ tịch Hiệp hội, Chanaporn Poonsuphirun cho biếtmột số dấu hiệu cạnh tranh tài chính đã bắt đầu xuất hiện khi một số tổ chức cungcấp dịch vụ đổi ngoại tệ xin giấy phép hoạt động của Ngân hàng Thái Lan Cụ thể,

Trang 11

hiện có 1.300 địa điểm cung cấp dịch vụ đổi tiền, có giấy phép kinh doanh từ Ngânhàng Thái Lan, chủ yếu hoạt động ở các khách sạn và đại lý du lịch Tuy nhiên,trong đó chỉ có 75 đơn vị là thành viên của TAFEX bất kể con số này đã tăng từ 40lên 75 tính đến năm 2013.

Ngoài ra, “có rất nhiều điểm dịch vụ đổi tiền không có giấy phép hợp pháp của Ngân hàngTrung ương Thái Lan, điều này là một cản trở lớn với việc phát triển kinh doanh”, bà Chanaporn cho biết.

TAFEX dự đoán khối lượng giao dịch ngoại hối thông qua các điểm giao dịchđịa phương có thể lên đến 10 tỷ USD vào năm 2014, tăng thêm 3,4 tỷ USD so vớimức 6,6 tỷ USD vào năm ngoái, mặc dù nền kinh tế phát triển trì trệ và lượng khách

du lịch tới đất nước này giảm đáng kể Ngoài vai trò Chủ tịch Hiệp hội Ngoại hốiThái Lan, bà Chanaporn đồng thời là CEO của Twelve Victory Exchange, mộttrong những tổ chức cung cấp dịch vụ đổi tiền lớn nhất Thái Lan Bà cho biết công

ty của mình cũng đang có kế hoạch mở rộng thị trường trong nước bằng việc liên kếtvới các công ty nhỏ hơn tại các tỉnh Twelve Victory Exchange hiện có 20 chinhánh, nhưng tất cả đều ở Bangkok

Trong khi đó, Ngân hàng Trung ương Thái Lan đang xem xét một quy địnhliên quan tới việc mở rộng chi nhánh của các công ty cung cấp dịch vụ đổi tiền.Theo quy định này, công ty phải tiến hành đăng ký vốn tối thiểu là 10 triệu Bahttrước khi mở thêm các chi nhánh

Một tin khác được Bangkok Post đưa tin hôm 14/4/2014, các ngân hàng lớn cụ

thể là bốn ngân hàng lớn nhất Thái Lan, gồm Bangkok (BBL), Krung Thai Bank(KTB), Kasikornbank (KBank) và Siam Commercial Bank (SCB) đang tìm kiếm cơhội mở rộng hoạt động kinh doanh tại các nước láng giềng nhằm tận dụng tối đa lợiích mà Cộng động kinh tế ASEAN mang lại vào cuối năm 2015 Các ngân hàng này

đã lên kế hoạch xâm nhập thị trường tài chính trong nhóm các nước thành viênASEAN ngay khi có thể cho thấy Thái Lan đã nắm bắt thời cơ AEC tương đối nhanhchóng

Khác với nhiều ngân hàng lớn ở Singapore và Malaysia cũng tăng cường mởrộng kinh doanh trong khu vực thông qua các một chiến lược nhanh gọn đó là mua lạicác ngân hàng địa phương, các ngân hàng Thái Lan chọn một con đường khiêm tốnhơn đó là mở các chi nhánh ngân hàng của mình tại các quốc gia trong khu vực

Ngân hàng Bangkok (BBL) - ngân hàng có tổng tài sản lớn nhất Thái Lan, heoước tính, BBL hiện có 27 chi nhánh và văn phòng địa diện tại 11 quốc gia, trong đó

có 13 chi nhánh và văn phòng đại diện ở ASEAN Ngân hàng này hiện đang tìmkiếm sự chấp thuận của chính quyền Campuchia về việc mở lại chinh nhánh ởPhnom Penh sau nhiều năm vắng bóng tại thị trường nước, Phó chủ tịch BBL DejaTulananda cho biết Ngân hàng này cũng đang xem xét mở thêm chi nhánh ở ViệtNam BBL đã hoạt động tại Việt Nam được hơn 30 năm và hiện có chi nhánh ở thủ

đô Hà Nội và TP Hồ Chí Minh Mới đây, BBL vừa mở thêm một chinh nhánh ở thủ

đô Viêng Chăn trong bối cảnh hoạt động kinh tế tại Lào ngày càng gia tăng Tuy

Trang 12

nhiên, trước khi bắt tay vào việc mở chi nhánh ở nước ngoài, ngân hàng cần nắm rõhơn về bức tranh kinh tế và các quy định của nước sở tại.

Ngân hàng Krungthai (KTB) cũng lên kế hoạch mở thêm các chi nhánh tạikhu vực biên giới nhằm nắm bắt hoạt động kinh doanh phát sinh từ thương mạixuyên biên giới Phó chủ tịch KTB Weidt Nuchjalern cho biết, KTB hiện có tám chinhánh tại khu vực biên giới và sẽ nâng cấp một trung tâm dịch vụ tài chính ở khuvực biên giới Thái Lan - Campuchia thành một chi nhánh mới của KTB trong thángtới

Có thế thấy Thái Lan là một trong số những quốc gia nhập cuộc nhanh nhấtvới việc thành lập Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC)

3 Philippines

3.1 Giới thiệu chung về điều kiện tự nhiên, xã hội.

Cộng hòa Philippines, là một đảo quốc có chủ quyền tại Đông Nam Á.Philippines nằm trên Vành đai lửa Thái Bình Dương và nằm gần xích đạo, do vậyquốc gia hay chịu ảnh hưởng từ các trận động đất và bão nhiệt đới, song lại có nguồntài nguyên thiên nhiên phong phú và đa dạng sinh học ở mức độ cao Philippines códiện tích 300.000 kilômét vuông, là quốc gia rộng lớn thứ 64 trên thế giới, bao gồm7.107 hòn đảo Thủ đô của Philippines là Manila, còn thành phố đông dân nhất

là Quezon; cả hai thành phố đều thuộc Vùng đô thị Manila Với dân số ít nhất là 99triệu, Philippines là quốc gia đông dân thứ bảy tại châu Á và đứng thứ 12 trên thế giới

Vào thế kỷ 20, Cộng hòa Philippines là một quốc gia độc lập Kể từ đó,Philippines hiện là một trong những nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất tại châu Á,việc có quy mô dân số lớn và tiềm năng về kinh tế khiến Philippines được phân loại

là một cường quốc bậc trung

3.2 Tình hình phát triển kinh tế trong những năm gần đây.

Nền kinh tế quốc gia của Philippines lớn thứ 41 thế giới, theo ước tính, GDP(danh nghĩa) vào năm 2013 là 272.207 triệu USD (2012 đạt 250.182 triệu USD và

2009 đạt 161.196 triệu USD Các mặt hàng xuất khẩu chính của Philippines bao gồmcác sản phẩm bán dẫn và điện tử, thiết bị vận tải, hàng may mặc, các sản phẩm đồng,các sản phẩm dầu mỏ, dầu dừa, và quả Các đối tác thương mại lớn của Philippinesbao gồm Hoa Kỳ, Nhật Bản, Trung Quốc, Singapore, Hàn Quốc, Hà Lan, Hong Kong,Đức, Đài Loan và Thái Lan Đơn vị tiền tệ quốc gia là peso Philippines (hay PHP)

Philippines là một quốc gia công nghiệp mới, nền kinh tế đang trong quá trìnhchuyển đổi từ dựa vào nông nghiệp sang dựa vào các ngành dịch vụ và chế tạo Tổnglực lượng lao động trên toàn quốc là khoảng 38,1 triệu, lĩnh vực nông nghiệp sửdụng gần 32% lực lượng lao động song chỉ đóng góp 14% GDP Lĩnh vực côngnghiệp thu hút gần 14% lực lượng lao động và đóng góp 30% GDP 47% lực lượnglao động tham gia vào lĩnh vực dịch vụ và đóng góp 56% GDP

Năm 2004, GDP tăng trưởng 6,4% và đến năm 2007 là 7,1%, mức cao nhấttrong ba thập niên Tuy nhiên, tăng trưởng GDP bình quân đầu người hàng nămtrong giai đoạn 1966–2007 chỉ đạt 1,45%, trong khi mức trung bình của khu vực

Trang 13

Đông Á và Thái Bình Dương là 5,96%, thu nhập hàng ngày của 45% dân sốPhilippines vẫn dưới 2 đô la Mỹ.

Kinh tế Philippines dựa nhiều vào kiều hối, nguồn ngoại tệ từ kiều hối vượtqua cả đầu tư trực tiếp nước ngoài Các khu vực phát triển không đồng đều, đảoLuzon mà đặc biệt là Vùng đô thị Manila giành được hầu hết tăng trưởng kinh tế sovới các khu vực khác, song chính phủ có những bước đi để phân phối tăng trưởngkinh tế bằng cách tăng đầu tư vào các khu vực khác của quốc gia

HSBC phác thảo rằng nền kinh tế của Philippines sẽ trở thành nền kinh tế lớnthứ 16 thế giới, lớn thứ 5 châu Á và lớn nhất Đông Nam Á vào năm 2050 Philippines là thành viên của Ngân hàng Thế giới, Quỹ Tiền tệ Quốc tế, Tổ chứcThương mại Thế giới (WTO), Ngân hàng Phát triển châu Á với trụ sởtại Mandaluyong, Kế hoạch Colombo, G-77, và G-24

3 Điều chỉnh trong hệ thống ngân hàng Philippines.

Hiện nay ở Philippine có ba loại hình tổ chức cung cấp dịch vụ Tài chính vĩ

mô (TCVM): Ngân hàng tiết kiệm và nông thôn, các hợp tác xã cung cấp dịch vụ tiết kiệm và tín dụng, các tổ chức phi chính phủ cung cấp các dịch vụ TCVM Các

ngân hàng tham gia vào các hoạt động TCVM dưới sự giám sát của Ngân hàngTrung Ương Philippine Các hợp tác xã thuộc thẩm quyền quản lí của Cơ quan Hợptác Phát triển (CDA) Trong khi đó, các tổ chức TCVM phi chính phủ, với tư cách làcác tổ chức không nhận tiền gửi, không phải chịu bất kỳ quy định bảo đảm an toànnào Tuy nhiên, các tổ chức TCVM phi chính phủ phải đăng ký và thông báo với Ủyban Chứng khoán và Hối đoái (SEC) về việc tham gia vào TCVM và các dịch vụliên quan Một số bước phát triển gần đây trong lĩnh vực TCVM:

- Tháng 12 năm 2011, Ngân hàng Trung Ương Philippine (BSP) ban hành Thông

tư số 744 cho phép các ngân hàng cung cấp các khoản vay "TCVM gia tăng" lên đến300.000 Php (7.000 USD) Trước kia, Ngân hàng Trung ương xác định các khoản vayTCVM là những khoản vay dưới mức 150.000 Php (3.500 USD)

- Quy định mới của Ngân hàng Trung Ương Philippine có hiệu lực từ ngày 01tháng 7 năm 2012 cấm việc sử dụng phương pháp tính toán lãi suất phẳng áp dụngcho tất cả các tổ chức được cấp phép Các tổ chức TCVM phi chính phủ không cấpphép và hợp tác xã được khuyến khích áp dụng mức hợp lí

- Minh bạch giá cả Ngân hàng Trung Ương ban hành Thông tư số 730, khuyếnkhích các tổ chức TCVM tăng cường tính minh bạch giá cho vay và cải thiện việccông khai thông tin chủ nợ cập nhật ở Luật cho vay Chính sách công khai thông quacác quy định là để bảo vệ người dân trước việc thiếu thông tin về chi phí tín dụng thực

sự thông qua việc đảm bảo công bố đầy đủ các chi phí, ngăn chặn việc sử dụng màkhông hiểu rõ về tín dụng gây thiệt hại cho nền kinh tế

Đối tượng áp dụng bao gồm tất cả các bên cho vay bao gồm cả cá nhân hoặc

tổ chức tham gia vào việc mở rộng tín dụng Thông tư cũng thành lập một công thứcđịnh giá áp dụng cho tất cả các tổ chức cấp tín dụng Thông tư này có hiệu lực vàotháng 8 năm 2012, bao gồm sửa đổi về những loại thông tin phải được công khai đặc

Trang 14

biệt đối với doanh nghiệp nhỏ, lẻ Tín dụng tiêu dùng bao gồm tổng số tiền được tàitrợ (vốn), chi phí tài chính thể hiện bằng peso và centavos; tiền thu ròng của khoảnvay và tỷ lệ phần trăm phí tài chính phải chịu trên tổng số tiền được tài trợ

Việc minh bạch giá được giám sát và thi hành bởi Ngân hàng TW Philippine(BSP) nhưng chính sách này bị hạn chế đối với các ngân hàng thương mại và nôngthôn chỉ khi NHTW (BSP) không quản lí cũng như giám sát các tổ chức TCVMkhác như hợp tác xã và các tổ chức phi chính phủ Do đó, không có sự kiểm tra việctuân thủ quy định ở các tổ chức phi ngân hàng Nợ quá hạn Ngành TCVM đã cónhững phản ứng tích cực trước những thách thức từ những khoản vay phức tạp vốn

dĩ có thể chuyển thành nợ quá hạn, danh mục dư nơ có rủi ro gia tăng và đối vớikhách hàng có dư nợ cao Các tổ chức TCVM chú trọng đến danh sách được trao đổivới các tổ chức khác để tránh việc vấp phải những khoản tín dụng xấu, việc trao đổinày đặc biệt hữu ích cho các tổ chức TCVM thiếu sự hợp tác, thiếu kinh nghiệm củanhững người điều hành mới trong việc tiếp cận khách hàng

Hiện tại, có nhiều cải tiến trong việc kết hợp các phương thức tiếp cận baogồm tăng cường đào tạo tài chính; nâng cao, cung ứng sản phẩm phù hợp; lập kếhoạch phát triển và các nghiên cứu nhằm hạn chế các khoản nợ xấu, nợ phức tạp cóthể dẫn đến danh mục đầu tư rủi ro cao của tổ chức TCVM và của khách hàng cónhiều nợ xấu

Trong năm 2012, Viện quản lý Châu Á (AIM), Oikocredit, Hội đồng TCVMMindanao (MMC) và Hội đồng TCVM của Philippines (MCPI) đưa ra các tổng kết

về các khoản vay phức tạp ở Philippines Một trong số đó là bản báo cáo nhằm đánhgiá sự tác động và tương quan của các khoản vay bằng cách sử dụng dữ liệu chung

về khách hàng được tổng hợp từ đối tác tổ chức TCVM trong "Khối thịnh vượngchung" - khu vực hai của thành phố Quezon Kết quả cho thấy trung bình 14% kháchhàng đang vay vốn tổ chức TCVM có quan hệ tín dụng với hơn một tổ chức tíndụng Về cơ bản, quy mô khoản vay thuờng tương đuơng nhau, tài khoản tín dụng có

dư nợ tuơng tự nhau tại các tổ chức TCVM mặc dù có những khác biệt rõ ràng giữacác loại khoản vay và tỷ lệ cho vay chéo của tổ chức TCVM Nhìn chung không có

sự khác biệt mang tính hệ thống giữa người có quan hệ tín dụng với một tổ chức haynhiều tổ chức cùng một lúc, và cho tới nay cũng không có bằng chứng cho thấy việc

có quan hệ tín dụng với nhiều tổ chức lại liên quan đến những khó khăn trong trả nợ

và khả năng vi phạm pháp luật

- Trung tâm thông tin tín dụng Luật Hệ thống thông tin tín dụng (CISA), đượcQuốc hội thông qua vào năm 2008, yêu cầu thành lập một trung tâm đăng ký tín dụngnội địa Việc áp dụng luật hệ thống thông tin tín dụng đuợc kỳ vọng làm tăng khảnăng tiếp cận tín dụng cho các doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ và vừa cũng như giải quyếtcác vấn đề của vay đa tổ chức vốn đuợc coi là có thể dẫn đến vi phạm pháp luật Ởquy mô lớn hơn, sự chia sẻ và phổ biến thông tin tín dụng sẽ lành mạnh hóa, nâng cao

uy tín và làm sôi động thị trường Hiện tại, việc thực thi các quy định của Luật hệthống thông tin CISA đã được phê duyệt, một số thành viên quản trị điều hành đã

Trang 15

được bổ nhiệm Tuy vậy, việc thực thi pháp luật và hoạt động của Cục đăng kí tíndụng đang bị hạn chế do vấn đề tài chính từ phân bổ ngân sách

- Đầu năm nay, 7 tổ chức TCVM lớn nhất Philippine đã thành lập Trung tâmthông tin tín dụng tạo điều kiện cho các nhà cung cấp TCVM mở rộng các khoảnvay cho doanh nhân vi mô thông qua hệ thống chia sẻ dữ liệu TCVM (Midas).Midas hy vọng sẽ hỗ trợ các khách hàng vi mô có rủi ro tín dụng trong việc tiếp cậnnguồn vốn vay

- Luật bảo mật dữ liệu Các ngân hàng Philippine được điều chỉnh bởi luật vềbảo mật tiền gửi ngân hàng Theo đó, mọi khoản tiền gửi tại các ngân hàng hoặc các

tổ chức hoạt động ngân hàng, bao gồm cả các khoản đầu tư vào trái phiếu phát hànhbởi Chính phủ Philippine, đều được bảo mật tuyệt đối, không bị kiểm tra, điều trahoặc phong tỏa bởi bất kì cá nhân hay tổ chức nào, trừ khi có sự cho phép bằng vănbản của người gửi tiền, hoặc trong trường hợp bị buộc tội, hoặc theo lệnh của tòa án

có thẩm quyền đối với các tội hối lộ hoặc thiếu trách nhiệm, hoặc trong trường hợpngười gửi tiền hay nguời đầu tư là đối tượng của các vụ kiện 3 Một luật khác, LuậtBảo mật dữ liệu năm 2012 (Luật số 10173) hỗ trợ cho luật trước đây nhưng chútrọng hơn đến vai trò của thông tin và các nhà cung cấp công nghệ để bảo mật thôngtin cá nhân trong hệ thống thông tin liên lạc của chính phủ và khu vực tư

- Dịch vụ ngân hàng di động với sự tiến bộ trong công nghệ và với sự phổbiến của điện thoại di động, ngân hàng di động được công nhận là có một tiềm năngrất lớn, cung cấp truy cập vào các ngân hàng từ xa và làm giảm đáng kể chi phí vàrủi ro bên ngoài Theo một nghiên cứu ở Philippines cho thấy một nửa số người sửdụng điện thoại di động không sử dụng dịch vụ ngân hàng Trong số này, 26% làngười nghèo, sống dưới mức 5 USD mỗi ngày (chuẩn nghèo ở Philippine) và 1 trong

10 người không sử dụng dịch vụ ngân hàng tiết kiệm trung bình 31 USD (1/4 tiếtkiệm gia đình của họ) phí sử dụng di động Trước khi bắt đầu dự án Dịch vụ Ngânhàng Doanh nghiệp siêu nhỏ (MABS) 4, ngân hàng di động đã như một giải phápcông nghệ mở rộng dịch vụ ngân hàng với chi phí thấp cho các khách hàng và cánhân chưa có điều kiện sử dụng và tiếp cận các dịch vụ ngân hàng đặc biệt là kháchhàng ở khu vực nông thôn 5

Một dự án ngân hàng khác liên quan đến điện thoại di động là Bước tiến mởrộng quy mô sử dụng điện thoại di động hoặc SIMM – thời gian hai năm nhằm mụcđích phổ cập thông tin thông qua giáo dục tài chính và tỷ lệ sử dụng điện thoại diđộng và dịch vụ tiền tệ di động để cải thiện quản lý tài chính gia đình Trong số cácchính sách quan trọng có việc nới lỏng các yêu cầu phân nhánh ngân hàng và mởrộng vai trò của văn phòng ngân hàng vi mô

- Tờ Philstar hôm 7/5/2014 đưa tin, Hạ viện Philippines vừa thông qua Dự

luật Hạ viện số 3984 (House Bill 3984) nhằm thay thế Đạo luật Cộng hòa số 7721,vốn chỉ cho phép các ngân hàng nước ngoài mua và sở hữu tối đa 60% cổ phần cóquyền biểu quyết của một ngân hàng nội địa

Trang 16

Theo dự luật mới, các ngân hàng 100% vốn nước ngoài sẽ được cấp phép hoạtđộng tại Philippines, thay vì chỉ có hình thức liên doanh, chi nhánh hay văn phòngđại diện như trước đó.

Hạ nghị sĩ Nelson Collantes, tác giả của dự án luật này cho biết, việc cho phépthành lập ngân hàng 100% đầu tư nước ngoài tại Philippines sẽ góp phần củng cố hệthống tài chính của đất nước Các ngân hàng 100% vốn đầu tư nước ngoài dự kiến sẽmang lại những triển vọng và công nghệ mới cho hệ thống ngân hàng nội địa Dovậy, về lâu dài, điều này sẽ tăng cường nguồn lực tài chính của Philippines và làmlợi cho nền kinh tế nước này

Cộng đồng doanh nghiệp nước ngoài cũng rất ủng hộ việc thông qua Dự luật

Hạ viện 3984 Liên hiệp Các phòng Thương mại Nước ngoài ở Philippines (JFC)cho biết, việc tăng cường quyền sở hữu nước ngoài tại các ngân hàng nội địa sẽ gópphần “tăng cường khả năng cạnh tranh của ngành ngân hàng và gia tăng nguồn vốn.Điều này sẽ làm lợi dân chúng, đồng thời giúp duy trì sự tăng trưởng của nền kinh tếPhilippines” Ngoài ra, theo JFC, việc thông qua Dự luật 3984 sẽ cho phépPhilippines hòa mình với quá trình hội nhập tài chính của Hiệp hội các quốc giaĐông Nam Á (ASEAN)

4 Malaysia

4.1 Giới thiệu chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế của Malaysia

Malaysia là một quốc gia quân chủ lập hiến liên bang tại Đông Nam Á Quốcgia bao gồm 13 bang và 3 lãnh thổ liên bang với tổng diện tích đất là 329.847 km2( lớn thứ 67 trên thế giới về diện tích đất liền) trong đó diện tích đất đai là 328.558km2 và diện tích mặt nước là 1.200 km2

Malaysia là một nền kinh tế thị trường định hướng nhà nước tương đối mở vàcông nghiệp hóa mới Thương mại quốc tế của Malaysia có thuận lợi do nằm sáttuyến đường tàu thủy qua eo biển Malacca, và chế tạo là lĩnh vực then chốt

Malaysia phát triển thành một trung tâm của ngân hàng Hồi giáo, và là quốcgia có số nữ lao động cao nhất trong ngành này

Kể từ khi độc lập, Malaysia trở thành một trong những nước có hồ sơ kinh tếtốt nhất tại châu Á, GDP tăng trưởng trung bình 6,5% trong gần 50 năm

4.2 Tình hình phát triển kinh tế trong những năm gần đây

Từ năm 1991, Chính phủ Malaysia đã đề ra chiến lược phát triển toàn diệnquốc gia 30 năm (1991-2020) gọi là “ Tầm nhìn năm 2020” mà kế hoạch 5 năm lầnthứ 6 (1991-1995) là giai đoạn mở đầu của chiến lược này Mục tiêu của kế hoạchnày là nhằm nâng cao tính hiệu quả và khả năng cạnh tranh của nền kinh tế, khuyếnkhích phát triển kinh tế tư nhân, tự do hóa hơn nữa để cải thiện môi trường đầu tư,phát triển thị trường vốn và thị trường chứng khoán

Trong thời gian bốn năm, từ 4/2009-4/2013, dưới sự lãnh đạo của Thủ tướngNajib Tun Razak, nền kinh tế Malaysia phát triển thịnh vượng, hệ thống tài chínhminh bạch, vững chắc, mức sống và chất lượng cuộc sống tiếp tục được cải thiện Từkhi nắm quyền ngày 3/4/2009, Thủ tướng Najib đã thực hiện chương trình "Một

Trang 17

Malaysia" với cam kết đưa đất nước phát triển và trong năm 2010, ông đã đưa ra haisáng kiến lớn đó là Chương trình chuyển đổi chính phủ (GTP) và Chương trìnhchuyển đổi kinh tế (ETP) Mục tiêu của các chương trình này là nhằm đưa Malaysiatrở thành nền kinh tế phát triển có thu nhập cao vào năm 2020 Trong thời gian hơn

2 năm thực hiện GTP và ETP, Malaysia đã đạt được một số mục tiêu của ETP vàkhẳng định đang đi đúng hướng để trở thành nước thu nhập cao vào năm 2020

Năm 2013, nền kinh tế Malaysia đã tăng trưởng 4,7%, lạm phát đã đứng ởmức 3,2% trong tháng cuối của năm 2013 so với cùng kỳ năm trước Tính cả năm

2013, lạm phát đã tăng 2,1% Cũng trong năm 2013, Malaysia đã lập kỷ lục mới vềthu hút vốn đầu tư với tổng mức đầu tư đã được phê duyệt trong năm là 216,5 tỷringgít - RM (tương đương 66 tỷ USD), tăng 48,6 tỷ RM so với năm 2012

Với lộ trình rõ ràng, các chương trình chuyển đổi của Malaysia đã góp phầnnâng cao vị thế của quốc gia này trên trường quốc tế Theo báo cáo kinh doanh năm

2013, Malaysia đứng thứ 12 trên thế giới về xếp hạng đất nước có môi trường kinhdoanh thân thiện Malaysia cũng được đánh giá là đất nước có tính cạnh tranh cao,đứng thứ 14 trên thế giới theo đánh giá của Viện nghiên cứu quản lý phát triển đượccông bố trong cuốn sách năm 2012/2013 về cạnh tranh toàn cầu Năm 2013,Malaysia đứng thứ hai trong Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN) về mức độnăng động của nền kinh tế (GDI), sau Singapore do Tổ chức Grant Thornton, một tổchức hàng đầu thế giới về bảo hiểm, thuế và tư vấn doanh nghiệp công bố

Năm 2014, Malaysia đứng trong top 3 nền kinh tế nhận vốn đầu tư lớn nhất từNhật Bản trong khoảng thời gian từ tháng 1-9/2014

Năm 2015,Thủ tướng Malaysia Najib Razak đã công bố ba chiến lược cụ thểnhằm đảm bảo tăng trưởng kinh tế của nước này tiếp tục phát triển mạnh, dự kiếnđạt tăng trưởng Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) từ 4,5-5,5% trong năm 2015 Vềviệc điều chỉnh ngân sách, ngân sách 2015 sẽ được xây dựng dựa trên nền tảng kinh

Hệ thống ngân hàng bao gồm các ngân hàng thương mại, ngân hàng đầu tư, vàcác ngân hàng Hồi giáo, là nguồn tài trợ chính hỗ trợ các hoạt động kinh tế ởMalaysia Tổ chức ngân hàng hoạt động thông qua một mạng lưới hơn 2.000 chinhánh trên khắp đất nước

Ngày đăng: 28/01/2016, 23:52

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w