ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN --- NGUYỄN THỊ MINH HÒA TƯ TƯỞNG GIÁO DỤC CỦA EDGAR MORIN TRONG TÁC PHẨM “BẢY TRI THỨC TẤT YẾU CHO NỀN GIÁO DỤC TƯƠNG
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGUYỄN THỊ MINH HÒA
TƯ TƯỞNG GIÁO DỤC CỦA EDGAR MORIN TRONG TÁC PHẨM “BẢY TRI THỨC TẤT YẾU
CHO NỀN GIÁO DỤC TƯƠNG LAI”
LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Triết học
Hà Nội - 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGUYỄN THỊ MINH HÒA
TƯ TƯỞNG GIÁO DỤC CỦA EDGAR MORIN TRONG TÁC PHẨM “BẢY TRI THỨC TẤT YẾU
CHO NỀN GIÁO DỤC TƯƠNG LAI”
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Triết học
Mã số: 60 22 03 01
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Quang Hưng
Hà Nội - 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Quang Hưng và có sự tham khảo của những tác giả ghi trong danh mục tài liệu tham khảo Các tài liệu, số liệu
sử dụng trong luận văn đều trung thực và có nguồn gốc rõ ràng
Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Hà Nội, ngày 13 tháng 11 năm 2015
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Minh Hòa
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 NHỮNG ĐIỀU KIỆN VÀ TIỀN ĐỀ CHO SỰ RA ĐỜI TƯ TƯỞNG GIÁO DỤC CỦA EDGAR MORIN 7
1.1 Điều kiện kinh tế - xã hội 7
1.2 Tiền đề tư tưởng 12
1.2.1 Tư tưởng giáo dục của Wilhelm von Humboldt 12
1.2.2 Tư tưởng của J.Dewey về dân chủ và giáo dục 17
1.2.3 Quan điểm giáo dục của Albert Einstein 20
1.3 Tiền đề về khoa học tự nhiên 24
1.4 Edgar Morin và tác phẩm “Bảy tri thức tất yếu cho nền giáo dục tương lai” 27
CHƯƠNG 2 NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA TƯ TƯỞNG GIÁO DỤC EDGAR MORIN TRONG TÁC PHẨM “BẢY TRI THỨC TẤT YẾU CHO NỀN GIÁO DỤC TƯƠNG LAI” 33
2.1 Tính cấp thiết cải cách giáo dục 33
2.1.1 Thách thức mang tính toàn cầu 33
2.1.2 Thách thức về phương pháp giáo dục 37
2.2 Mục tiêu của giáo dục 42
2 3 Phương pháp giáo dục 45
2.4 Nội dung của giáo dục 54
2.5 Đánh giá về tư tưởng giáo dục của Edgar Morin 61
2.5.1 Một vài đánh giá về tư tưởng giáo dục của Edgar Morin 61
2.5.2 Vận dụng giá trị của nó cho việc đổi mới giáo dục ở Việt Nam hiện nay 63
KẾT LUẬN 71
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 74
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Nhân loại đang bước vào thế kỷ XXI – thế kỷ của nền kinh tế tri thức, giáo dục - đào tạo được khẳng định là nhân tố, là động lực thúc đẩy sự phát triển của xã hội Ở hầu hết các quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam, các chính phủ đều rất coi trọng giáo dục Sở dĩ như vậy, bởi vì giáo dục là điều kiện tiên quyết góp phần phát triển kinh tế, góp phần ổn định chính trị xã hội và hơn hết giáo dục - đào tạo góp phần nâng cao chỉ số phát triển con người Giáo dục - đào tạo không chỉ có vai trò quan trọng trên lĩnh vực sản xuất vật chất mà còn là cơ sở để hình thành nền văn hóa tinh thần Giáo dục
có tác động vô cùng to lớn trong việc xây dựng ý thức đạo đức, xây dựng nền văn hóa, góp phần cơ bản vào việc hình thành lối sống mới, nhân cách mới của toàn bộ xã hội
Đảng và Nhà nước ta coi giáo dục là quốc sách hàng đầu, điều này thể hiện qua các lần tổ chức Đại hội Đảng giáo dục luôn là nội dung được bàn luận đến: Bắt đầu từ Nghị quyết của Đại hội lần thứ IV của Đảng (1979) đã ra quyết định số 14-NQTƯ về cải cách giáo dục với tư tưởng xem giáo dục là bộ phận quan trọng của cuộc cách mạng tư tưởng; thực thi nhiệm vụ chăm sóc và giáo dục thế hệ trẻ từ nhỏ đến lúc trưởng thành; thực hiện tốt nguyên lý giáo dục học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nhà trường gắn liền với xã hội Tư tưởng chỉ đạo trên được phát triển bổ sung, hoàn thiện cho phù hợp với yêu cầu thực tế qua các kỳ Đại hội VI, VII, VIII, IX, X của Đảng cộng sản Việt Nam Đặc biệt, sự nghiệp Giáo dục được Đại hội toàn quốc lần thứ X đặc biệt quan tâm và nhấn mạnh hơn nữa nhằm giáo dục con người phát triển toàn diện, nhất là thế hệ trẻ
Sự nghiệp giáo dục nước ta đã đạt được những thành tựu không nhỏ, góp phần quan trọng vào việc đưa nước ta thoát khỏi tình trạng một nước nghèo Thế nhưng, như nhận định trong kết luận của Hội nghị lần thứ 6 Ban
Trang 6chấp hành Trung ương khóa XI thì đến nay giáo dục và đào tạo nước ta vẫn chưa thực sự là quốc sách hàng đầu để làm động lực quan trọng nhất cho phát triển Nhiều hạn chế, yếu kém của giáo dục và đào tạo chưa được khắc phục,
có mặt còn nặng nề hơn Hiện nay, giáo dục Việt Nam vẫn tồn tại rất nhiều vấn đề gây bức xúc dư luận xã hội Bất cập của giáo dục Việt Nam thể hiện ở tất cả mọi mặt từ việc quản lý giáo dục cho đến nội dung, phương pháp, chương trình giáo dục, sách giáo khoa, cơ sở vật chất, đội ngũ những người dạy học Có thể nói giáo dục Việt Nam đang thiếu một nền tảng triết học giáo dục phù hợp
Một nền giáo giáo dục kém sẽ không thể đào tạo được nguồn nhân lực chất lượng cao Tất nhiên nếu thiếu nhân lực tốt thì Việt Nam sẽ tụt hậu, không thể phát triển được trong một thế giới đang biến đổi từng ngày, đặc biệt
là khi khoa học – công nghệ đang có những bước phát triển vượt bậc Vì thế,
để có một nền giáo dục tốt, với chương trình sách giáo khoa tối ưu hay một kỳ thi đánh giá đúng chất lượng học sinh, nhằm khuyến khích cả thầy và trò dạy tốt, học tốt… trong bối cảnh hiện nay, giáo dục Việt Nam rất cần phải học hỏi, tiếp thu những kinh nghiệm của những nền giáo dục tiên tiến trên thế giới Giáo dục Việt Nam buộc phải tìm cho được giải pháp để đổi mới giáo dục thành công Vấn đề cốt lõi là cần đổi mới căn bản triết lý về giáo dục để
từ đó có thể xây dựng chương trình giáo dục đúng đắn, khoa học từ mục tiêu đến nội dung và phương pháp giáo dục cũng như cơ chế quản lý và điều hành giáo dục
Edgar Morin (1921 - ) nhà triết học, nhân học Pháp có tư tưởng giáo dục được thể hiện hoàn bị thông qua bộ ba tác phẩm sư phạm Trong đó đặc biệt phải kể đến “Bảy tri thức tất yếu cho nền giáo dục tương lai” là tác phẩm viết về những vấn đề chủ yếu của giáo dục với tư duy mới mẻ, độc đáo Trong tác phẩm này ông đã đặt nền giáo dục trong một bối cảnh mới đầy biến động, đưa ra quan niệm về giáo dục: không dạy lý luận, tri thức đơn thuần, nhồi
Trang 7nhét kiến thức mà cần phải dạy cho người học những kỹ năng, khả năng tư duy Nội dung của giáo dục không thể xa lạ với con người mà là những gì cơ bản, thiết thực nhất Chú trọng việc người học tự tìm tới kiến thức Triết lý giáo dục của Edgar Morin đầy tính nhân văn: tất cả vì con người, cho con người, người học được tôn trọng Tác phẩm của ông đã thể hiện một chủ nghĩa nhân văn cao cả, một chủ trương giáo dục đầy tinh thần dân chủ, yêu thương, tôn trọng nhân phẩm của người học
Việc nghiên cứu tác phẩm “Bảy tri thức tất yếu cho nền giáo dục tương lai” sẽ góp phần làm sáng tỏ quan niệm cơ bản về giáo dục của Edgar Morin Đây cũng là đề tài có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc làm nền tảng giải quyết những vấn đề giáo dục nói chung và ở Việt Nam nói riêng Và việc nghiên cứu, tiếp thu một cách có chọn lọc những quan điểm giáo dục của ông
là điều cần thiết
Với những lý do trên, tôi đã chọn: Tư tưởng giáo dục của Edgar Morin
trong tác phẩm “Bảy tri thức tất yếu cho nền giáo dục tương lai” làm đề tài luận
văn của mình
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Ngày nay, khi văn minh nhân loại bước vào giai đoạn phát triển mới với nền kinh tế tri thức, cạnh tranh bằng chất xám, vấn đề giáo dục được quan tâm đặc biệt ở bất cứ quốc gia nào Việc tìm hiểu, nghiên cứu những tư tưởng giáo dục hay những nền giáo dục tiến bộ trên thế giới là điều cần thiết
Edgar Morin là một trong những nhà tư tưởng hàng đầu của nước Pháp đương đại, ông dành một sự quan tâm lớn đối với vấn đề giáo dục và có những suy tư vô cùng độc đáo về nó Tuy nhiên, hiện nay vẫn chưa có một tác phẩm nào thuần túy giới thiệu hay nghiên cứu một cách hệ thống về tư tưởng này của ông
Năm 1998, Hội nghị thế giới về Giáo dục Đại học do UNESCO triệu tập đã ra “Bản tuyên ngôn thế giới về giáo dục đại học cho thế kỷ XXI: Tầm
Trang 8nhìn và hành động” (World Declaration on Higher Education for the first Century: Vision and Action) UNESCO cũng công bố nhiều công trình quan trọng khác về nền giáo dục tương lai trong đó có “Bảy tri thức tất yếu cho nền giáo dục tương lai” của Edgar Morin Đây là lần đầu tiên tác phẩm ra mắt những người quan tâm đến vấn đề giáo dục Chứng tỏ nó là một công trình được đánh giá cao và xứng đáng để tìm hiểu cùng nghiên cứu
Twenty-Tác phẩm này đã tạo cho tác giả sự nổi tiếng trên thế giới và đã gây sự chú ý của rất nhiều người Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu một cách
hệ thống về tác phẩm này là chưa có
Còn ở Việt Nam, khi nói đến Edgar Morin, người ta dường như chỉ thường bàn tới tư tưởng triết học về “tư duy phức hợp” của ông chứ chưa thấy một công trình nghiên cứu khoa học chính thức bàn đến quan niệm của ông về giáo dục qua tác phẩm “Bảy tri thức tất yếu cho nền giáo dục tương lai”
Kể từ năm 2008, tác phẩm sau khi dịch ra tiếng Việt và được nhà xuất bản Tri thức phát hành thì đã có những bài báo giới thiệu về tác giả và tác phẩm có thể kể đến: Hội thảo về giáo dục với chủ đề “Edgar Morin và triết học giáo dục” giới thiệu chân dung nhà triết học, nhân học Pháp E.Morin Có những phân tích về quan điểm giáo dục của ông
Bài giới thiệu của Phạm Khiêm Ích về cuốn sách “Liên kết tri thức” do Edgar Morin chủ biên (Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, 2005) với tiêu đề “Cải cách giáo dục trước thách đố của thế kỷ XXI” đã nêu lên quan điểm giáo dục của Edgar Morin thể hiện trong tác phẩm Liên kết tri thức Bài giới thiệu khá ngắn gọn về E Morin trên báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam ngày 22/5/2008
Bài viết của Phạm Khiêm Ích “Edgar Morin và triết học giáo dục”
đăng trên tạp chí Thông tin Khoa học Xã hội số 8/2008 trình bày quan điểm
về giáo dục của Edgar Morin một cách khái quát nhưng rất sâu sắc
Trang 9Tóm lại, về đề tài tư tưởng giáo dục của Edgar Morin trong tác phẩm
“Bảy tri thức tất yếu cho nền giáo dục tương lai”, hiện nay chưa có công trình nào nghiên cứu đầy đủ và có hệ thống Tất cả các công trình đã biết mới dừng lại ở đánh giá nói chung về tư tưởng giáo dục của ông hoặc giới thiệu cơ bản
về tác phẩm
Việc làm rõ tư tưởng giáo dục của Edgar Morin sẽ là một cơ sở lý luận rất tốt từ đó có thể đưa ra những giải pháp đúng đắn hướng tới đổi mới nền giáo dục nước nhà Do vậy, tôi mạnh dạn khai thác và tìm hiểu đề tài trên Tuy nhiên, với thời gian và hiểu biết còn hạn chế chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót, tôi rất mong nhận được những ý kiến phê bình, đóng góp mang tính xây dựng để luận văn được hoàn thiện hơn
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích:
Mục đích của đề tài là kiến giải và trình bày một cách khái quát nội dung tư tưởng giáo dục của Edgar Morin trong tác phẩm “Bảy tri thức tất yếu cho nền giáo dục tương lai”
- Đánh giá một vài giá trị trong tư tưởng của Edgar Morin về giáo dục
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu tư tưởng giáo dục của Edgar Morin trong tác phẩm “Bảy tri thức tất yếu cho nền giáo dục tương lai” Trong đó
Trang 10tập trung vào các nội dung sau: Sự cần thiết phải cải cách giáo dục, mục tiêu, phương pháp, nội dung của giáo dục
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận của nghiên cứu được khai triển trên nền tảng các quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối, quan điểm của Đảng về vấn đề giáo dục và đào tạo con người
Về phương pháp nghiên cứu: Sử dụng các phương pháp văn bản học, phương pháp logic – lịch sử, phương pháp phân tích – tổng hợp, phương pháp so sánh, phương pháp thu thập thông tin…
6 Đóng góp của luận văn
Đây là một tác phẩm khá mới đối với chúng ta Do vậy, đóng góp lớn nhất của luận văn là: Nghiên cứu hệ thống hóa những tư tưởng cơ bản về giáo dục của Edgar Morin trong tác phẩm “Bảy tri thức tất yếu cho nền giáo dục tương lai” Góp một phần nhỏ vào việc đi sâu nghiên cứu tư tưởng giáo dục của Edgar Morin
Có thể làm tài liệu mang tính tham khảo cho việc học tập và nghiên cứu
về giáo dục, triết học phương Tây hiện đại
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 2 chương, 9 tiết
Trang 11CHƯƠNG 1 NHỮNG ĐIỀU KIỆN VÀ TIỀN ĐỀ CHO SỰ RA ĐỜI TƯ TƯỞNG
GIÁO DỤC CỦA EDGAR MORIN 1.1 Điều kiện kinh tế - xã hội
Edgar Morin là một nhà triết học, xã hội học và nhân học nổi tiếng của nước Pháp Như ta đã biết, bất kỳ một triết gia của thời đại nào, khi xây dựng
tư tưởng của mình không thể tách rời thực tiễn đương thời, Edgar Morin cũng không ngoại lệ Ông luôn quan tâm đến các sự kiện, những cuộc tranh luận về các vấn đề chính trị, khoa học, xã hội, giáo dục đương thời Do vậy để tìm hiểu tư tưởng của Edgar Morin nói chung cũng như tư tưởng giáo dục thể hiện trong tác phẩm “Bảy tri thức tất yếu cho nền giáo dục tương lai” nói riêng một cách toàn diện và sâu sắc thì việc nghiên cứu điều kiện kinh tế, xã hội, văn hóa theo nghĩa là cái nền cho sự ra đời của tác phẩm là cần thiết
Về điều kiện kinh tế
Pháp là một quốc gia nằm tại Tây Âu, là nước lớn thứ ba ở châu Âu Trong hơn 500 năm qua Pháp là một quốc gia có ảnh hưởng văn hóa, kinh tế, quân sự và chính trị mạnh mẽ ở châu Âu và trên toàn thế giới
Ngay từ những năm 50 – 70 của thế kỷ XIX, trong khi các nước khác tiếp tục hoàn thành cách mạng tư sản thì Anh, Pháp là những nước tư bản phát triển, quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa đã xác lập hoàn toàn, cách mạng công nghiệp hoàn thành đã thúc đẩy nền kinh tế Pháp phát triển Máy móc được sử dụng rộng rãi trong các ngành công nghiệp Ở Pháp diễn ra quá trình tập trung sản xuất với quy mô lớn, hoạt động tài chính diễn ra mạnh mẽ
Cuối thế kỷ XIX, công nghiệp Pháp tuy phát triển chậm lại nhưng vẫn đứng thứ 4 thế giới Sang đầu thế kỷ XX, các công ty độc quyền ra đời đặc biệt trong lĩnh vực ngân hàng Pháp chuyển sang giai đoạn đế quốc Các ngành công nghiệp phát triển như chế tạo cơ khí, thiết bị giao thông vận tải Pháp là một nước công nghiệp, có số lượng doanh nghiệp lớn, lĩnh vực dịch
Trang 12vụ cũng rất phát triển Có truyền thống lâu đời trong phát minh công nghiệp, đội ngũ nghiên cứu có trình độ, đầu tư nhiều cho công tác nghiên cứu phát triển, năng suất lao động thuộc loại hàng đầu thế giới
Bên cạnh sự phát triển của công nghiệp, nông nghiệp Pháp vẫn giữ địa
vị quan trọng trong nền kinh tế Với 2/3 diện tích là đồng bằng và cao nguyên phì nhiêu thuận lợi cho canh tác, chăn nuôi Tuy lao động làm việc trong nông nghiệp rất ít nhưng hàng năm sản lượng hàng nông sản của Pháp là rất cao
Toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế trở thành một xu thế phổ biến Nó đặt các nước trong bức tranh chung của thế giới, buộc mỗi một quốc gia, dân tộc không thể khép kín, tự hài lòng với chính mình
Dưới sự lan tỏa của toàn cầu hóa, mọi lĩnh vực của xã hội đều bị tác động Nhìn chung, những tác động này theo chiều hướng tích cực đã làm cho thế giới “phẳng” và gần nhau hơn Trong thế giới đó sự phát triển và thành công của một quốc gia đều ít nhiều có tác động đến các quốc gia khác và ngược lại Vì mục tiêu hòa bình và phát triển,các quốc gia không ngừng phấn đấu vượt qua các vấn đề của khu vực và toàn cầu như biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường, xóa đói giảm nghèo, an ninh lương thực, tình trạng thất nghiệp Nước Pháp với vị thế cao trên thế giới đã thể hiện được tầm ảnh hưởng của mình với những quốc gia khác
Đồng thời dưới sức ép của nền kinh tế hội nhập toàn cầu và sự thay đổi nhanh chóng của khoa học và công nghệ đòi hỏi các nước trong đó có Pháp phải có sự thay đổi Nói cách khác, cũng như các quốc gia khác nền kinh tế Pháp đứng trước những thách thức mới của thời đại cần phải vượt qua
Về chính trị - xã hội
Pháp là quốc gia có lịch sử lâu đời về truyền thống văn hóa, chính trị, pháp luật đáng tự hào Pháp cũng có lịch sử đầy biến động và phức tạo với những biến cố chính trị to lớn
Trang 13Trong thế kỷ XX, một số bất ổn về kinh tế, xã hội bắt đầu xuất hiện mà tiêu biểu là tình trạng quá tải tại các trường học do số lượng trẻ em ra đời trong một vài thập niên trước đó quá cao, hay như những đợt vận động cho quyền lợi phụ nữ, thêm vào đó là phong trào phản đối chiến tranh Việt Nam đang lan rộng tại các nước phương Tây Nổ ra đầu tiên tại trường Đại học Nanterre, sau đó lan nhanh đến các tổ chức công nhân Cả nước Pháp như tê liệt trong một tháng Nước Pháp bước vào mùa hè với cuộc nổi dậy đòi tự do dân chủ của giới trẻ mà đỉnh cao là biến cố tháng 5 năm 1968 với những cuộc bãi khóa chiếm lĩnh các trường học và biến đường phố thành chiến lũy Trường Đại học danh tiếng Sorbonne phải đóng cửa lần đầu tiên trong lịch sử
700 năm hoạt động 20 triệu công nhân đình công khiến chính quyền De Gaulle lúc bấy giờ rơi vào khủng hoảng
Lịch sử Pháp cận đại đã ghi nhận một loạt dữ kiện xảy ra vào tháng 5 năm 1968 mà ngày nay giới truyền thông và chính trị Pháp thường có thói quen gọi là “những biến cố năm 68”
Năm 1968 tại Pháp đã được coi như chất xúc tác để cải tiến sâu rộng xã hội và đã cho phép nước Pháp đi vào con đường canh tân tại Pháp: Phong trào giải phóng phong tục, văn hóa, ngôn ngữ, cải tổ đại học, giải phóng nữ quyền, tình dục, cải thiện điều kiện làm việc và quyền lợi của người lao động… Hay nói cách khác những đòi hỏi thay đổi cải cách, canh tân đã đánh dấu một giai đoạn, đánh dấu một sự thay đổi lớn về mặt văn hóa, chính trị và xã hội của thế
kỷ XX ở Pháp
Về mặt xã hội, nhà nước thực hiện dân chủ hóa mọi hoạt động giáo dục, văn hóa để mọi công dân Pháp có cùng điều kiện phát triển về thể chất và tinh thần, vấn đề dân chủ và nhân quyền rất được đề cao tại Pháp
Nước Pháp rất coi trọng tính cộng đồng và quyền bình đẳng Mọi người đều được tự do tôn giáo và mọi hình thức phân biệt đối xử dựa trên tín ngưỡng hay việc thực hành tôn giáo đều bị cấm Những tín ngưỡng chủ yếu
Trang 14có mặt ở Pháp là Cơ đốc giáo (Thiên chúa và Tin lành), Hồi giáo và Do thái giáo Nhà thờ, đền thờ Hồi giáo, nhà thờ Do thái cùng tồn tại trong hòa bình, trên tinh thần hòa hợp và tôn trọng lẫn nhau
Là một trong những cái nôi văn hóa của châu Âu, nền văn hóa Pháp được xây dựng và phát triển cùng với dòng phát triển lịch sử đất nước Văn hóa Pháp đã tồn tại song song với các thời kỳ phát triển rực rỡ nhất, mang tính cột mốc của nền văn hóa nhân loại: thời kỳ La Mã cổ đại, thời kỳ phong kiến trung đại và thời kỳ phục hưng, cho đến cuộc cách mạng tư sản vào thời
kỳ hiện đại Nền văn hóa đồ sộ, độc đáo này vẫn được người Pháp tiếp tục bảo tồn và gìn giữ cẩn thận
Pháp được coi là trung tâm văn học – nghệ thuật của châu Âu:
Thừa hưởng nhiều tinh hoa từ nền văn minh Hy Lạp – La Mã cổ đại, nền văn học, nghệ thuật Pháp thật sự phát triển mang dấu ấn riêng từ khoảng thế kỷ XIX và phát triển rực rỡ nhất vào đầu thế kỷ XIX Những tác phẩm văn học Pháp phản ánh tâm tư, hiện thực xã hội của đất nước này trong từng giai đoạn, từ đó vẽ nên bức tranh toàn cảnh của xã hội châu Âu Ngoài ra, nghệ thuật Pháp còn phát triển mạnh mẽ trong lĩnh vực hội họa, điêu khắc, âm nhạc Tại Pháp có nhiều công trình kiến trúc cổ như thành phố Paris hay trung tâm Troyes…
Marianne – biểu tượng của nước Pháp Hiện diện khắp nơi trên nước Pháp đây được xem là biểu tượng nổi bật nhất của cộng hòa Pháp Là hình ảnh bán thân của một người phụ nữ, cô còn thường được đội chiếc mũ Phrygian – mang biểu tượng tự do
Pháp nổi tiếng trên thế giới là một quốc gia có sự đa dạng dân tộc Sau đại chiến thế giới lần thứ hai, nước Pháp đã tiếp nhận rất nhiều dân di cư đến
từ các nước châu Phi, châu Âu, châu Á Một mặt, người nhập cư giúp cho dân
số Pháp không bị già đi, thâm chí còn tăng lên, họ là nguồn nhân công cho các lĩnh vực như xây dựng, nông nghiệp… (Tính đến hiện nay có gần 130
Trang 15quốc tịch khác nhau sống trên đất Pháp) Một xã hội đa sắc tộc đã mang đến cho nước Pháp một nền văn hóa đa dạng phong phú và người dân Pháp tự hào
về điều đó Tuy vậy sự đa sắc tộc cùng với đa tôn giáo nêu trên cũng có thể khiến nước Pháp rơi vào những nguy cơ về xung đột sắc tộc, hay nguy cơ khủng bố…
Một điểm đáng lưu tâm là Pháp cổ động cho việc hình thành một thế giới đa cực Chủ trương ưu tiên vấn đề dân chủ, nhân quyền trong chính sách đối thoại Pháp đề cao các giá trị, nhân quyền và chủ trương tích cực đi đầu trong việc khuyến khích và giải quyết các vấn đề liên quan đến lĩnh vực này
Văn hóa bao gồm nhiều bộ phận, trong đó đời sống triết học là một bộ phận quan trọng Thế kỷ XVIII, nền văn minh Pháp và tiếng Pháp phát triển rực rỡ ở châu Âu với kỷ nguyên ánh sáng và các nhà triết học nổi tiếng như Montesqieu, Voltaire, Rousseau… Sang thế kỷ XIX, nước Pháp cùng với những biến động của xã hội đã hình thành những tư tưởng lớn của thời đại như chủ nghĩa xã hội không tưởng, chủ nghĩa xã hội khoa học, nhiều trào lưu
và khuynh hướng triết học liên tục xuất hiện qua các thời kỳ khác nhau Một nền văn hóa như vậy đã có ảnh hưởng sâu sắc đến sự hình thành tư tưởng giáo dục của Edgar Morin
Với điều kiện kinh tế - xã hội như vậy đã đặt ra yêu cầu cần phải xây dựng nền giáo dục tiến bộ tạo điều kiện cho đất nước phát triển Và việc hình thành tư tưởng giáo dục của Edgar Morin chính là bắt nguồn từ những yêu cầu thực tiễn ấy
Edgar Morin cho rằng cần phải xác định đúng vấn đề và tìm ra giải pháp để không ngừng đổi mới giáo dục nhằm đáp ứng các yêu cầu của thời đại Cần phải khơi dậy ý thức công dân toàn cầu, trân trọng sự đa dạng hóa trong thế giới đa chiều
Edgar Morin nhận ra trong một bối cảnh như vậy giáo dục sẽ có sự kết nối giữa các nước trên thế giới, mở rộng tầm nhìn và bậc thang giá trị vượt ra
Trang 16biên giới quốc gia, dân tộc, hướng tới những chuẩn mực chung, có tính chất toàn nhân loại, những con người sẽ không bị bó hẹp trong lối suy nghĩ cục bộ
mà cần có tư duy mang tính chất toàn cầu, có tinh thần dân chủ, có khả năng hợp tác, có thể làm việc trong môi trường quốc tế Và cần phải xem công cuộc đổi mới giáo dục và đào tạo trở thành một nhiệm vụ trọng tâm, nhằm tìm ra hướng đi đúng đắn
1.2 Tiền đề tư tưởng
Rất nhiều trào lưu tư tưởng lớn ở châu Âu, kể từ thời Hy Lạp cổ đại cho đến ngày nay đều ít nhiều đề cập đến giáo dục, thậm chí coi nó là đối tượng hướng tới của mình Những ưu việt của giáo dục ở các nước châu Âu ngày nay có thể nói được đóng góp bởi những giá trị được vun xới và chắt chiu bởi rất nhiều các dòng tư tưởng, được trải nghiệm qua thực tiễn và kinh qua nhiều thách thức lịch sử Edgar Morin cũng nằm trong dòng chảy lịch sử
ấy, ông chịu ảnh hưởng của những nhà tư tưởng trước đó Edgar Morin đã kế thừa, học hỏi ở họ và có những sáng tạo của riêng mình để cho ra đời những quan niệm độc đáo về giáo dục
1.2.1 Tư tưởng giáo dục của Wilhelm von Humboldt
Giai đoạn thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX, các nền giáo dục phương Tây lại một lần nữa đề ra những yêu cầu mới cho giáo dục Đã xuất hiện nhiều tư tưởng mới về giáo dục trong đó có Wilhelm von Humboldt (1767 - 1835)
Năm 1807, với hòa ước Tilsit, nước Phổ (một phần quan trọng của nước Đức ngày nay) mất hết phần lãnh thổ phía đông; phần còn lại do quân Pháp chiếm đóng, và phải cung phụng cho kẻ thắng trận Đất nước tan nát, dân chúng nghèo kiệt, đồng ruộng bỏ hoang Trong tình cảnh ấy, Humboldt đảm nhận trách nhiệm cải cách giáo dục, nhà nước hết sức chuyên quyền và chỉ muốn lạm dụng nền giáo dục để đào tạo những thần dân trung thành, biết vâng lời Để ngăn chặn điều ấy, Humboldt đã ra sức đề xướng sự tự do học thuật và phác thảo một cấu trúc hoàn toàn mới mẻ cho toàn bộ nền giáo dục
Trang 17Cấu trúc này đã phát huy tác dụng và còn đầy đủ tính thời sự cho đến ngày nay và đó cũng chính là công lao lịch sử của Humboldt
Humboldt vẫn tiếp tục yêu cầu học sinh ngồi yên, dành hàng giờ để học
cổ văn Hy Lạp Ông cho rằng nước Phổ phải giương cao ngọn cờ giáo dục và khoa học, phải cường tráng về tinh thần để được nước khác kính nể sau khi chịu bại trận Mất hết sức mạnh đối ngoại, càng phải thẳng lưng đứng dậy để xây dựng sức mạnh từ bên trong
Ông đã nói: “Người không có điều kiện học cao, ắt sẽ phải chìm sâu vào trong đời sống thường ngày Vì thế, càng cần phải trang bị kỹ lưỡng cho
họ cái “hình thức” tối thiểu để họ có thể thực sự thấm nhuần” Cái “hình thức” nói ở đây trái với cách hiểu quen thuộc ngày nay Trong tư duy Hy Lạp
- và trong cách hiểu của văn hóa cổ điển Đức - “hình thức” bắt nguồn từ “mô thức” (eidos/form), là tất cả những gì tác động trực tiếp đến hình thái (shape)
để mang lại tính cách, cung cách cho con người Đó là những ý tưởng và lý tưởng sẽ đào luyện tâm hồn của đứa trẻ, mang lại cấu trúc và dung lượng cho thế giới tinh thần của nó về sau Sở dĩ như thế, vì người Hy Lạp biết thoát ly khỏi mọi mối quan tâm đối với chất liệu để luôn nhìn thấy cái mô thức ở trước mắt mình, tức, biết đi từ cái vụn vặt đến cái lý tưởng, từ cái đơn giản nhất đến cái cao cả nhất, từ cái cá lẻ đến toàn bộ vũ trụ, nghĩa là, từ muôn vàn những văn bản, hãy biết lắng nghe giai điệu của sự tự do Luôn có trước mắt một hình dung lý tưởng chứ không chịu để thực tế trước mắt trói chân, tâm hồn Hy Lạp “bao giờ cũng đi tìm sự tất yếu và cái ý niệm, vứt bỏ hết vô vàn những cái ngẫu nhiên, bất tất của hiện thực” Nhìn mọi việc bằng con mắt khinh khoái như thế, nên mới có thể mỉm cười trong cảnh ngộ đau đớn tột cùng, và không dễ dàng buông thả trong khoái lạc: “Biến tất cả mọi sự thành trò chơi, nhưng chỉ theo nghĩa là biết gạt bỏ sự khắc nghiệt của trần gian, đồng thời giữ vững sự nghiêm chỉnh của lý tưởng”
Trang 18Đối với Humboldt, dạy tinh thần Hy Lạp không phải là ru trẻ vào giấc ngủ viễn mơ, hoài cổ, lý tưởng hóa quá khứ, ngoảnh lưng với thực tại Trái lại, tinh thần ấy gần gũi hơn hết đối với lý tưởng của ông trong việc đào luyện con người Vì tinh thần ấy tránh được cả ba cực đoan: tinh thần của văn hóa
La Mã hướng đến nhà nước và sự cai trị, với xu hướng áp bức cá nhân; tinh thần khắc nghị của tín ngưỡng Kitô giáo với xu hướng đè nén nhục cảm, và tinh thần của thời hiện đại hướng đến những công nghệ máy móc và những lợi ích bề ngoài Humboldt đồng cảm và chia sẻ với lý tưởng nhân bản của thế
hệ ông: lý tưởng về con người toàn diện như sự thống nhất giữa thể xác và tâm hồn, giữa nghĩa vụ và xu hướng, giữa lý trí và nhục cảm, giữa thế giới và
cá nhân Humboldt tập trung vào việc huy động sức mạnh tinh thần và đạo đức như là giải pháp duy nhất để cứu vãn tình thế
Lý tưởng giáo dục của Humboldt xoay quanh từ Bildung Nếu trước đây, “giáo dục” thường gắn liền với “dạy dỗ” và “truyền đạt kiến thức” theo cách hiểu thông thường thì từ Humboldt, nó mang nặng yếu tố “tự chủ”, tức là
sự tự đào luyện nhân cách Humboldt minh họa giản dị như sau: Có những kiến thức nhất định nào đó là điều ngày càng trở nên phổ biến Tuy nhiên, lại càng phải có sự đào luyện những tâm thế và tính cách mà không ai được phép thiếu cả Mỗi người rõ ràng chỉ có thể trở thành một thợ thủ công, một doanh nhân, binh sĩ hay công chức tài giỏi, khi người ấy trước hết là một con người
và là một công dân được khai minh, tốt lành và đàng hoàng, độc lập với nghề nghiệp đặc thù của mình Có được sự giáo dục cần thiết cho công việc này rồi, thì người ấy về sau sẽ dễ dàng học lấy một nghề và bao giờ cũng có thể tha hồ thay đổi nghề nghiệp như vẫn thường xảy ra trong cuộc sống
Theo Humboldt, có sự khác biệt giữa giáo dục theo nghĩa thông thường như là tiến trình điều chỉnh sự phát triển tri thức từ bên ngoài với bildung như
là tiến trình và kết quả của việc đào luyện nhân cách từ bên trong Khác với giáo dục hay dạy nghề, bildung không trực tiếp gắn liền với những mục đích
Trang 19kinh tế, mặc dù nó là tiền đề cho việc hướng nghiệp Hình ảnh một tam giác đều nói lên ba phương diện của bildung bao trùm mọi ngành nghề và mọi cấp học, đó là: Tri thức, tư duy và năng lực giao tiếp Tri thức bao gồm những nội dung học vấn, tư duy là các chiến lược khác nhau để mở rộng tri thức như giải quyết vấn đề, mô tả, suy luận, lý giải… Còn năng lực giao tiếp là biết cách làm cho người khác hiểu rõ luận điểm, tư tưởng, ý tưởng của mình, và ngược lại chủ động đặt mình vào trong vị trí của tư tưởng của người khác
Humboldt xem nhiệm vụ quan trọng của nhà nước là đảm bảo an ninh
và tích cực hỗ trợ nhưng không can thiệp quá sâu vào việc giáo dục Ông đã đặt ra câu hỏi: Người ta đòi hỏi gì từ nhà nước? Và trả lời ngay rằng: Không
gì khác ngoài việc mở rộng sự giáo dục ngày càng mạnh mẽ, càng rộng rãi càng tốt Nhà nước phải luôn ý thức rằng “họ thực sự không tạo ra hay không thể tạo ra được các hoạt động trí thức, mà chỉ càng gây cản trở mỗi khi họ muốn can thiệp vào Họ nên ý thức rằng sự việc sẽ diễn ra vô cùng tốt đẹp nếu không có sự can thiệp của họ”
Tư tưởng cốt lõi của Humboldt về sự tự do giảng dạy và học tập thể hiện qua câu nói: “Điều gì người ta không tự mình lựa chọn mà bị ép buộc và điều khiển thì không nhập tâm được, mãi mãi là cái gì xa lạ, và, trong trường hợp ấy, con người không hành động bằng sức mạnh của con người, trái lại, chỉ bằng kỹ năng máy móc”
Humboldt đã xóa bỏ hệ thống trường học có tính đẳng cấp (phong kiến, quý tộc, và các loại trường dạy nghề quá sớm), tạo điều kiện cho mọi trẻ em thuộc mọi tầng lớp có cơ hội và điều kiện học tập ngang nhau Quan trọng hơn là việc thiết kế nội dung cho hệ thống giảng dạy: chia làm ba cấp học gồm tiểu học, trung học và đại học, với sự phân biệt rõ rệt ranh giới và tính chất của mỗi cấp, trong đó đại học có chức năng nghiên cứu và đào tạo trí thức và dứt khoát không được phép là trường phổ thông cấp bốn Ông nhấn mạnh Đại học phải trở lại với nghĩa nguyên thủy của nó là universitas (theo
Trang 20Hiến chương thành lập Đại học Vienna năm 1365) gồm hai bộ phận là nghiên cứu và giảng dạy tri thức trong tính phổ quát của nó (universitas litterarum)
và hình thành một cộng đồng khoa học giữa thầy và trò (universitas magistorum cum studentorum) Vì tri thức chỉ có thể có thông qua đối thoại, trao đổi
Yếu tố trung tâm trong triết lý giáo dục của Humboldt là việc đào luyện
(Bildung) nhân cách một cách toàn diện và khuyến khích phát triển cá tính thông qua việc đào tạo (văn hóa) tổng quát Lý thuyết giáo dục tân-nhân bản này kiên quyết không nhượng bộ trước áp lực của mọi thế lực chính trị và kinh tế, khẳng định nhiệm vụ then chốt của nhà trường là “đào tạo con người còn nhỏ trở thành con người trưởng thành Yêu cầu này rõ ràng bị thực tế thử thách gắt gao
Một tâm điểm khác trong lý tưởng giáo dục của Humboldt là quan niệm rằng con người là sinh vật nỗ lực học tập và làm việc suốt đời Vì thế, việc đào luyện con người là một tiến trình không kết thúc và không thể dừng lại giữa đường Chính xã hội thông tin và tiến bộ kỹ thuật nhanh chóng chưa từng có ngày nay đã giúp cho lý tưởng này trở thành nhu cầu thường trực Những kiến thức thu hoạch được lúc còn trẻ và trong nhà trường nhanh chóng lạc hậu, khiến người ta khó đứng vững trong môi trường lao động và nghiên cứu mà không tiếp tục học hỏi và đổi mới kiến thức
Trước sau, ông chỉ có một mong mỏi: nhà trường phải thực sự là nơi hiện thân của ý niệm, của lý tưởng, nơi đó Tinh thần có thể được đào luyện trong sự an tĩnh và thanh khiết Trước mọi sự xô bồ và khắc nghiệt của cuộc sống, nhà trường cần phải là cái đối ứng, thậm chí, cái đối cực để nuôi dưỡng
lý tưởng, không để lý tưởng bị sa đọa và suy kiệt Hãy để cho tuổi trẻ học được cách làm chủ bản thân mình và không bao giờ chịu làm nô lệ, kể cả làm
nô lệ cho nghề nghiệp và cơm áo
Trang 21Tóm lại, xung quanh lý tưởng, triết lý và mô hình giáo dục của Humboldt tuy vẫn còn những tranh luận nhưng có thể khẳng định chúng có ảnh hưởng to lớn đối với nền giáo dục hiện đại
1.2.2 Tư tưởng của J.Dewey về dân chủ và giáo dục
Tư tưởng triết học và sự nghiệp giáo dục của John Dewey (1859 - 1952) đã bao trùm đời sống tri thức Mỹ, ảnh hưởng to lớn nền giáo dục Mỹ suốt thế kỷ XX Ông có tác phẩm nổi tiếng “Dân chủ và giáo dục” được đón nhận và gây tiếng vang trên thế giới Lý thuyết về kinh nghiệm phải được hiện thực hóa thông qua thực nghiệm và phù hợp với thực tiễn Đó chính là cốt lõi của tư tưởng triết học thực dụng của John Dewey được ông vận dụng vào trong giáo dục
Triết học giáo dục của John Dewey ra đời trong bối cảnh lịch sử của nước Mỹ đầu thế kỷ XX Dewey đã dành rất nhiều tâm huyết của mình cho sự nghiệp xây dựng một nền giáo dục dân chủ, vì lợi ích to lớn của con người, vì
sự tiến bộ của người học, vì sự phát huy trí tuệ, đạo đức nơi mỗi cá nhân con người, nhằm xây dựng một xã hội thực sự tốt đẹp
J.Dewey đã đối lập tư tưởng giáo dục của ông với giáo dục của nhà trường truyền thống với nhiều điểm lạc hậu của nó Từ đó J.Dewey bắt đầu đi vào đặt vấn đề: Triết học giáo dục là một nỗ lực nhằm tìm ra giáo dục là gì? Giáo dục diễn ra như thế nào? Để trả lời câu hỏi ấy Dewey đã xuất phát từ căn
cứ khoa học với sinh vật học và tâm lý học chức năng Ông cho rằng trước khi chúng ta có thể phát biểu một triết lý giáo dục, chúng ta buộc phải hiểu được bản tính con người được cấu tạo như thế nào trong cụ thể, chúng ta buộc phải hiểu được những hoạt động của những ảnh hưởng xã hội có thực Rõ ràng, J Dewey đã chú ý đến hai yếu tố tương tác với nhau để cho những kết quả giáo dục Đó là yếu tố cá nhân và yếu tố môi trường xã hội Trong hoạt động tương tác ấy, những nguyên liệu cơ bản được biến thành điều gì đó mang ý nghĩa to lớn hơn Và trong tiểu luận “Nhu cầu về một triết học giáo
Trang 22dục”: ông cho rằng giáo dục là một quá trình của phát triển, của tăng trưởng, tăng trưởng xã hội trên cơ sở cá nhân Mục tiêu của giáo dục là phát triển tối
đa những tiềm năng cá nhân Quá trình giáo dục là quá trình hoạt động của con người trong một xã hội Đó là một xã hội của những cá nhân tự do trong
đó tất cả bằng lao động của riêng mình đóng góp cho sự khai phóng và làm phong phú cuộc sống của người khác, chính là môi trường duy nhất để mọi cá nhân có thể thực sự phát triển bình thường xứng với tầm của mình
Trong triết lý giáo dục của John Dewey, tư tưởng khoa học đã làm cơ sở thật vững chắc để ông tiến tới tư tưởng dân chủ trong giáo dục - một triết lý gắn với thực tiễn của thời đại, đồng thời là một triết lý tiến bộ nói lên được khát vọng nhân văn to lớn, sâu xa của loài người Ông đã viết: “Trong một thế giới bị cuốn vào cuộc chạy đua điên rồ và thường là tàn nhẫn vì lợi ích vật chất bằng sự cạnh tranh liên tục, thì trường học phải có trách nhiệm bằng nỗ lực có tổ chức một cách thông minh và bền bỉ để trên hết phải phát triển ý chí hợp tác và tinh thần biết nhận ra ở mọi cá nhân khác một con người có quyền bình đẳng chia sẻ những thành quả văn hóa và vật chất của sự sáng tạo tập thể, của nền công nghiệp, của kỹ năng và tri thức của con người Mục tiêu tối cao về trí tuệ và nhân cách này là có tính tất yếu vì những lý do khác chứ không phải là để bù đắp cho cái tinh thần vô nhân đạo sinh ra từ sự cạnh tranh kinh tế và bóc lột” [8, tr 66] “Một xã hội không đáng hoan nghênh là một xã hội đặt ra bên trong và bên ngoài nó những rào cản ngăn chặn sự giao tiếp và truyền đạt kinh nghiệm một cách tự do Một xã hội cho phép mọi thành viên chia sẻ bình đẳng lợi ích của nó và điều chỉnh linh hoạt các thiết chế dựa vào mối quan hệ tương giao của các hình thái tồn tại liên kết khác nhau, xã hội ấy cho tới nay được gọi là dân chủ Với tính chất như thế, một xã hội phải có một kiểu giáo dục giúp cho các cá nhân có được mối hứng thú riêng tới các quan hệ xã hội và kiểm soát xã hội, và tạo ra những thói quen tinh thần có thể duy trì những thay đổi xã hội mà không gây nên sự hỗn loạn” [7, tr 126]
Trang 23Chúng ta có thể thấy khoa học và dân chủ là hai nội dung lớn duy nhất
có mối quan hệ biện chứng với nhau bao trùm trong triết lý giáo dục của John Dewey Tinh thần khoa học và dân chủ thấm nhuần, chi phối mọi khía cạnh nội dung lý luận giáo dục của John Dewey, tạo nên tính nhất quán của triết lý giáo dục của ông Triết lý ấy hóa thân vào các nội dung lý luận giáo dục sinh động, đa dạng thể hiện qua nhiều công trình khá đồ sộ mà John Dewey đã đóng góp cho nhân loại
Theo J Dewey: Trường học không đơn thuần là nơi người lớn dạy cho trẻ em các bài học kiến thức và bài học luân lý Trường học phải là một cộng đồng dân chủ, trong đó mọi hoạt động được tập trung nhằm tạo ra hiệu quả cao nhất trong việc chia sẻ cho người học di sản tri thức nhân loại và làm cho
họ có thể sử dụng tài năng của mình vào mục đích xã hội Vì thế giáo dục là một hoạt động của đời sống, là bản thân quá trình sống của trẻ em chứ không
phải là một sự chuẩn bị cho một cuộc sống tương lai đầy mơ hồ nào đấy
Nhà trường có nhiệm vụ tạo ra những điều kiện tốt nhất để cá nhân người học phát huy hết năng lực của mình, tạo dựng kiến thức cho mình bằng toàn bộ công cụ của chính mình như: đôi mắt, đôi tai, đôi tay, đặc biệt là tư duy Tóm lại, người học có thể phát triển toàn vẹn mọi khả năng của mình để tham gia vào đời sống xã hội
Không có nội dung hay giá trị tự thân tuyệt đối nào từ bên ngoài được mang áp đặt cho người học Nhà trường và giáo viên phải tạo ra một môi trường trong đó những hoạt động của trẻ chứa đựng cả những tình huống khó khăn Từ đó, người học tự tìm tòi và xây dựng kiến thức thông qua kinh nghiệm và tư duy, thông qua trải nghiệm của chính bản thân
Người học là mục đích tồn tại của hoạt động giáo dục Người học phải liên tục được khuyến khích tham gia vào các hoạt động của nhà trường, họ phải thực sự là người cộng tác để lên kế hoạch cho chương trình học và do đó lên kế hoạch cho toàn bộ môi trường học Qua hoạt động của nhà trường, học
Trang 24sinh tham gia vào những phương pháp khoa học và thủ tục dân chủ Học sinh thực sự tham gia vào việc sáng tạo, duy trì một đời sống xã hội trong cộng đồng lớp học ở trong nhà trường
Người giáo viên đóng vai trò là tác nhân quan trọng bậc nhất cho sự khai phóng của người học Giáo viên không phải là người có “quyền uy ban phát” kiến thức, không phải là một vị quan tòa, mà chính là một thành viên trong cộng đồng lớp học Giáo viên có nhiệm vụ là môt tác nhân kích thích Bằng việc cung cấp vật liệu, tổ chức, gợi ý, hướng dẫn giáo viên có thể tạo ra một môi trường khuyến khích sự học tập Muốn như vậy giáo viên phải là một chuyên gia được đào tạo tốt, một người hiểu biết giáo dục toàn diện
Nội dung của giáo dục phải phản ánh được sự phát triển của loài người, nội dung phải mang tính tăng tiến Chương trình học phải hiện đại song hành với sự phát triển của loài người Phương pháp giáo dục phải gắn chặt với đối tượng, nội dung giáo dục Phương pháp ở đây là phương pháp của năng lực và hứng thú của trẻ em, của cá nhân đang trưởng thành, chứ không phải là phương pháp của người lớn (những người đã trưởng thành) Phương pháp là
sự trình bày rõ ràng biện pháp triển khai nội dung của một kinh nghiệm đang diễn ra để nó đem lại hiệu quả và kết quả nhiều nhất Bởi vậy mà không thể tách rời phương pháp pháp giáo dục ra khỏi nội dung giáo dục
1.2.3 Quan điểm giáo dục của Albert Einstein
Albert Einstein (1879 - 1955) là nhà bác học thiên tài người Mỹ gốc Đức Sinh thời ông cũng từng là giáo sư đại học, thể hiện mối quan tâm đến việc giáo dục thế hệ trẻ qua nhiều bài viết và diễn văn Với tầm nhìn của một nhà khoa học lớn cùng tấm lòng nhân hậu, Einstein đã phát biểu những tư tưởng của mình về một nền giáo dục căn bản cho xã hội hiện đại Những tư tưởng đó được đăng rải rác ở nhiều nơi, chủ yếu vào những năm cuối đời và tập trung hơn cả là bài phát biểu của ông tại Albany, NewYork ngày 15/10/1936 nhân kỷ niệm 300 năm giáo dục Hoa Kỳ
Trang 25Khi đánh giá vai trò của nhà trường trong xã hội, Einstein cho rằng
“Nhà trường luôn là phương tiện quan trọng nhất trong việc chuyển tải những giá trị truyền thống từ thế hệ này sang thế hệ khác Ngày nay, do sự phát triển hiện đại của đời sống kinh tế, gia đình vốn là người mang giữ truyền thống và giáo dục, đang bị yếu dần đi, do đó sự trường tồn và sức sống của xã hội phụ thuộc vào nhà trường ở mức độ nhiều hơn trước kia”
Einstein không đồng tình với quan niệm nhà trường như một công cụ
để truyền đạt một khối lượng kiến thức tối đa cho thế hệ trẻ Vì lý do “kiến thức là cái gì chết cứng, còn trường học phục vụ cái sống” Với ông: “Nhà trường có nhiệm vụ phát triển trong thanh niên những phẩm chất và năng lực
có ý nghĩa đối với hạnh phúc của cộng đồng, nhưng điều đó không có nghĩa là làm mất đi cá tính của mỗi thành viên Con người không thể là công cụ của cộng đồng” Theo Einstein thì: “Một xã hội của những cá thể thiếu cá tính là một xã hội nghèo nàn không thể phát triển được Mục tiêu của nhà trường phải là đào tạo những cá thể có tư duy và hành động một cách độc lập, những con người nhìn thấy trong sự nghiệp phục vụ cộng đồng lý tưởng cao cả nhất của cuộc sống”
Einstein có quan niệm về phương pháp giáo dục như sau: “Điều tồi tệ nhất đối với một trường học là làm việc bằng phương pháp cưỡng bức, doạ nạt, quyền uy giả tạo Cách đối xử như vậy làm hỏng tình cảm đẹp, lòng chân thành và sự tự tin của học sinh Điều này sản sinh ra những con người chỉ biết phục tùng” Ông đã đề nghị: “Chỉ trao vào tay quyền lực của người thầy những biện pháp cưỡng bức rất hạn chế để sao cho những phẩm chất trí tuệ và nhân văn của người thầy là nguồn gốc sự kính trọng của học sinh Nếu không có sự khích lệ tinh thần loại này thì sự hợp tác giữa những con người không thể có được”
Mối quan hệ giữa cá nhân và cộng đồng được Einstein rất coi trọng Ông cho rằng bản chất nhân văn bảo đảm cho sự hợp tác giữa mọi người với
Trang 26nhau Ông viết: “Lòng khao khát được là thành viên của cộng đồng chắc chắn
là một trong những sức mạnh gắn bó quan trọng nhất của xã hội” Einstein cũng cảnh báo: “Trong tình cảm này, những ý thức xây dựng và phá hoại nằm
kề bên nhau Lòng khao khát được là thành viên của cộng đồng là một động
cơ lành mạnh, nhưng tham vọng được công nhận là một thành viên nổi trội hơn và trí tuệ hơn những người khác trong cộng đồng để dẫn đến sự điều chỉnh tâm lý ích kỷ quá mức, có thể có hại cho chính bản thân và cho cộng đồng” Vì vậy, Einstein kêu gọi nhà trường và người thầy “phải chống trả lại việc áp dụng những biện pháp dễ dãi để kích thích lòng tham vọng cá nhân và
để xui khiến học sinh làm việc siêng năng”
Nói về quan hệ giữa cá nhân và cộng đồng, đồng thời Einstein cũng phê phán một số người dùng lý thuyết Darwin về đấu tranh sinh tồn để khuyến khích sự cạnh tranh và nguỵ biện cho sự cần thiết phải có cuộc đấu tranh huỷ diệt về kinh tế Einstein coi đó là sai lầm, “vì rằng một con người có được sức mạnh trong cuộc đấu tranh để tồn tại là nhờ ở yếu tố anh ta là một sinh vật mang tính xã hội” Bởi vậy cần phải chống lại thói tâng bốc thành tích của giới trẻ như là một mục tiêu ở đời
Einstein đặc biệt coi trọng sự hào hứng trong công việc Ông nói: “Sự hào hứng trong công việc, niềm vui vào thành quả đạt được và hiểu rõ ý nghĩa thành quả đó đối với cộng đồng luôn là động cơ quan trọng nhất đối với công
việc trong trường học” Ông cho rằng nhiệm vụ quan trọng mà nhà trường
phải đảm nhiệm là thức tỉnh và khích lệ sức mạnh tâm lý đó trong học sinh Việc thức tỉnh những sức mạnh tâm lý chắc chắn không dễ hơn việc áp đặt hoặc việc kích thích tham vọng cá nhân, nhưng có giá trị hơn nhiều Einstein chủ trương xây dựng một nền giáo dục dựa trên niềm say mê đối với hoạt động có hiệu quả
Einstein cho việc coi trọng giáo dục khoa học ngôn ngữ - lịch sử hay khoa học - kỹ thuật trong nhà trường là vấn đề thứ yếu Đồng thời ông phản
Trang 27đối tư tưởng cho rằng, trường học phải trực tiếp dạy kiến thức nghề nghiệp và tay nghề cần cho cuộc sống sau này Ông cho rằng: “Trường học nên luôn đặt
ra mục tiêu để một học sinh rời ghế nhà trường như một con người hài hoà chứ không phải là một chuyên gia” Ông khẳng định: “Sự phát triển năng lực
tư duy độc lập và óc phê phán luôn phải đặt ở vị trí hàng đầu chứ không phải
là việc thu nhận kiến thức chuyên môn” Ông chỉ rõ điều gì làm phương hại đến mục tiêu trên Đối với nền giáo dục thực thụ thì việc phát triển tư duy độc lập và óc phê phán trong học sinh là một vấn đề cốt tử Tuy nhiên điều này đang bị băng hoại mạnh mẽ do học sinh chịu quá tải vì phải học rất nhiều và phải học nhiều bộ môn khác nhau Sự quá tải này chắc chắn sẽ dẫn đến tính
hời hợt trong học tập” Việc dạy học phải làm sao để những điều giảng dạy
được học sinh tiếp nhận như một món quà tặng có giá trị chứ không phải là một nhiệm vụ nặng nề” Khi đã biết suy nghĩ, làm việc một cách độc lập và nắm được cơ sở của lĩnh vực mình hoạt động, chắc chắn con người sẽ tìm được con người cho mình Anh ta sẽ thích nghi tốt hơn với những đổi thay và tiến bộ so với một người mà việc đào tạo chỉ bao gồm trong việc tiếp thu kiến thức chi tiết
Trong thế giới đang biến đổi quá nhanh ngày nay, bên cạnh nhiều vấn
đề đòi hỏi cách tiếp cận mới, nhiều giá trị cần được nhìn nhận lại, dường như vẫn có những điều trường tồn với thời gian Một trong số đó là mục đích tối thượng của giáo dục: tạo ra những con người tìm được ý nghĩa của cuộc đời
và biết cách chung sống hòa bình Mục đích tối thượng này đã được thể hiện
hết sức sâu sắc qua những qua những gì mà Einstein trình bày trong cuộc bàn
luận về giáo dục Và tư tưởng giáo dục của Einstein đã được E Morin ghi
nhận, trân trọng và tiếp thu
Tư tưởng của Humboldt, J Dewey, Einstein đã có ảnh hưởng nhất định đối với E.Morin về việc con người hãy tự mình học và làm ngay từ thực tế cuộc sống Những nội dung về giáo dục mà họ đề cập đến có mục đích là để
Trang 28giúp con người biết chế ngự cuộc sống, hiểu cuộc sống mà đúc rút kinh nghiệm để sống thành người Một nền giáo dục áp đặt từ bên ngoài, không tự nguyện, không sát thực tế cuộc sống với từng người, từng cộng đồng, thì không thể thành công Ngược lại, giáo dục sẽ thành công nếu hiểu được con người, cuộc sống thực tiễn, thì nền giáo dục ấy sẽ đạt được mục đích tích cực của nó: Giáo dục con người, vì con người, vì hạnh phúc con người
Kế tục truyền thống duy lý của triết học Pháp và triết học Tây Âu, Edgar Morin đã có những suy tư về nền tảng cơ bản cho giáo dục Trong đó, ông thấy “cần phải đặt lại thành vấn đề tất cả những gì chúng ta coi là hiển nhiên và phải xem xét lại tất cả những gì làm cơ sở cho những chân lý của chúng ta”
Kỷ nguyên tri thức đã bắt đầu với sự phát triển vũ bão của khoa học công nghệ và loài người đang tiến tới các xã hội tri thức Vì vậy tự tra vấn lại tri thức của chúng ta là một nhu cầu sống còn để tồn tại và phát triển
1.3 Tiền đề về khoa học tự nhiên
Đây có thể nói là một trong những tiền đề ảnh hưởng lớn đến việc hình thành tư tưởng triết học của Morin nói chung, tư tưởng của ông về giáo dục nói riêng
Cuối thế kỷ XIX, ở châu Âu nhất là ở nước Pháp đã xảy ra những biến động chưa từng thấy trong đó khoa học tưởng chừng phẳng lặng bỗng nhiên cũng nổi sóng khủng hoảng Nhưng cuộc khủng hoảng này cũng đã bắt đầu
mở ra một nền văn minh mới, một bằng chứng rực rỡ về sức sống của khoa học Chưa có thời kỳ nào có nhiều biến động như thời kỳ cuối thế kỷ XIX ở châu Âu nhất là ở Pháp mà lại có một áp lực của các nhà khoa học to lớn như thế Hơn bao giờ hết khoa học có tính quyết định đối với toàn bộ hoạt động của con người Số nhà khoa học ở thời kỳ này có thể nhiều hơn toàn thể các nhà khoa học trong lịch sử cộng lại
Trang 29Trong khoa học, vào cuối thế kỷ XIX hình ảnh về tự nhiên đã gây nên những nghi ngờ Trước hết, trong vật lý học: Chủ nghĩa quyết định dưới hình thức Laplace (Có thể tính toán được sự tiến hóa của thế giới bằng quy luật Các nguyên tắc và các lý thuyết của vật lý học đều được thừa nhận tuyệt đối Con người chỉ còn một việc là phải hành động không cách nào tránh khỏi theo các quy luật đó) đã hoàn toàn trở thành không bền vững
Trong toán học, có những khám phá lớn như: Hình học phi – Eculide
và lý thuyết tập hợp Nó chứng tỏ rằng những gì trước đây người ta coi như là tiền đề đơn giản nhất của toán học thì giờ đây chúng trở thành không còn chắc chắn nữa Những khám phá toán học hướng sự quan tâm của con người vào phân tích tính chính xác các khái niệm có vẻ đơn giản tới sự kiến thiết định đề của các hệ thống
Trong khoảng chưa đầy 30 năm đầu của thế kỷ XX, khoa học đã được chứng kiến chấn động lớn: Năm 1905 và 1915, Einstein công bố thuyết tương đối Năm 1926, những công trình hoàn chỉnh đầu tiên của cơ học lượng tử ra đời, với một số nguyên lý cơ bản, được coi là mở ra một con đường mới, làm biến đổi hình ảnh vũ trụ vốn có ở con người, một cuộc biến đổi còn triệt để hơn
cả sự biến đổi mà các cuộc cách mạng Copernic đã tạo ra, đặc biệt vang dội là nguyên lý bất định do nhà vật lý người Đức W Heisenberg trình bày trong năm
1927, cùng dịp với đại hội Copenhague, đánh dấu sự thành lập chính thức Lý thuyết lượng tử Bốn năm sau, năm 1931, nhà toán học người Áo Kurt Godel công bố một định lý làm chấn động thế giới toán học, được đánh giá là kỳ lạ nhất và cũng bí hiểm nhất trong toán học Định lý có nội dung như sau: Đối với các hệ thống toán học hình thức hóa với một tiền đề đủ mạnh, thì, một là, hệ thống đó không thể vừa là nhất quán, vừa là đầy đủ, hai là, tính nhất quán của
hệ tiền đề không thể được chứng minh trong trong hệ thống đó
Những biến đổi cách mạng tư duy trong vật lý học hiện đại xuất phát từ
sự thật rằng, không thể hy vọng đứng bên trong thế giới duy lý mà biết hết
Trang 30mọi thứ Thế giới tự nhiên quả thực có nhiều thứ lạ lùng hơn mọi điều mà trí tuệ duy lý của chúng ta có thể nắm bắt được
Ta có thể hiểu rằng bất cứ một lý thuyết nào mà con người xây dựng nên, đều chỉ phản ánh một tình huống nhất định của nhận thức Từ bên trong một tình huống, không thể hiểu hết mọi chuyện trong tình huống đó, chỉ khi đứng ngoài tình huống đó thì may ra mới đạt tới một bức tranh sâu rộng hơn
để có thể nhận ra toàn bộ mối quan hệ tạo nên cấu trúc bên trong của nó
Nhiều nhà khoa học, kể cả các nhà vật lý, đã nhận rõ là cần vượt ra ngoài biên giới của mọi quy giản về tư duy duy lý để có thể nhận thức đầy đủ hơn về thế giới, mà trí tuệ không bao giờ có thể thấu hiểu hoàn toàn
Những biến chuyển trong khoa học thúc đẩy một cuộc cách mạng tư duy về phương pháp luận khoa học, nó còn nảy sinh một vấn đề: nhiều thế hệ các nhà khoa học mải mê trên con đường đi sâu mãi vào lòng vật chất của thế giới, bằng tư duy quy giản, cắt vụn hiện thực, rồi xem cái mẩu được cắt ra đó
là chính hiện thực Và chính nó đã gây ra một ảo tưởng, rằng ngày nay mọi vấn đề của khoa học đời thường đều đã được giải quyết Ảo tưởng đó đã trở thành niềm tin xác tín mang tính thần lực
Trong lúc cuộc cách mạng tư duy cuốn hút trí tuệ thời đại trên con đường tiếp cận chân lý của hiện thực bằng chiến lược, hệ thống thì triết học giáo dục lại đi theo một tiến trình ngược lại: sự chia nhỏ, manh mún gọi là chuyên sâu, sự phân ban, lao sâu vào những cuộc thử nghiệm chuyên biệt, ngay tại cấp học gọi là phổ thông, với ý tưởng đi tìm đỉnh cao tri thức Ở đây đối tượng của giáo dục là con người để làm người, như một tổng thể của hiện thực đã bị biến mất
Với những thành tựu về khoa học đã đưa nó vững vàng tiến vào thời hiện đại Thể hiện những đặc trưng vượt trội và sự khác biệt so với khoa học
cổ điển Điều này cũng làm ảnh hưởng đến triết học và giáo dục Nó đòi hỏi
Trang 31triết học, giáo dục cần phải thay đổi hình thức của mình Tạo điều kiện để thay đổi nội dung, phương pháp, cách thức tổ chức trong giáo dục
Edgar Morin đã đặt giáo dục trước những vấn đề thách thức của một thế giới toàn cầu hóa, mà sự hội nhập của các quốc gia dân tộc là một tất yếu Nền giáo dục kiến tạo những tri thức và thông tin bị băm vụn dần trở thành những giáo điều ngấm vào nhận thức của hôm nay Ông đang nói đến việc học tập thân phận con người trong một thế giới biến đổi chưa từng có như ngày hôm nay
1.4 Edgar Morin và tác phẩm “Bảy tri thức tất yếu cho nền giáo dục tương lai”
Edgar Morin là nhà triết học, nhà xã hội học và nhân học người Pháp Ông được xem là một trong những nhà tư tưởng hàng đầu của nước Pháp đương đại
Edgar Morin tên thật là Edgar Nahoum, sinh ngày 8 tháng 7 năm 1921 tại thủ đô Paris Ông là con trai duy nhất trong một gia đình gốc Do Thái
Năm 1931, khi Edgar Morin 10 tuổi mẹ ông là bà Luna Beressi qua đời
vì bệnh tim Sự mất mát này có tác động lớn đến ấu thơ của Edgar Morin Ông đã tìm đến những cuốn sách và coi đó là niềm vui thích của mình Những cuốn sách với chủ đề đa dạng ấy đã trở thành một phần tuổi thơ của E.Morin
Năm 1938, Edgar Morin gia nhập phong trào sinh viên Năm 20 tuổi, ông tham gia kháng chiến chống Đức quốc xã khi chúng vừa xâm chiếm nước Pháp
Tháng 7 năm 1940 ông sang Toulouse hoạt động trong hiệp hội sinh viên chăm sóc người tị nạn Trong thời gian này E Morin cũng thường xuyên lui tới các thư viện công cộng tìm đọc sách tích lũy vốn hiểu biết Tháng 8 năm 1944, ông có mặt trong đoàn quân tiến vào giải phóng Paris Lúc này ông
đã đổi tên của mình thành Morin và hoạt động ở trung tâm kháng chiến Pháp Năm 1946, ông là người đứng đầu bộ phận tuyên truyền của chính quyền
Trang 32quân sự Pháp Vào thời điểm đó ông đã viết cuốn sách đầu tiên của mình
“L’an Zero de I’Allemagne” (Năm số không ở Đức)
Hoạt động trí tuệ của Edgar Morin sôi nổi và bền bỉ hiếm có, nhất là giờ đây ông đã hơn 90 tuổi Ông là Nghiên cứu viên (từ năm 1950), giám đốc Nghiên cứu (từ năm 1970 đến 1993) và Giám đốc nghiên cứu danh dự (từ năm 1993 đến nay) tại trung tâm Quốc gia Nghiên cứu Khoa học (CNRS)
Năm 1957 ông cùng với J.P Sartre sáng lập tạp chí Arguments và là tổng biên tập tạp chí này (1957 - 1963) Ông là Giám đốc trung tâm nghiên cứu xuyên ngành (Centre d’études transdisciplinaires – CETSA) (xã hội học, nhân học, chính trị học) thuộc Trường Cao học Khoa học xã hội (EHESS) và Chủ tịch Hiệp hội Tư duy phức hợp (APC)
Năm 2001, ông là chủ tịch của cơ quan châu Âu về văn hóa Trên cương vị mới, ông đã làm việc và cống hiến hết sức mình
Edgar Morin có uy tín quốc tế rất cao, được tôn vinh là tiến sĩ danh dự tại 20 trường đại học trên thế giới Tác phẩm của ông được dịch ra 27 thứ tiếng ở 42 quốc gia, có ảnh hưởng mạnh đến tư duy của thời đại chúng ta, nhất là ở Địa Trung Hải, Mỹ Latinh, Hàn Quốc, Nhật Bản…
Có được ảnh hưởng sâu xa đó chính là nhờ những phẩm chất trí tuệ và tài năng sáng tạo tuyệt vời của Edgar Morin – “Người cha đẻ của tư duy phức hợp, nhà cải cách lý trí con người và người công dân xuất sắc của Trái đất –
Tổ quốc chung” như lời ông Tổng giám đốc UNESCO Koichiro Matsuura trong buổi lễ tôn vinh Edgar Morin nhân dịp ông 80 tuổi
Nói đến Edgar Morin là nói đến tư duy phức hợp và Hiệp hội mà ông đứng đầu (APC) Ông còn được mệnh danh là “nhà tư tưởng về phức hợp” (Penseur de la complexxité) Ông đã dày công nghiên cứu tư duy phức hợp trong nhiều tác phẩm, đặc biệt trong bộ Phương pháp (La Méthode, gồm 6 tập lần lượt được xuất bản trong thời gian gần 30 năm (1977 - 2004), đến tháng 3/2008 tập hợp lại thành hai tập, mỗi tập 1216 trang) và trong cuốn Nhập môn
Trang 33tư duy phức hợp (Introduction à la pensée complexe – 1990, 2005) Cùng với việc vạch rõ tình trạng bất cập trong các nguyên tắc của khoa học cổ điển và phương pháp tư duy cổ điển, ông đã nêu lên những nguyên tắc của tư duy phức hợp và chuẩn thức mới, chuẩn thức phức hợp (paradigm de complexité) chi phối sự phát triển của khoa học và tư duy hiện đại
Phức hợp chính là mối dây ràng buộc giữa cái có tính thống nhất với cái có tính đa dạng, giữa trật tự với hỗn độn, tất yếu với ngẫu nhiên Do vậy cái phức hợp cũng nhất thiết mang tính bất định (incertitude) Sự nắm vững được tính phức hợp dẫn dắt khoa học hiện đại tới chỗ thừa nhận bản thân mình chưa hoàn thiện và cũng qua đó tự mở rộng con đường tiến vào những nơi mà khoa học cổ điển coi như cao xa, hoặc loại ra khỏi lĩnh vực lý trí: bất định, hỗn độn, phi tuyến… Tư duy phức hợp không phải chỉ là một suy tư lý thuyết Nó đề xuất một yêu cầu, một đạo lý, một chương trình hành động thực tiễn
Sự hình thành và phát triển tư duy phức hợp không thể tách rời việc cải cách tư duy, cải cách lý trí con người Theo E Morin, cải cách tư duy là cuộc cải cách về chuẩn thức (hệ chuẩn, khuôn mẫu, phạm thức) chứ không phải là cuộc cải cách chương trình
Trong những công trình nghiên cứu về trái đất và nhân loại, Edgar Morin thể hiện một nhãn quan rộng lớn, bao trùm Theo ông mỗi người chúng
ta phải học cách tồn tại, sinh sống, chia sẻ, giao lưu và hiệp thông nhau với tư cách những con người trên hành tinh trái đất
Ông tích cực dấn thân trong những cuộc chiến vì công bằng và dân chủ Thời trẻ ông đã cầm vũ khí chống bọn Quốc xã Tiếp đó bằng các phương pháp ôn hòa, ông đã đấu tranh chống lại mọi diện mạo của tha hóa, dù là chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa phân biệt chủng tộc, hay nạn trấn áp bức hại, ruồng
bỏ con người Ông là một tấm gương cao đẹp về tinh thần nhân đạo toàn hành tinh ở thế kỷ XXI
Trang 34Với danh tiếng của mình, Bộ giáo dục Quốc gia nước Cộng hòa Pháp
đã mời Edgar Morin tham gia Hội đồng khoa học và chủ trì “Những ngày hội thảo chuyên đề” bàn về một trong những vấn đề hệ trọng của giáo dục, cần có
sự tư vấn toàn quốc: “Nên giảng dạy những tri thức gì ở các trường trung học?” Bản thân E Morin một người rất quan tâm đến vấn đề giáo dục đã chủ trương phát triển tư duy phức hợp, cải cách tư duy, cải cách giáo dục để trả lời cho những thách đố của thế kỉ XXI
Trong 51 tác phẩm mà ông đã xuất bản trong 60 năm từ 1946 đến 2005, nhiều cuốn sách quý đã được dịch và xuất bản bằng tiếng Việt Những cuốn sách này đã tạo được sự chú ý đối với các nhà nghiên cứu khoa học nói riêng người đọc tìm kiếm tri thức mới lạ nói chung
Năm 1999, Edgar Morin đã cho xuất bản liên tiếp ba cuốn sách về giáo dục: Bộ óc được rèn luyện tốt – tư duy về cải cách, cải cách tư duy; Liên kết tri thức Thách đố của thế kỷ XXI; Bảy tri thức tất yếu cho nền giáo dục tương lai Ba cuốn sách này thể hiện rõ quan niệm của Edgar Morin về giáo dục, sự suy tư của ông về những vấn đề của nền giáo dục ở thế kỷ XXI Trong các cuốn sách này, tác giả đã làm nổi bật những nội dung cốt yếu của triết học giáo dục: mục tiêu của giáo dục, vì sao “bộ óc được rèn luyện tốt” phải là mục tiêu cuối cùng của giáo dục, nội dung chính của cải cách giáo dục là gì,
vì sao muốn cải cách giáo dục nhất thiết phải cải cách tư duy, nền giáo dục tương lai cần phải trang bị cho con người tri thức thiết yếu gì?
Có thể nói, sự nghiệp của Edgar Morin vô cùng to lớn, và trong phạm
vi của luận văn chỉ đi vào trình bày cụ thể một số nội dung về tư tưởng giáo dục của ông qua đó chỉ ra được những giá trị mà giáo dục nước nhà có thể học hỏi, áp dụng
Đối với “Bảy tri thức tất yếu cho nền giáo dục tương lai” đây là tác phẩm được xuất bản năm 1999 là tập cuối trong “Bộ ba sư phạm” thể hiện một cách đầy đủ và có hệ thống tư tưởng của E.Morin
Trang 35Kết cấu của tác phẩm gồm có 7 chương:
Chương 1: Sự đui mù của nhận thức: Sai lầm và ảo tưởng
Chương 2: Những nguyên tắc để có một nhận thức thích đáng
Chương 3: Giảng dạy về hoàn cảnh con người
Chương 4: Giảng dạy căn cước địa cầu
Chương 5: Đương đầu với những bất xác định
Chương 6: Giảng dạy sự thông cảm
Chương 7: Đạo lý của nhân loại
Ngay ở phần đầu cuốn sách Morin đã nói: “Cuốn sách này triển khai những đề tài đã được trình bày trong: Bộ óc được rèn luyện tốt – tư duy về cải cách, cải cách tư duy; Liên kết tri thức Thách đố của thế kỷ XXI… Những chủ đề này tự bản thân chúng đã cho phép kết nạp tất cả các bộ môn hiện có
và thúc đẩy sự triển khai một tri thức với khả năng đáp ứng những thách thức của cuộc sống cá nhân, văn hóa và xã hội chúng ta [35, tr 9]
Cuốn sách này cũng không bàn về toàn bộ những môn đang được dạy hoặc lẽ ra phải được dạy: nó chủ yếu trình bày bảy vấn đề cơ bản, những vấn
đề này càng cần phải được giảng dạy hơn vì chúng hoàn toàn không được biết đến hoặc bị lãng quên Điều mà nó đem lại là làm nổi bật và rõ ràng nền tảng của giáo dục trước những thách thức của thế kỷ mới
Ông nói về vấn đề chính trong lĩnh vực giáo dục, cảnh báo về sự mù quáng lớn của thời đại chúng ta và nhấn mạnh vai trò và trách nhiệm của giáo dục, của các trường học trong việc thiết lập nên một nền tảng vững chắc mà
từ đó có thể đương đầu với những thách đố của thời đại mới Cần phải dạy các phương pháp nắm bắt các mối liên hệ lẫn nhau và ảnh hưởng lẫn nhau giữa các bộ phận và toàn bộ thế giới phức tạp này Cần phát triển một tư duy
có khả năng giải quyết các vấn đề toàn cầu
Việc giảng dạy hoàn cảnh con người là mục đích quan trọng của bất kỳ
hệ thống giáo dục nào Thế hệ mới cần phải biết sự đa dạng và thống nhất của
Trang 36con người E Morin cho rằng chúng ta phải đổi phó với sự không chắc chắn, những bất xác định đã được bộc lộ trong thời gian qua, thông qua nhiệt động lực học, vũ trụ học, sinh học tiến hóa, khoa học thần kinh, khoa học lịch sử và khoa học thông tin Giáo dục là phải học tập, học tập để có hướng vượt qua
sự bất xác định ấy Tri thức rất quan trọng, con người muốn có nó một cách đúng đắn thì cần đến giáo dục Và giáo dục cần thiết phải có một cuộc cải cách đổi mới, ở đây E Morin muốn nói đến việc cải cách tư duy
Trong cuộc đời mình, Edgar Morin rất quan tâm đến giáo dục, ông đã vận dụng triết học vào đời sống, lấy giáo dục để kiểm tra tính đúng đắn của tư tưởng triết học của mình Sự ra đời của tác phẩm “Bảy tri thức cho nền giáo dục tương lai” bàn về giáo dục vì thế mang đậm màu sắc của tác giả không lẫn với những nhà tư tưởng khác
Tiểu kết chương 1: Tư tưởng giáo dục của Edgar Morin được hình
thành trên cơ cở thực tiễn là điều kiện kinh tế, xã hội nước Pháp thế kỷ XX Nước Pháp đã trải qua cuộc khủng hoảng về chính trị và văn hóa lớn đặt ra yêu cầu phải cải cách, canh tân đất nước về mọi mặt trong đó có lĩnh vực giáo dục Đồng thời cuộc cách mạng về khoa học kỹ thuật cùng với việc chịu ảnh hưởng của các nhà tư tưởng trước đó đã giúp Edgar Morin bắt đầu hình thành
và phát triển quan điểm về giáo dục của mình Sau khi đã hiểu những điều kiện, tiền đề hình thành tư tưởng giáo dục của E Morin cùng với sự nghiệp của ông, sẽ giúp chúng ta dễ dàng hình dung và hiểu một cách xác đáng những nội dung giáo dục của Edgar Morin được đề cập đến trong tác phẩm của ông
Trang 37CHƯƠNG 2 NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA TƯ TƯỞNG GIÁO DỤC EDGAR MORIN TRONG TÁC PHẨM “BẢY TRI THỨC TẤT YẾU CHO NỀN GIÁO
DỤC TƯƠNG LAI”
2.1 Tính cấp thiết cải cách giáo dục
Ngay từ đầu chương hai, Edgar Morin đã viết: “Nhận thức những vấn
đề then chốt của thế giới, dù là một việc bấp bênh và thật khó khăn, phải được tính đến, nếu không nhận thức sẽ trở nên què quặt Thời đại toàn cầu đòi hỏi phải định vị tất cả vào trong bối cảnh và tổ hợp toàn cầu Nhận thức về thế giới như là một thế giới đã trở thành một sự cần thiết vừa mang tính tri thức vừa mang tính sống còn Đó là vấn đề chung đối với tất cả mọi người trong thế kỷ mới: Làm sao để thâm nhập được các thông tin về thế giới và làm sao
để có được khả năng sắp đặt và tổ chức chúng? Làm sao cảm nhận và chiêm nghiệm được cái bối cảnh, cái toàn bộ (liên quan giữa tất cả/thành phần), cái
đa chiều, cái phức hợp? Để sắp xếp và tổ chức các tri thức và từ đó nhận diện
và ý thức được những vấn đề của thế giới, cần phải làm một cuộc cải cách tư duy.”[35, tr 43]
Toàn bộ sự trình bày và diễn giải của ông nhằm dẫn dắt chúng ta đến một điều Đó chính là “một cuộc cải cách tư duy” Công việc này không ai khác thuộc về giáo dục, đó là vấn đề nền tảng của giáo dục vì nó liên quan đến khả năng của con người trong việc tổ chức nhận thức
Edgar Morin chỉ ra giáo dục đang đứng trước những thách thức, trong đó:
2.1.1 Thách thức mang tính toàn cầu
Thách thức có tính toàn cầu được hiểu là tình trạng không tương thích ngày càng thêm sâu rộng giữa một bên là tri thức tách biệt thành các bộ phận rời rạc và khu biệt riêng rẽ trong các bộ môn, với bên kia là các thực tại đa chiều, tổng thể , siêu quốc gia, toàn hành tinh và các vấn đề ngày càng thêm dàn rộng, đa ngành, xuyên ngành Ông viết: “Quả thực, có bất tương thích
Trang 38càng lúc càng lớn, càng sâu, càng trầm trọng giữa một mặt là những tri thức rời rạc, manh mún, khu biệt và mặt khác là những thực tế hay vấn đề càng ngày càng trở nên đa ngành, liên ngành, đa chiều, đa quốc gia, toàn bộ, toàn cầu” [35, tr 44]
Trong sự không tương thích ấy Edgar Morin cho rằng có những thứ sẽ trở thành vô hình như bối cảnh, toàn bộ, đa chiều, phức hợp… và nhiệm vụ của giáo dục trong thời đại mới là phải làm cho những thứ có nguy cơ vô hình
ấy “trở thành hiển nhiên”
Theo Morin, nhận thức được những thông tin hay dữ liệu riêng rẽ vẫn chưa đủ, những thông tin hay dữ liệu ấy đều có bối cảnh của nó Nhờ có bối cảnh mà nó mới có ý nghĩa Ông đưa ra một ví dụ đó là “từ “tình yêu” sẽ thay đổi nghĩa tùy theo bối cảnh tôn giáo hoặc thế tục, một sự tỏ tình không có cùng một ý nghĩa chân lý nếu nó đến từ miệng của kẻ quyến rũ hay của kẻ của
bị quyến rũ” [35, tr 45]
Còn cái toàn bộ là tổng thể chứa tất cả các bộ phận khác nhau có tương quan về mặt tổ chức hoặc hỗ tương “Giống như xã hội là cái toàn bộ có chức năng tổ chức mà chúng ta là thành phần Trái đất là cái toàn bộ mà chúng ta là thành phần Cái toàn bộ có những tính chất hoặc thuộc tính không có trong thành phần nếu các thành phần này tách riêng ra khỏi nhau, và một vài tính chất hoặc thuộc tính của những thành phần cũng có thể bị ức chế bởi những hạn chế đến từ toàn bộ” [35, tr.45]
Edgar Morin quan niệm con người hay xã hội như những đơn vị phức hợp đều có nhiều kích thước vì vậy “con người cùng một lúc là sinh vật, tâm
lý, xã hội, tình cảm, lý tính Xã hội mang trong nó những kích thước lịch sử, kinh tế, xã hội học, tôn giáo…” [35, tr 47] Và chúng ta cần phải chấp nhận tính đa chiều này
Nhận thức hiện nay phải đương đầu với tính phức hợp: “Các yếu tố không thể tách rời tạo thành cái toàn bộ và có kết cấu phụ thuộc lẫn nhau,
Trang 39tương tác, phản ứng tương hỗ giữa đối tượng nhận thức và bối cảnh của nó, giữa những thành phần và cái toàn bộ, giữa toàn bộ và thành phần, giữa những thành phần với nhau Do đó sự phức hợp chính là mối dây ràng buộc giữa cái có tính thống nhất và cái có tính đa dạng Với những phát triển đặc biệt của thời đại toàn cầu chúng ta ngày càng phải thường xuyên và tất yếu đối mặt với những thách thức của tính phức hợp” [35, tr 48]
Edgar Morin khẳng định đã có nhiều tiến bộ về tri thức trong khuôn khổ những chuyên ngành vào thế kỷ XX Tuy nhiên những tiến bộ đó của tri thức lại gây trở ngại cho nhận thức vì sự chuyên môn hóa nó đã làm vỡ những
“bối cảnh”, cái “toàn bộ” Tác giả Morin cho rằng biết bao chướng ngại vật đã chồng chất và ngăn cản sự thực thi của nhận thức thích đáng ngay giữa những
hệ thống giáo dục của chúng ta Điều này làm cho giữa nhân tính và các khoa học có một sự cách ly
Trong các môn khoa học, việc phân chia ra những chuyên ngành đã trở thành siêu chuyên môn hóa, co cụm lại vào chính bản thân chúng Tri thức tách biệt thành các bộ phận riêng rẽ, cái toàn thể bị phá vỡ Con người trở nên rời rạc: “Kích thước sinh vật bao gồm cả não bộ của con người “bị nhốt” vào những phân khoa sinh học; những kích thước tâm lý của nó rồi xã hội, tôn giáo, kinh tế đều bị để riêng và phân cách cái này khỏi cái kia trong những phân khoa của khoa học nhân văn; những tính chất chủ quan, hiện sinh, thi vị của nó bị xếp vào trong những phân khoa văn học, thơ ca Đến lượt triết học, bản chất vốn là suy ngẫm về tất cả các vấn đề con người lại trở thành một lĩnh vực đóng kín vào chính nó Những vấn đề cơ bản và những vấn đề tổng thể bị
sơ tán ra khỏi những khoa học chuyên ngành Chúng chỉ còn được lưu lại trong triết học, nhưng đã không còn được nuôi dưỡng bởi những đóng góp của các bộ môn khoa học nữa”.[ 35, tr 50]
Trong điều kiện đó, trí tuệ được đào tạo bởi những ngành chuyên môn
sẽ mất khả năng tự nhiên để xếp đặt những tri thức vào bối cảnh của chúng,
Trang 40cũng như để làm cho chúng hòa nhập vào những tổng thể tự nhiên Sự suy yếu của tri giác về cái toàn bộ đưa đến sự suy giảm trách nhiệm (mỗi người
có khuynh hướng chỉ chịu trách nhiệm về nhiệm vụ chuyên môn của mình), cũng như đưa đến sự suy giảm tính liên đới (mỗi người không còn cảm thấy sợi dây liên hệ giữa mình với đồng bào mình nữa)
Sự chuyên môn hóa quá mức ngăn cản không cho ta thấy được cái toàn bộ (mà nó làm vỡ ra thành từng mảnh vụn), cũng như cái cốt yếu Nó còn ngăn không cho phép xử lý một cách đúng đắn những vấn đề đặc biệt vốn chỉ được đặt ra và suy nghĩ đến trong bối cảnh của chúng… Thế nhưng theo như E Morin “những vấn đề chủ yếu thì không bao giờ là những mảnh vụn và những vấn đề toàn bộ càng ngày trở nên chủ yếu Trong khi văn hóa chung thôi thúc việc tìm cách đặt vào bối cảnh tất cả thông tin hay ý tưởng thì văn hóa khoa học và kỹ thuật chuyên ngành lại ngăn ra thành từng mảnh tách rời và khu biệt tri thức, làm cho việc đặt nó vào bối cảnh càng trở nên khó khăn.” [35, tr 51]
Cùng lúc đó sự phân chia các chuyên ngành làm cho con người không còn hiểu nổi cái phức hợp
Edgar Morin giải thích rằng nhận thức chuyên môn hóa là một hình thức trừu tượng hóa đặc thù, nó có nghĩa là “rút một đối tượng ra khỏi bối cảnh và tổng thể của nó, bỏ đi những quan hệ và những giao lưu tương hỗ của
nó với môi trường, đưa nó vào trong một khu vực khái niệm trừu tượng vốn của ngành chuyên môn khu biệt mà những biên giới phá vỡ một cách độc đoán tính hệ thống (quan hệ của cái bộ phận với cái toàn bộ) và tính đa chiều của những hiện tượng”[ 35, tr 52] Ông đưa ra ví dụ kinh tế là một môn khoa học xã hội trong đó toán học mạnh nhất lại là môn khoa học lạc hậu nhất về mặt xã hội và nhân văn, bởi vì nó tự bỏ qua những điều kiện xã hội, lịch sử, chính trị, tâm lý, môi sinh vốn không thể tách rời khỏi những hoạt động kinh
tế Vì vậy, các chuyên gia kinh tế càng ngày càng không thể giải mã được