- Quy định các hình thức quản lý chất lượng kiểm toán Các chính sách và thủ tục mà KTNN phải thiết kế và thực hiện thường là: Thứ nhất, kỹ năng và năng lực chuyên môn, gồm các chính sách
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-o0o -
NGUYỄN THỊ THÚY NHÀN
QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG KIỂM TOÁN
CỦA KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG THỰC HÀNH
Hà Nội - 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-o0o -
NGUYỄN THỊ THÚY NHÀN
QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG KIỂM TOÁN
CỦA KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC
Chuyên ngành: Quản lý Kinh tế
Trang 3DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
KTNN BCKT
Kiểm toán Nhà nước Báo cáo kiểm toán BCTC Báo cáo tài chính
DNKT Doanh nghiệp kiểm toán DNNN Doanh nghiệp nhà nước HSKT Hồ sơ kiểm toán
KTĐL Kiểm toán độc lập KTV Kiểm toán viên TCPH Tổ chức phát hành TCTD Tổ chức tín dụng TTCK Thị trường chứng khoán UBCK Ủy ban chứng khoán VACPA Hội kiểm toán viên hành nghề
Việt Nam
Trang 4MỤC LỤC
Trang
1.1 Chất lượng kiểm toán và quản lý chất lượng kiểm toán của Kiểm toán
nhà nước
1.2 Tiêu chí quản lý chất lượng kiểm toán
1.3 Kinh nghiệm quản lý chất lượng kiểm toán của một số nước và bài học
3.1 Khái quát về Kiểm toán nhà nước Việt Nam
3.2 Phân tích thực trạng quản lý chất lượng kiểm toán của Kiểm toán nhà nước
Việt Nam 3.2.1 Về hoạt động lập kế hoạch quản lý chất lượng kiểm toán của Kiểm
3.2.2 Tổ chức thực hiện quản lý chất lượng kiểm toán của Kiểm toán nhà
3.2.3 Hoạt động kiểm tra, giám sát chất lượng kiểm toán của Kiểm toán nhà
3.3 Đánh giá chung thực trạng quản lý chất lượng kiểm toán của Kiểm
LƯỢNG KIỂM TOÁN CỦA KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC VIỆT
4.2 Quan điểm hoàn thiện quản lý chất lượng kiểm toán của kiểm toán ở
4.2.1 Hoàn thiện quản lý chất lượng kiểm toán độc lập đặc biệt là kiểm toán
tham khảo có chọn lọc nội dung các quy định về quản lý chất lượng 66
Trang 5đối với dịch vụ kiểm toán của các nước trong khu vực và trên thế giới 4.3 Một số giải pháp hoàn thiện quản lý chất lượng KT của kiểm toán nhà
4.3.1 Nâng cao chất lượng công tác lập kế hoạch quản lý chất lượng kiểm
4.3.3 Hoàn thiện tổ chức và tăng cường năng lực bộ máy quản lý chất lượng
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Kiểm toán nói chung là hoạt động dịch vụ tư vấn có tính chuyên môn nghề nghiệp cao Kết quả kiểm toán xác nhận độ tin cậy, trung thực của các thông tin được kiểm toán và là cơ sở để đưa ra các kiến nghị, ý kiến tư vấn hoàn thiện công tác quản lý Vì vậy, chất lượng kiểm toán có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, quyết định sự tin cậy của người sử dụng kết quả kiểm toán
Hoạt động của KTNN nhằm cung cấp cho Quốc hội, Chính phủ, các cơ quan nhà nước sự xác nhận, đánh giá về tính trung thực, hợp lý, hợp pháp và hiệu quả kinh tế của các thông tin được kiểm toán, là căn cứ tin cậy để đề ra những quyết sách của Nhà nước Chất lượng kiểm toán có ý nghĩa quyết định trong việc khẳng định vị thế, uy tín và hiệu lực, hiệu quả hoạt động KTNN Do
đó, KTNN phải bảo đảm kết quả kiểm toán đáp ứng yêu cầu chất lượng, đáng tin cậy và đã được quản lý chất lượng đầy đủ, thích hợp Chính vì lẽ đó, quản lý chất lượng kiểm toán được Tổ chức quốc tế các cơ quan Kiểm toán tối cao (INTOSAI) thừa nhận như một định chế bắt buộc và là trách nhiệm được quy định rõ trong chuẩn mực kiểm toán Các cơ quan Kiểm toán Nhà nước của các quốc gia trên thế giới đều coi quản lý chất lượng kiểm toán là hoạt động có tính bắt buộc cần phải được coi trọng
Kiểm toán Nhà nước Việt Nam (KTNN) được thành lập ngày 11/7/1994 theo Nghị định số 70/CP để giúp Thủ tướng Chính phủ thực hiện chức năng kiểm tra, xác nhận tính đúng đắn, hợp pháp của tài liệu và số liệu kế toán, báo cáo quyết toán của cơ quan Nhà nước, các đơn vị sự nghiệp, đơn vị kinh tế nhà nước và các đoàn thể quần chúng, các tổ chức xã hội sử dụng kinh phí do ngân sách nhà nước cấp KTNN thực hiện kiểm toán theo chương trình, kế hoạch kiểm toán hàng năm do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, cung cấp kết quả kiểm toán cho Chính phủ và các cơ quan nhà nước khác theo quy định của Chính phủ
Từ 01/01/2006, hoạt động KTNN tuân theo Luật Kiểm toán nhà nước được Quốc hội khoá XI, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 14/6/2005, Chủ tịch nước ký
Lệnh công bố ngày 24/6/2005 Theo đó, KTNN là cơ quan chuyên môn về lĩnh
Trang 7vực kiểm tra tài chính nhà nước do Quốc hội thành lập, hoạt động độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; có chức năng kiểm toán báo cáo tài chính, kiểm toán tuân thủ, kiểm toán hoạt động đối với cơ quan, tổ chức quản lý, sử dụng ngân sách, tiền và tài sản nhà nước Mục đích hoạt động KTNN nhằm phục vụ việc
kiểm tra, giám sát của Nhà nước trong quản lý, sử dụng ngân sách, tiền và tài sản nhà nước; góp phần thực hành tiết kiệm, chống tham nhũng, thất thoát, lãng phí, phát hiện và ngăn chặn hành vi vi phạm pháp luật; nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách, tiền và tài sản nhà nước Hoạt động KTNN theo nguyên tắc: độc lập, khách quan và chỉ tuân theo pháp luật Tổng KTNN quyết định kế hoạch kiểm toán hàng năm, và báo cáo với Quốc hội, Chính phủ trước khi thực hiện
Từ khi ra đời, đi vào hoạt động, KTNN đã dần khẳng định được vị trí, vai trò quan trọng trong hệ thống các công cụ kiểm tra, quản lý tài chính nhà nước Nâng cao địa vị pháp lý và chất lượng hoạt động của KTNN đã và đang được Đảng, Nhà nước và nhân dân quan tâm Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc
lần thứ IX của Đảng đã ghi rõ: “Nâng cao hiệu lực pháp lý và chất lượng kiểm toán nhà nước như một công cụ mạnh của Nhà nước” Xác định đúng tầm quan
trọng của chất lượng kiểm toán, trong những năm qua KTNN luôn coi trọng việc thiết lập, duy trì và nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý chất lượng kiểm toán Năm 2010, sau 15 năm thành lập, Tổng KTNN đã ký Quyết định số 06/2010/QĐ-KTNN ngày 09/11/2010 ban hành Hệ thống chuẩn mực kiểm toán nhà nước, gồm 21 chuẩn mực, trong đó có chuẩn mực số 08 “Quản lý chất lượng kiểm toán” Hệ thống bộ máy chuyên trách về quản lý chất lượng kiểm toán cũng dần được thiết lập và củng cố, hoàn thiện Từ năm 2014, KTNN đã thành lập 3 đơn vị tham mưu, giúp việc chuyên trách về quản lý chất lượng kiểm toán,
đó là: Vụ Tổng hợp, Vụ Chế độ và Kiểm soát chất lượng kiểm toán, Vụ Pháp chế
Mặc dù đã xây dựng được hệ thống các quy định, chính sách trong quản
lý, quản lý chất lượng kiểm toán, cũng như các đơn vị quản lý chuyên trách; tuy nhiên, quản lý chất lượng kiểm toán của KTNN hiện nay còn những hạn chế, bất
Trang 8cập cả về chính sách và thực tế vận hành, hiệu lực, hiệu quả quản lý chưa cao
Vì vậy, việc nghiên cứu, hoàn thiện quản lý chất lượng kiểm toán của KTNN có
ý nghĩa quan trọng và rất cần thiết đối với KTNN, nhằm tạo cơ sở và nâng cao chất lượng hoạt động quản lý chất lượng kiểm toán, góp phần tăng cường hiệu lực, hiệu quả kiểm toán nhà nước
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu nhằm thực hiện các mục đích sau:
- Nghiên cứu, làm rõ cơ sở lý luận về quản lý chất lượng kiểm toán của KTNN; kinh nghiệm về quản lý chất lượng kiểm toán của cơ quan KTNN của một số nước trên thế giới
- Đánh giá thực trạng về quản lý chất lượng kiểm toán của KTNN Việt Nam, chỉ rõ những kết quả đạt được, xác định những hạn chế, bất cập cần bổ sung, hoàn thiện và nguyên nhân của những hạn chế, bất cập
- Đề xuất quan điểm, giải pháp hoàn thiện quản lý chất lượng kiểm toán KTNN Việt Nam
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Luận văn tập trung đi sâu nghiên cứu những vấn
đề liên quan đến quản lý chất lượng kiểm toán của KTNN Việt Nam
- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn giới hạn việc nghiên cứu trong phạm vi
quản lý chất lượng kiểm toán trong lĩnh vực kiểm toán báo cáo tài chính do KTNN Việt Nam thực hiện
Thời kỳ nghiên cứu để đánh giá thực trạng quản lý chất lượng kiểm toán
là từ khi KTNN Việt Nam được thành lập và đi vào hoạt động (1994), trong đó tập trung nghiên cứu giai đoạn 2010 - 2014
4.Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được chia làm 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận và kinh nghiệm quốc tế về quản lý chất lượng kiểm toán của Kiểm toán Nhà nước
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
Trang 9- Chương 3: Thực trạng quản lý chất lượng kiểm toán của Kiểm toán Nhà nước Việt Nam
- Chương 4: Quan điểm và giải pháp hoàn thiện quản lý chất lượng kiểm toán của Kiểm toán Nhà nước Việt Nam
Trang 10quan điểm khác nhau.Tùy từng lĩnh vực khác nhau lại có những cách hiểu khác nhau về chất lượng Sau chiến tranh thế giới lần thứ 2, thế giới bước vào khôi phục kinh tế và thời điểm đó quan niệm chất lượng là “sự phù hợp với lợi ích”
hay “sự phù hợp với mục đích”. Tuy nhiên, không có một tiêu chí cụ thể nào chỉ
ra các thông số đo lường về việc thế nào là “sự phù hợp” Với những nghiên cứu sau đó, các tài tiệu chỉ ra quan điểm chất lượng có liên quan mật thiết tới các số liệu thống kê và cho rằng: chất lượng được đo bằng hai tiêu chí chính, đó là tính phù hợp và tính chính xác
1.1.1.2 Chất lượng kiểm toán
Chuẩn mực kiểm toán số 220 “quản lý chất lượng hoạt động kiểm toán” (ban hành theo Quyết định số 28/2003/QĐ-BTC ngày 14/3/2003 của Bộ trưởng
Bộ Tài chính) đã đưa ra khái niệm về chất lượng kiểm toán như sau: “Chất lượng hoạt động kiểm toán là mức độ thoả mãn của các đối tượng sử dụng kết quả kiểm toán về tính khách quan và độ tin cậy vào ý kiến kiểm toán của kiểm toán viên; đồng thời thoả mãn mong muốn của đơn vị được kiểm toán về những
ý kiến đóng góp của kiểm toán viên nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh, trong thời gian định trước với giá phí hợp lý” [3, tr 2]
Qua nghiên cứu “chất lượng” nói chung và “chất lượng hoạt động kiểm toán” nói riêng, có thể đưa ra khái niệm về chất lượng kiểm toán nhà nước như
sau: Chất lượng kiểm toán của KTNN là mức độ thoả mãn của các đối tượng sử dụng kết quả kiểm toán về tính khách quan, trung thực và độ tin cậyvào các kết
Trang 11luận, đánh giá và nhận xét của KTNN, đồng thời thoả mãn về các kiến nghị, giải pháp do KTNN đưa ra, với chi phí hoạt động kiểm toán hợp lý
1.1.2 Quản lý chất lượng kiểm toán
1.1.2.1 Kiểm toán Nhà nước
* Khái niệm kiểm toán
Từ thời Trung cổ, kiểm toán đã được sử dụng để thẩm tra về tính trung thực của các thông tin tài chính Đến những năm 30 của thế kỷ XX, kiểm toán với nghĩa là “kiểm tra độc lập và bày tỏ ý kiến” mới được phát triển ở các nước Bắc Mỹ và Tây Âu
Mặc dù kiểm toán đã xuất hiện từ rất lâu, nhưng đến nay vẫn chưa có sự thống nhất về khái niệm này Có thể khái quát một số cách hiểu chủ yếu về kiểm toán như sau:
Tại Anh, người ta bày tỏ khái niệm kiểm toán như sau: “Kiểm toán là sự kiểm tra độc lập và là sự bày tỏ ý kiến về những bản khai tài chính của một xí nghiệp do một kiểm toán viên được bổ nhiệm để thực hiện những công việc đó theo đúng với bất kỳ nghĩa vụ pháp định có liên quan” [8, tr 34] Theo khái niệm này, kiểm toán là sự kiểm tra độc lập và bày tỏ ý kiến về bản khai tài chính của kiểm toán viên (KTV) theo nghĩa vụ pháp định
Các khái niệm trên đã phản ánh những đặc trưng cơ bản của kiểm toán truyền thống Đó là:
(1) Kiểm toán là sự kiểm tra và bày tỏ ý kiến về bản khai tài chính hoặc các tài khoản của một tổ chức, cơ quan, đơn vị;
(2) Hoạt động kiểm toán được thực hiện bởi những KTV có chuyên môn nghiệp vụ, tiến hành độc lập;
(3) Hoạt động kiểm toán nhằm đánh giá tính trung thực, phù hợp của các thông tin so với những tiêu chuẩn đã được thiết lập;
(4) Thông tin kiểm toán được trình bày theo một hình thức nhất định Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của hoạt động kiểm toán, sự đa dạng của các loại hình kiểm toán, khái niệm kiểm toán đã được mở rộng, vượt ra khỏi khuôn khổ quan niệm truyền thống, đó là: không chỉ kiểm toán đối với các bản
Trang 12khai tài chính, các tài khoản mà còn bao gồm kiểm toán việc tuân thủ pháp luật
và kiểm toán đánh giá tính kinh tế, hiệu lực và hiệu quả trong việc quản lý, sử dụng các nguồn lực của một tổ chức, cơ quan, đơn vị ở một số quốc gia, hoạt động kiểm toán của Kiểm toán Nhà nước (KTNN) còn bao gồm kiểm toán môi trường, kiểm toán nhân sự, kiểm toán trách nhiệm kinh tế v.v Từ đó có thể thấy, đối tượng và nội dung kiểm toán ngày càng phát triển sâu, rộng tuỳ theo yêu cầu quản lý và nhu cầu thông tin được kiểm tra, xác nhận
Ở Việt Nam, thuật ngữ “kiểm toán” mới xuất hiện và được sử dụng vào đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX Vì ra đời muộn hơn so với đa số các nước khác trên thế giới, nên ở Việt Nam kiểm toán nói chung và khái niệm kiểm toán nói riêng đã kế thừa sự phát triển của kiểm toán trên thế giới Dẫu vậy, ở Việt Nam xung quanh khái niệm kiểm toán vẫn có nhiều ý kiến khác nhau
Luật Kiểm toán nhà nước của Việt Nam đưa ra khái niệm về kiểm toán như sau: Hoạt động kiểm toán của Kiểm toán Nhà nước là việc kiểm tra, đánh giá và xác nhận tính đúng đắn, trung thực của báo cáo tài chính; việc tuân thủ pháp luật; tính kinh tế, hiệu lực và hiệu quả trong quản lý, sử dụng ngân sách, tiền và tài sản nhà nước
Từ nghiên cứu sự phát triển của các hoạt động kiểm toán và từ các khái niệm nêu trên, có thể hiểu khái niệm về kiểm toán như sau:
Kiểm toán là việc kiểm tra, đánh giá và xác nhận tính đúng đắn, trung thực của các thông tin; kiểm tra, đánh giá tính tuân thủ pháp luật và tính kinh tế, tính hiệu lực, hiệu quả trong quản lý, sử dụng các nguồn lực do một chủ thể độc lập, có năng lực chuyên môn phù hợp (kiểm toán viên, tổ chức kiểm toán) thực hiện trên cơ sở các quy định nghề nghiệp
1.1.2.2 Khái niệm, nội dung quản lý chất lượng kiểm toán của Kiểm toán Nhà nước
Quản lý chất lượng là các hoạt động và kỹ thuật mang tính tác nghiệp
được sử dụng để đáp ứng các yêu cầu chất lượng."Quản lý được hiểu là tổng hợp những phương sách để nắm lấy và điều hành đối tượng hoặc khách thể quản lý" [8, tr.12] Quản lý có thể theo nhiều chiều: cấp trên quản lý cấp dưới
Trang 13bằng chính sách hoặc biện pháp, đơn vị này quản lý đơn vị khác thông qua việc chi phối về quyền sở hữu và lợi ích; nội bộ trong đơn vị quản lý lẫn nhau qua quy chế, quy định và thủ tục quản lý
Trong hoạt động kiểm toán nhà nước, “quản lý chất lượng là thuật ngữ hàm chứa các chính sách và thủ tục được cơ quan KTNN sử dụng nhằm bảo đảm công việc kiểm toán được thực hiện với chất lượng cao” [57, tr.7] Như
vậy, quản lý chất lượng kiểm toán trong nội bộ cơ quan KTNN là các chính sách, thủ tục điều chỉnh, hướng hoạt động kiểm toán tới chất lượng và hiệu quả; đồng thời gắn liền và thuộc cơ cấu tổ chức, cơ chế hoạt động kiểm toán của
KTNN Do đó, trong hoạt động kiểm toán nhà nước có thể hiểu: “Quản lý chất lượng kiểm toán là thuật ngữ hàm chứa các chính sách và thủ tục được sử dụng
để quản lý, điều hành hoạt động kiểm toán tuân thủ đúng các nguyên tắc, chuẩn mực nghề nghiệp hiện hành và các tiêu chí chất lượng theo quy định của KTNN”
Từ khái niệm trên, quản lý chất lượng kiểm toán có những nội dung sau:
* Lập kế hoạch quản lý chất lƣợng kiểm toán
Để hoạt động quản lý chất lượng kiểm toán đạt kết quả cao, bước đầu tiên
là phải xây dựng được kế hoạch quản lý chi tiết ngay từ đầu mỗi chu kỳ Các vấn đề chính trong xây dựng được kế hoạch quản lý bao gồm:
- Lập chiến lược, kế hoạch hoạt động trung hạn, ngắn hạn và hàng năm của quản lý chất lượng kiểm toán;
- Quy định về lập, xét duyệt, phát hành kế hoạch kiểm toán năm, kế hoạch cuộc kiểm toán, kế hoạch kiểm toán chi tiết, chương trình kiểm toán;
- Kế hoạch tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ
- Xây dựng kế hoạch nhu cầu KTV cho từng đơn vị; Kế hoạch nhân sự kiểm toán phải được cấp có thẩm quyền phê duyệt trước khi thực hiện
* Tổ chức thực hiện quản lý chất lƣợng kiểm toán
Đây là giai đoạn quan trọng trong nội dung quản lý chất lượng kiểm toán, kết quả thực hiện quản lý chất lượng kiểm toán có ảnh hưởng quyết định đến chất lượng kiểm toán Trong giai đoạn này, quản lý chất lượng kiểm toán phải
Trang 14được tiến hành đồng thời, phù hợp theo từng bước công việc và từng thủ tục kiểm toán
Các vấn đề chính cần quản lý chất lượng kiểm toán là:
- Việc xây dựng và thực hiện hệ thống chính sách, thủ tục quản lý chất lượng kiểm toán của KTNN và các KTNN chuyên ngành (khu vực);
- Tổ chức bộ máy và hoạt động của hệ thống bộ máy quản lý chất lượng kiểm toán của KTNN và KTNN chuyên ngành (khu vực)
- Quy định các hình thức quản lý chất lượng kiểm toán
Các chính sách và thủ tục mà KTNN phải thiết kế và thực hiện thường là:
Thứ nhất, kỹ năng và năng lực chuyên môn, gồm các chính sách và thủ
tục chủ yếu sau:
- Tuyển dụng (cơ cấu ngành nghề, yêu cầu trình độ, năng lực);
- Đào tạo chuyên môn (đào tạo theo ngạch, bậc, chức danh, thiết lập chương trình đào tạo, kiểm tra định kỳ, đào tạo chuyên gia );
- Đề bạt (thiết lập tiêu chuẩn từng cấp: Kiểm toán trưởng, Trưởng Đoàn kiểm toán, Phó Trưởng Đoàn kiểm toán, Tổ trưởng; ngạch bậc: KTV dự bị, KTV, KTV chính, KTV cao cấp);
- Khuyến khích phát triển nghề nghiệp;
- Đánh giá kết quả công tác của cán bộ, KTV theo định kỳ
Thứ hai, tuân thủ nguyên tắc nghề nghiệp:
- Quy định cụ thể về các nguyên tắc nghề nghiệp; các ví dụ thực tiễn có liên quan;
- Tổ chức phổ biến, hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện những chính sách
và thủ tục liên quan đến việc tuân thủ các nguyên tắc nghề nghiệp;
- Thiết lập cơ chế quan hệ, thông tin với đơn vị được kiểm toán, với các
cơ quan hữu quan, với công chúng để thu nhận phản hồi về hành vi của KTV
Thứ ba, Giao việc:
- Bố trí nhân lực, phân công nhiệm vụ cho KTV phải phù hợp với số lượng KTV hiện có; quy mô và tính phức tạp của cuộc kiểm toán; trình độ, năng
Trang 15lực, kinh nghiệm, sở trường của KTV; không có xung đột lợi ích hoặc những yếu tố khác có thể cản trở KTV thực hiện nhiệm vụ ;
- Đảm bảo tính liên tục, luân phiên theo định kỳ và đào tạo cán bộ;
- Đảm bảo tính độc lập, như: không phân công những KTV có quan hệ kinh tế hoặc họ hàng với ban lãnh đạo đơn vị được kiểm toán;
Thứ tư, chỉ đạo, hướng dẫn và giám sát:
- Phân cấp trách nhiệm chỉ đạo, hướng dẫn và giám sát;
- Hướng dẫn về quy trình, thủ tục kiểm toán, mẫu biểu hồ sơ kiểm toán;
- Ban hành các sổ tay hướng dẫn, cẩm nang;
- Hướng dẫn kế hoạch kiểm toán và các vấn đề chuyên môn trước khi kiểm toán;
- Thực hiện giám sát ở mọi cấp; thủ tục bảo lưu ý kiến, giải quyết ý kiến bảo lưu của KTV;
- Khuyến khích trao đổi kinh nghiệm, kiến thức và kỹ năng trong các đơn
vị, đoàn, tổ kiểm toán
Thứ năm, tham khảo ý kiến chuyên gia:
- Quy định về những lĩnh vực, tình huống, trình tự, thủ tục tham khảo ý kiến tư vấn của chuyên gia hoặc người có thẩm quyền, hội đồng tư vấn;
- Phân công cán bộ theo dõi, cập nhật kiến thức, thông tin về từng ngành, nghề;
- Lưu trữ tài liệu về kết quả tham khảo ý kiến chuyên gia;
- Hội thảo chuyên môn có sự tham gia của các chuyên gia
Thứ sáu, Bồi dưỡng kiến thức cho KTV:
- Bồi dưỡng, cập nhật thường xuyên về kiến thức, các chính sách, chế độ cho KTV;
- Giao trách nhiệm bồi dưỡng kiến thức cho một bộ phận;
- Tập huấn, phổ biến những văn bản chế độ, chính sách mới, đặc thù liên quan đến cuộc kiểm toán
Thứ bảy, Sử dụng tài liệu của KTV khác:
- Quy định về các trường hợp và trách nhiệm khi sử dụng tài liệu, kết quả
Trang 16làm việc của cơ quan thanh tra, kiểm tra, kiểm toán khác;
- Lưu trữ tài liệu tham khảo của cơ quan thanh tra, kiểm tra, kiểm toán khác
Thứ tám, Tài liệu hoá công việc và lưu trữ:
- Chuẩn hoá và mẫu biểu hoá các tài liệu liên quan
- Quy định về tài liệu lưu trữ
Các hình thức quản lý chất lượng kiểm toán gồm
Phân loại theo chủ thể quản lý: Theo chủ thể quản lý, có quản lý từ bên
trong và quản lý từ bên ngoài
+ Quản lý từ bên trong là hình thức tự quản lý chất lượng kiểm toán do chủ thể của hoạt động kiểm toán (đơn vị kiểm toán: KTNN chuyên ngành và KTNN khu vực; đơn vị lập báo cáo kiểm toán năm ) thực hiện Việc quản lý chất lượng kiểm toán là trách nhiệm mà các đơn vị này phải thực hiện để bảo đảm hoạt động kiểm toán được tiến hành đúng theo các nguyên tắc, chuẩn mực, quy trình và các quy định của KTNN
+ Quản lý từ bên ngoài là hình thức quản lý chất lượng kiểm toán do một đơn vị khác, độc lập với chủ thể của hoạt động kiểm toán thực hiện
Đơn vị khác ở đây có thể là đơn vị chuyên trách của KTNN (độc lập với các KTNN chuyên ngành, KTNN khu vực) hay là một tổ chức khác ngoài KTNN (cơ quan KTNN khác, công ty kiểm toán độc lập, hội nghề nghiệp ) Nếu nhìn nhận cơ quan KTNN là một chủ thể thì quản lý do đơn vị kiểm toán hay do đơn vị độc lập với đơn vị kiểm toán, nhưng thuộc bộ máy KTNN thực hiện đều cùng là nội kiểm; còn ngoại kiểm là quản lý do đơn vị độc lập với KTNN tiến hành
Phân loại theo thời điểm quản lý, có 2 loại: quản lý trong quá trình và
quản lý hồ sơ
+ Quản lý trong quá trình là hình thức quản lý chất lượng kiểm toán trong khi thực hiện hoạt động kiểm toán (quản lý các giai đoạn của quy trình kiểm toán) Hình thức quản lý này còn có các tên gọi khác như: quản lý “nóng”, quản
lý đồng thời, quản lý trực tiếp
Trang 17+ Quản lý hồ sơ là hình thức quản lý chất lượng kiểm toán sau khi báo cáo kiểm toán được phát hành, dựa trên hồ sơ kiểm toán Hình thức này thường được thực hiện sau khi cuộc kiểm toán kết thúc có mục đích chủ yếu là đánh giá chất lượng các cuộc kiểm toán đã hoàn thành, hiệu lực và hiệu quả hoạt động của hệ thống quản lý chất lượng kiểm toán, rút ra các bài học kinh nghiệm, từ đó xây dựng các biện pháp để củng cố, tăng cường, hoàn thiện hoạt động quản lý chất lượng kiểm toán
* Kiểm tra, giám sát chất lƣợng kiểm toán
Quản lý chất lượng kiểm tra thực hiện kết luận, kiến nghị kiểm toán
Kiểm tra, giám sát chất lượng kiểm toán thực hiện kết luận, kiến nghị kiểm toán là giai đoạn cuối cùng của quy trình quản lý chất lượng kiểm toán, nhằm bảo đảm kết quả của cuộc kiểm toán có tác dụng và hiệu lực trong thực tiễn; đồng thời cũng qua đó xác định lại tính đúng đắn, khả thi của những kết luận, kiến nghị kiểm toán và nguyên nhân của những sai sót có thể có trong kết luận kiểm toán, từ đó có giải pháp sửa chữa, khắc phục
Nội dung chính cần quản lý giai đoạn này là:
- Quy định trách nhiệm kiểm tra, quản lý của các cấp đối với quá trình thực hiện công việc của cấp dưới;
- Trình tự thông qua kế hoạch kiểm toán, biên bản kiểm toán, báo cáo kiểm toán;
- Thiết lập hệ thống và nội dung kiểm tra, quản lý chất lượng kiểm toán, đạo đức nghề nghiệp KTV;
- Yêu cầu về trình độ, năng lực chuyên môn của người kiểm tra, quản lý
- Chuẩn mực về báo cáo kiểm toán:
- Các nguyên tắc, yêu cầu, tiêu chí của biên bản kiểm toán, báo cáo kiểm toán;
- Mẫu biểu biên bản kiểm toán, báo cáo kiểm toán
Ngoài việc thiết kế và vận hành, để đánh giá sự phù hợp và hiệu lực, hiệu quả của các chính sách, thủ tục quản lý chất lượng kiểm toán KTNN phải thường xuyên kiểm tra việc thực hiện trên thực tế thông qua hình thức quản lý
Trang 18trực tiếp thực tế hoạt động (đang tiến hành) hoặc quản lý gián tiếp qua hồ sơ kiểm toán (sau khi hoạt động kết thúc) Đồng thời, định kỳ tiến hành rà soát, đánh giá lại các chính sách, thủ tục và biện pháp quản lý chất lượng kiểm toán, nhằm phát hiện kịp thời khoảng cách giữa thực tế với chính sách (tức là các hạn chế, thiếu sót, bất cập trong quá trình thực hiện chính sách), xác định các nhân tố tạo ra khoảng cách này (tức là nguyên nhân của hạn chế bất cập), từ đó có giải pháp điều chỉnh phù hợp
- Việc kiểm tra thực hiện kết luận, kiến nghị kiểm toán có thực hiện đầy
đủ các nội dung và phù hợp với quy trình, chuẩn mực kiểm toán của KTNN;
- Báo cáo kết quả kiểm tra thực hiện kết luận, kiến nghị kiểm toán có đầy
đủ những nội dung kiến nghị kiểm toán và tình hình thực hiện của đơn vị được kiểm toán; nguyên nhân chưa thực hiện (nếu có); những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện;
- Các ý kiến trình bày trong báo cáo kiểm tra có dựa trên các bằng chứng đầy đủ, thích hợp;
- Các kiến nghị xử lý những tồn tại trong thực hiện các kiến nghị kiểm toán có thoả đáng và có tính thực tiễn
1.2 Tiêu chí quản lý chất lƣợng kiểm toán
Để đảm bảo tính độc lập trong hoạt động KTNN- yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến chất lượng kiểm toán, nhóm yếu tố bên ngoài KTNN (khách quan đối với KTNN), như: địa vị pháp lý, ngân sách và cơ chế bổ nhiệm Lãnh đạo KTNN, cần phải được quản lý bởi Hiến pháp và hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia Sự độc lập về địa vị pháp lý của KTNN, ngân sách hoạt động của KTNN và cơ chế bổ nhiệm Lãnh đạo KTNN là tiêu chí quản lý then chốt và toàn diện đối với nhóm yếu tố bên ngoài KTNN nhằm đảm bảo chất lượng hoạt động KTNN nói chung
Đối với nhóm yếu tố bên trong KTNN (thuộc về chủ quan của cơ quan KTNN), mỗi cơ quan KTNN, tùy theo đặc điểm hoạt động mà có những tiêu chí quản lý chất lượng kiểm toán cụ thể khác nhau Các tiêu chí quản lý chất lượng kiểm toán của cơ quan KTNN được biểu hiện cụ thể ở các chính sách và thủ tục
Trang 19quản lý chất lượng kiểm toán và các nội dung quản lý theo từng giai đoạn của cuộc kiểm toán
Qua nghiên cứu cho thấy, các cơ quan KTNN thường áp dụng các tiêu chí quản lý chất lượng kiểm toán sau:
- Kỹ năng và năng lực chuyên môn: KTV được giao nhiệm vụ phải có đủ trình độ nghiệp vụ, năng lực để đáp ứng được yêu cầu công việc và hoàn thành được trách nhiệm của mình
- Tuân thủ nguyên tắc nghề nghiệp: KTV phải luôn có ý thức trách nhiệm thực hiện nghiêm túc các nguyên tắc nghề nghiệp, như: chính trực, độc lập, khách quan, thận trọng, bảo mật và chuẩn mực, quy trình chuyên môn, các quy định của KTNN
- Giao việc: Công việc kiểm toán chỉ được phân công cho những KTV được đào tạo, có đủ năng lực thực hiện, bảo đảm sự thích hợp giữa yêu cầu công việc và khả năng thực hiện của KTV
- Chỉ đạo, hướng dẫn và giám sát: Cần có sự hướng dẫn chu đáo, chỉ đạo
và giám sát chặt chẽ ở mọi cấp độ để bảo đảm các công việc được thực hiện trôi chảy, đúng kế hoạch và chất lượng, phù hợp với chuẩn mực, quy trình chuyên môn và các quy định của KTNN Kế hoạch kiểm toán của đoàn kiểm toán, kế hoạch kiểm toán chi tiết của tổ kiểm toán và chương trình kiểm toán là cơ sở để cấp trên chỉ đạo, hướng dẫn và quản lý KTV thực hiện công việc- Tham khảo ý kiến chuyên gia: Trong quá trình kiểm toán có thể gặp phải những vấn đề khó khăn, gây tranh cãi, khi đó cần phải lấy ý kiến tư vấn từ trong nội bộ (tổ, đoàn kiểm toán, KTNN) và chuyên gia
- Bồi dưỡng kiến thức cho KTV: KTV phải được bồi dưỡng kiến thức chuyên môn và chính sách pháp luật phù hợp, cũng như những vấn đề đặc thù của đối tượng kiểm toán trước khi thực hiện cuộc kiểm toán
- Kế hoạch hóa công việc: các công việc của cuộc kiểm toán đều phải được kế hoạch hoá một cách chặt chẽ về mọi mặt, như: thời gian, nhân sự, chi phí… bao gồm cả kế hoạch tổng thể, chi tiết, kế hoạch cá nhân, tập thể
- Sử dụng tài liệu của KTV khác: KTV nhà nước phải chịu trách nhiệm về
Trang 20việc sử dụng tài liệu của KTV khác, như: KTV nội bộ, KTV độc lập… đồng thời phải bảo đảm độ tin cậy khi sử dụng các tài liệu đó
- Tài liệu hoá công việc và lưu trữ: Mọi công việc đều phải được chuẩn hoá thành các tài liệu chuyên môn và được công khai, phổ biến đến các KTV, được lưu trữ khoa học nhằm mục đích thuận tiện cho thực hiện nhiệm vụ, kiểm tra, quản lý và tổng hợp thông tin, hạn chế rủi ro
- Kiểm tra, quản lý: các bước công việc của quy trình kiểm toán, các công việc phải thường xuyên được kiểm tra, quản lý theo các quy chế và thủ tục quản
lý chất lượng kiểm toán Các thành viên đoàn kiểm toán phải tự kiểm tra, soát xét công việc mình làm; Tổ trưởng tổ kiểm toán phải kiểm tra, soát xét công việc của các thành viên; Trưởng Đoàn kiểm toán phải kiểm tra, soát xét công việc của các tổ kiểm toán; Kiểm toán trưởng KTNN chuyên ngành (khu vực) phải kiểm tra, soát xét công việc của các đoàn kiểm toán
- Chuẩn mực về báo cáo kiểm toán: biên bản kiểm toán, báo cáo kiểm toán phải bảo đảm các chuẩn mực về báo cáo kiểm toán có hiệu lực và phù hợp với các nguyên tắc, chuẩn mực kiểm toán được chấp nhận phổ biến
1.3 Kinh nghiệm quản lý chất lượng kiểm toán của một số nước và bài học cho KTNN ở VN
1.3.1 Kinh nghiệm quản lý chất lượng kiểm toán của một số nước
* Kinh nghiệm Cộng hoà Liên bang Đức
Nguyên tắc cơ bản trong hoạt động kiểm toán nói chung và quản lý chất lượng kiểm toán nói riêng của KTNN cộng hoà liên bang Đức là nguyên tắc quyết định tập thể Nguyên tắc này có nghĩa là tất cả các vấn đề nghiệp vụ kiểm
toán đều do những uỷ viên kiểm toán (Chủ tịch, Phó chủ tịch, các Vụ trưởng và
các Trưởng phòng kiểm toán; các uỷ viên kiểm toán có quyền độc lập như thẩm phán, được Hiến pháp đảm bảo) cùng nhau quyết định theo đa số hoặc 100% Hội đồng phòng hai người là hội đồng bao gồm Trưởng phòng và Vụ trưởng Nếu Chủ tịch hoặc Phó chủ tịch KTNN liên bang tham gia vào thành phần của Hội đồng phòng hai người thì sẽ trở thành Hội đồng phòng ba người Những hội
đồng này ra quyết định theonguyên tắc đồng thuận (100% đồng ý) Trường hợp
Trang 21khi thông qua một nghị quyết trong Hội đồng phòng mà không có sự nhất trí 100% thì một uỷ viên có thể đề nghị thông qua một hội đồng cao hơn, mà Vụ nào cũng thành lập, gọi là Hội đồng Vụ Thành viên Hội đồng Vụ là Vụ trưởng
và tất cả các Trưởng phòng thuộc Vụ đó và một Trưởng phòng khác Chủ tịch hoặc Phó chủ tịch có thể tham gia vào các Hội đồng Vụ Hội đồng Vụ ra nghị quyết theo nguyên tắc đa số Trên thực tế của KTNN liên bang Đức, Hội đồng
Vụ rất ít nhóm họp, vì tất cả các uỷ viên đều phấn đấu để đạt được sự nhất trí 100% ở cấp Hội đồng phòng Cơ quan quyết định cao nhất là Đại hội đồng, gồm: Chủ tịch và Phó chủ tịch, 9 Vụ trưởng của 9 Vụ kiểm toán, 3 Trưởng phòng kiểm toán, báo cáo viên và đồng báo cáo viên; tổng cộng là 16 thành viên
Trưởng phòng kiểm toán lãnh đạo cuộc kiểm toán trên cơ sở những quyết định của Hội đồng phòng Để lãnh đạo công tác kiểm toán, Trưởng phòng cũng tham gia vào việc chuẩn bị và thực hiện kiểm toán, đặc biệt là phải tham gia vào các cuộc kiểm tra thực địa (kiểm toán tại đơn vị được kiểm toán) và vào công tác kết thúc các cuộc kiểm tra này (thông báo kết quả kiểm toán sơ bộ với đơn vị được kiểm toán, sau khi kết thúc kiểm toán tại đơn vị)
- Trong giai đoạn chuẩn bị kiểm toán, Trưởng phòng kiểm toán và các
KTV phải thu thập và nghiên cứu những thông tin cần thiết để xây dựng kế hoạch kiểm toán; trong đó phải xác định mục tiêu và trọng tâm kiểm toán Kế hoạch kiểm toán phải được Hội đồng phòng thông qua
- Giai đoạn thực hiện kiểm toán: trên cơ sở kế hoạch kiểm toán, KTV phải
chịu trách nhiệm kiểm toán đúng và đầy đủ các nội dung, quyết định các thủ tục kiểm toán và các bước công việc, thực hiện ghi chép hồ sơ kiểm toán KTV phải chú ý đến cả những vấn đề nằm ngoài đối tượng và kế hoạch kiểm toán, nếu nó
có ý nghĩa đối với việc hoàn thành nhiệm vụ KTV phải báo cáo kịp thời cho Trưởng phòng kiểm toán về những phát hiện quan trọng và những thông tin thu thập được có khả năng làm thay đổi kế hoạch kiểm toán Những thay đổi quan trọng so với kế hoạch kiểm toán phải do Hội đồng phòng quyết định Trong quá trình kiểm toán, KTV phát hiện những sự việc vi phạm pháp luật phải báo cáo
Trang 22kịp thời cho Trưởng phòng kiểm toán trước khi trao đổi với đơn vị được kiểm toán và cơ quan liên quan khác Hội đồng phòng quyết định về các bước xử lý tiếp theo
- Giai đoạn kết thúc kiểm toán, lập hồ sơ kiểm toán: sau khi kết thúc giai
đoạn thực hiện kiểm toán, KTV tiến hành soạn thảo hồ sơ kiểm toán- đó là hồ sơ ghi lại đối tượng, diễn biến và kết quả của cuộc kiểm toán Nếu có nhiều KTV cùng tham gia dự thảo, thì phải ghi rõ ai chịu trách nhiệm phần nào của dự thảo
hồ sơ kiểm toán.Hồ sơ kiểm toán bao gồm: Ghi nhớ kiểm toán, Thông báo kết quả kiểm toán và Công văn kèm theo
Trong quá trình lập hồ sơ kiểm toán, KTV và Trưởng phòng thường xuyên có sự trao đổi để có sự đồng thuận ngay trong quá trình lập hồ sơ, nhất là những vấn đề liên quan đến chính trị nhạy cảm.Hồ sơ kiểm toán cùng các giấy
tờ làm việc của KTV (biên bản phỏng vấn, các bản sao hợp đồng, các quy định quản lý, ghi nhớ của đơn vị được kiểm toán…) được trình lên Trưởng phòng và
Vụ trưởng.Hội đồng phòng sẽ quyết định kết quả kiểm toán Nếu hồ sơ kiểm toán do KTV dự thảo phải thay đổi về nội dung thì phải cho KTV được trình bày
về những nội dung này KTV có thể bổ sung ý kiến thay đổi của mình trong một ghi chú
Thông báo kết quả kiểm toán được gửi đến đơn vị được kiểm toán để lấy
ý kiến, thông thường thời hạn cho ý kiến không quá 3 tháng Sau khi nhận được
ý kiến phản hồi, KTV phải đánh giá những ý kiến đó (nếu cần thiết có thể đến đơn vị được kiểm toán để kiểm tra lại) và kịp thời trình hồ sơ kiểm toán đã chỉnh
lý cho Hội đồng phòng xét duyệt.Kết quả xem xét ý kiến phản hồi sẽ được thông báo, trả lời cho đơn vị được kiểm toán biết
- Kiểm tra thực hiện kiến nghị kiểm toán: KTNN liên bang Đức không
thực hiện kiểm tra việc thực hiện kiến nghị kiểm toán đối với tất cả các đơn vị
đã được kiểm toán, vì không có đủ người Việc kiểm tra thực hiện kiến nghị kiểm toán thông qua các cuộc kiểm toán sau đó (kiểm toán phúc tra, kiểm toán trọng điểm…) Thực tế cũng có những đơn vị không thực hiện kiến nghị kiểm toán; và vấn đề đó sẽ được KTNN liên bang báo cáo Quốc hội thông qua báo
Trang 23cáo hàng năm hoặc báo cáo đặc biệt
* Kinh nghiệm Hàn Quốc
Trong cơ cấu tổ chức bộ máy của Uỷ ban Kiểm toán và Thanh tra Hàn Quốc (BAI) có Phòng Quản lý chất lượng kiểm toán thuộc Vụ Pháp chế và Quản lý chất lượng chịu trách nhiệm thực hiện công tác quản lý chất lượng kiểm toán Về nhân lực thực hiện nhiệm vụ quản lý chất lượng kiểm toán, BAI không
có quy định cụ thể về trình độ chuyên môn đối với cán bộ quản lý chất lượng kiểm toán Trên thực tế, cán bộ của đơn vị này là những người có kiến thức cao
và nhiều kinh nghiệm về hoạt động kiểm toán
Phòng Quản lý chất lượng kiểm toán có chức năng quản lý chất lượng kiểm toán đối với mọi giai đoạn của quy trình kiểm toán, gồm: lập kế hoạch kiểm toán, thực hiện kiểm toán, lập báo cáo kiểm toán Tuy nhiên, thực tế Phòng Quản lý chất lượng kiểm toán của BAI tập trung vào việc thẩm tra tính chính xác và phù hợp của báo cáo kiểm toán theo các nội dung chủ yếu sau:
- Tính phù hợp của các báo cáo kiểm toán;
- Tính chính xác và tính đầy đủ pháp lý của các phát hiện, kết luận kiểm toán;
- Tính thích hợp của các bằng chứng kiểm toán, tài liệu kiểm toán;
- Bố cục trình bày
Các phòng nghiệp vụ có trách nhiệm dự thảo báo cáo kiểm toán trình Vụ trưởng xem xét, sau đó chuyển cho Phòng Quản lý chất lượng kiểm toán thẩm định Cán bộ của Phòng Quản lý chất lượng kiểm toán thẩm định các báo cáo kiểm toán và bằng chứng kiểm toán, tài liệu liên quan Nếu thấy những điểm chưa phù hợp, cán bộ của Phòng Quản lý chất lượng kiểm toán có thể trao đổi với các Vụ hoặc Phòng nghiệp vụ để sửa đổi hoặc điều chỉnh các báo cáo kiểm toán Sau khi trao đổi, nếu vấn đề không giải quyết được, Phòng Quản lý chất lượng kiểm toán sẽ lập báo cáo ý kiến thẩm định trình Vụ trưởng Vụ Pháp chế
và Quản lý chất lượng kiểm toán để trình lãnh đạo BAI xem xét, quyết định Nếu ý kiến thẩm định của Phòng Quản lý chất lượng kiểm toán về báo cáo kiểm toán là hợp lý, lãnh đạo BAI sẽ yêu cầu Phòng, Vụ nghiệp vụ liên quan sửa đổi, điều chỉnh báo cáo kiểm toán
Trang 241.3.2 Những bài học kinh nghiệm cho KTNN Việt Nam
Từ các hướng dẫn về quản lý chất lượng kiểm toán của cộng hoà Liên bang Đức, Uỷ ban Kiểm toán và Thanh tra Hàn Quốc, có thể rút ra những bài học kinh nghiệm sau:
- Thứ nhất, KTNN phải ban hành đầy đủ, đồng bộ các chuẩn mực, quy
định về quản lý chất lượng kiểm toán để làm căn cứ cho quản lý chất lượng kiểm toán Hoạt động quản lý chất lượng kiểm toán liên quan đến nhiều cấp độ,
có yêu cầu cao, do đó cần phải có quy định cụ thể để tiêu chuẩn hoá các công việc quản lý
- Thứ hai, ngoài việc thiết lập, duy trì hiệu quả các chính sách, thủ tục cho
việc tự quản lý của các đoàn kiểm toán, KTNN chuyên ngành (khu vực), KTNN cần thiết lập và duy trì hoạt động đơn vị chức năng độc lập thực hiện quản lý chất lượng kiểm toán
- Thứ ba, chức năng quản lý chất lượng kiểm toán là kiểm tra và giám sát,
đánh giá, kiến nghị xử lý để kịp thời ngăn chặn các sai phạm, yếu kém trong hoạt động kiểm toán, giảm thiểu rủi ro kiểm toán
- Thứ tư, quản lý chất lượng kiểm toán là hoạt động không thể thiếu được
trong quá trình kiểm toán, trong mỗi giai đoạn, mỗi bước công việc; công việc của KTV phải được cấp cao hơn kiểm tra, soát xét lại Đồng thời với quá trình kiểm toán, KTV phải có trách nhiệm tự quản lý lại công việc mình đã làm để bảo đảm đã thực hiện đầy đủ các thủ tục kiểm toán, các nội dung kiểm toán, các bằng chứng kiểm toán là đầy đủ, đáng tin cậy
- Thứ năm, cần phải có quy định cụ thể, xác định rõ nội dung, trách nhiệm
quản lý của từng cấp độ quản lý (từ quản lý của bản thân KTV đến quản lý ở cấp cao nhất là lãnh đạo KTNN), trong từng giai đoạn của quá trình kiểm toán Trách nhiệm quản lý chất lượng kiểm toán trước hết thuộc về Trưởng đoàn kiểm toán và phải thực hiện ngay trong từng bước của quá trình kiểm toán; sự quản lý của cấp trên và các đơn vị chuyên trách chủ yếu sau khi đã kết thúc công việc của từng giai đoạn
Trang 25Chương 2 PHƯƠNG PHÁP VÀ THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU
Một cách tổng quát, luận văn áp dụng phương pháp luận nghiên cứu duy vật biện chứng và duy vật lịch sử.Ngoài ra, ứng với từng câu hỏi nghiên cứu trong đề tài và sử dụng các công cụ, phương pháp nghiên cứu phù hợp như nghiên cứu tại bàn, kết hợp nghiên cứu thống kê định tính và nghiên cứu định lượng.Phương pháp nghiên cứu định lượng cụ thể được sử dụng là phân tích tương quan (correlation analysis) và phân tích hồi quy (regression analysis) Phân tích định lượng có vai trò bổ sung, minh chứng (trong khả năng dự liệu sẵn có) cho các kết quả phân tích định tính Nói cách khác, phân tích định lượng không phải là trọng tâm chính của luận văn này
- Đề tài vận dụng những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin, các quan điểm của Đảng, Chính phủ và các chính sách của Nhà nước
- Để đạt được mục tiêu nghiên cứu và nhiệm vụ đặt ra, đề tài sử dụng
phương pháp nghiên cứu hỗn hợp Trong phương pháp này, tác giả đã sử dụng
phương pháp nghiên cứu định tính (Qualitative approach) mà cụ thể là phương pháp tình huống (case study research) làm phương pháp nghiên cứu chính; sử dụng phương pháp định lượng hỗ trợ thêm để làm sáng tỏ thêm vấn đề cần nghiên cứu Đây chính là dạng thiết kế hỗn hợp gắn kết.“Thiết kế hỗn hợp gắn kết là dạng thiết kế trong đó một phương pháp (định tính hoặc định lượng) là chính và phương pháp còn lại gắn vào với phương pháp chính.Như vậy, phương pháp gắn kết (phụ) này đóng vai trò hỗ trợ thêm dữ liệu cho phương pháp chính” (Nguyễn Đình Thọ, 2011, trang 198)
Trong phương pháp tình huống (case study research), công cụ tác giả lựa chọn sử dụng để thu thập dữ liệu đó chính là khảo sát và quan sát (observation)
“Phân tích dữ liệu định tính là quá trình đi tìm ý nghĩa của dữ liệu” Vì vậy, tác giả tiến hành khảo sát các nhà khoa học, các chuyên gia trong lĩnh vực quản lý tài chính, ngân sách và các cấp quản lý trong Kiểm toán Nhà nước và quan sát đối tượng nghiên cứu để thu thập và phân tích dữ liệu Ngoài phương pháp chủ đạo nêu trên, luận văn còn sử dụng các phương pháp khác như phương pháp
Trang 26tổng hợp, phương pháp điều tra, phỏng vấn sâu … để nghiên cứu và trình bày các vấn đề lý luận và thực tiễn
Quy trình áp dụng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp trải qua 7 bước:
Cụ thể:
- Bước 1: Phát hiện lỗ hổng nghiên cứu
Qua tham khảo các công trình nghiên cứu trong nước về quản lý chất lượng kiểm toán, một số vấn đề mà các tác giả chưa đề cập đến là:
+ Nội dung nghiên cứu quản lý chất lượng kiểm toán nói chung, quản lý chất lượng kiểm toán của KTNN Việt Nam nói riêng
+ Khái quát các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý chất lượng kiểm toán + Đánh giá thực trạng quản lý chất lượng kiểm toán của KTNN Việt Nam
- Bước 2: Xác định câu hỏi nghiên cứu
Để đạt được các mục tiêu mà đề tài đã đặt ra, cần phải trả lời một cách thỏa đáng một số vấn đề nghiên cứu sau:
1 Quản lý chất lượng kiểm toán là gì?
2 Tình hình quản lý chất lượng kiểm toán của KTNN Việt Nam trong thời gian qua đã được thực hiện như thế nào? Những hạn chế và nguyên nhân?
Bước 1: Phát hiện lỗ hổng nghiên cứu
Bước 2: Xác định câu hỏi nghiên cứu
Bước 3: Chọn tình huống
Bước 4: Chọn phương pháp thu thập dữ liệu
Bước 5: Thu thập dữ liệu
Bước 6: Phân tích dữ liệu
Trang 273 Công tác quản lý chất lượng kiểm toán của KTNN Việt Nam có những điểm đặc thù gì ?và cần phải giải quyết như thế nào để phù hợp các yêu cầu nâng cao chất lượng và hiệu quả quản lý ?
4 Trong xu thế hội nhập, phát triển bền vững, yêu cầu đặt ra cho quản lý chất lượng kiểm toán của KTNN Việt Nam như thế nào?
- Bước 3: Chọn tình huống
Từ những câu hỏi được xác định như phần trên, tình huống mà luận văn lựa chọn đó chính là những vấn đề về quản lý chất lượng kiểm toán của KTNN Việt Nam Cụ thể là tập trung về công tác lập kế hoạch quản lý chất lượng kiểm toán của KTNN Việt Nam; công tác tổ chứa thực hiện quản lý chất lượng kiểm toán của KTNN Việt Nam; công tác Thanh tra, kiểm tra quá trình quản lý chất lượng kiểm toán của KTNN Việt Nam
- Bước 4 Chọn phương pháp thu thập dữ liệu
Để có được thông tin về những vấn đề quản lý chất lượng kiểm toán của KTNN Việt Nam, phương pháp được tác giả lựa chọn sử dụng để thu thập dữ liệu chính là phương pháp khảo sát kết hợp với tìm hiểu và nghiên cứu trực tiếp trên cơ sở quan sát (observation) và một số phương pháp khác như thống kê, tổng hợp, so sánh…
- Bước 5 Thu thập dữ liệu
Số liệu thứ cấp: Tìm hiểu và nghiên cứu các Nghị định của chính phủ, các Quyết định của Bộ Tài Chính, Kho Bạc Nhà Nước, các Quy chế, quy định của KTNN Việt Nam, các sách tham khảo, tài liệu nghiên cứu về quản lý chất lượng kiểm toán trong nước…
- Bước 6 Phân tích dữ liệu
Dựa trên số liệu sơ cấp và thứ cấp được thu thập , tác giả tiến hành phân tích, đánh giá giữa thực trạng với các thách thức, cơ hô ̣i, xu thế phát triển
Trang 28CHƯƠNG 3
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG KIỂM TOÁNCỦA KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC VIỆT NAM 3.1 Khái quát về Kiểm toán nhà nước Việt Nam
3.1.1 Chức năng, nhiệm vụ của Kiểm toán Nhà nước
Kiểm toán Nhà nước Việt Nam được hình thành và phát triển trên cơ sở Nghị định số 70/CP ngày 11/7/1994 của Chính phủ về việc thành lập cơ quan KTNN và Quyết định số 61/TTg ngày 24/01/1995 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Điều lệ tổ chức và hoạt động của KTNN Nghị định số 70/CP ngày 11/7/1994 của Chính phủ thành lập KTNN để giúp Thủ tướng Chính phủ thực hiện chức năng kiểm tra, xác nhận tính đúng đắn, hợp pháp của tài liệu và số liệu kế toán, báo cáo quyết toán của cơ quan Nhà nước, các đơn vị sự nghiệp, đơn vị kinh tế nhà nước và các đoàn thể quần chúng, các tổ chức xã hội sử dụng kinh phí do ngân sách nhà nước cấp KTNN thực hiện kiểm toán theo chương trình, kế hoạch kiểm toán hàng năm do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, cung cấp kết quả kiểm toán cho Chính phủ và các cơ quan nhà nước khác theo quy định của Chính phủ Tổng KTNN do Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm và miễn nhiệm, chịu trách nhiệm trước Chính phủ toàn bộ công tác KTNN
Luật Kiểm toán nhà nước được Quốc hội khoá XI, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 14/6/2005, và có hiệu lực thi hành từ 01/01/2006 Đạo luật này là công cụ pháp lý để tăng cường kiểm tra, quản lý các nguồn lực tài chính nhà nước, là cơ
sở pháp lý cao nhất hiện nay quy định một cách đầy đủ, toàn diện, có hệ thống
về tổ chức và hoạt động của KTNN ,là cơ quan kiểm tra tài chính nhà nước do Quốc hội thành lập, hoạt động độc lập và chỉ tuân theo pháp luật
Mục đích hoạt động kiểm toán nhà nước nhằm phục vụ việc kiểm tra, giám sát của Nhà nước trong quản lý, sử dụng tài chính, tài sản công; góp phần thực hành tiết kiệm, chống tham nhũng, thất thoát, lãng phí, phát hiện và ngăn chặn hành vi vi phạm pháp luật; nâng cao hiệu quả sử dụng tài chính, tài sản công
Trang 29KTNN có nhiệm vụ: kiểm toán, cung cấp kết quả kiểm toán phục vụ công tác quản lý, điều hành tài chính- ngân sách của các cơ quan quản lý nhà nước và Chính phủ; cung cấp thông tin phục vụ Quốc hội giám sát, quyết định dự toán ngân sách nhà nước, phân bổ ngân sách trung ương, quyết định dự án, công trình quan trọng quốc gia và phê chuẩn quyết toán ngân sách nhà nước; cung cấp thông tin giúp Hội đồng nhân dân trong việc quyết định và giám sát việc thực hiện ngân sách địa phương KTNN quyết định kế hoạch kiểm toán hàng năm và báo cáo với Quốc hội, Chính phủ trước khi thực hiện; báo cáo kết quả kiểm toán năm và kết quả thực hiện kết luận, kiến nghị kiểm toán với Quốc hội, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội; chuyển hồ sơ cho Cơ quan điều tra và các cơ quan khác của Nhà nước có thẩm quyền kiểm tra, xử lý những vụ việc có dấu hiệu vi phạm pháp luật của tổ chức, cá nhân đã được phát hiện thông qua hoạt động kiểm toán
3.1.2 Đội ngũ cán bộ, kiểm toán viên của Kiểm toán Nhà nước
Cán bộ, KTV nhà nước được tuyển chọn từ 2 nguồn:
Một là, các cán bộ, công chức nhà nước có bằng cử nhân trở lên về các
chuyên ngành: kiểm toán, kế toán, tài chính, ngân hàng, kinh tế, luật hoặc chuyên ngành khác (kỹ sư xõy dựng, giao thụng, thuỷ lợi, cụng nghệ thụng tin…) đã có bề dày kinh nghiệm thực tiễn công tác được tuyển chọn ở các cơ quan, đơn vị và các địa phương;
Hai là, các cử nhân mới tốt nghiệp các trường đại học thuộc các chuyên
ngành: kiểm toán, kế toán, tài chính, ngân hàng, kinh tế, luật hoặc chuyên ngành khác (kỹ sư xây dựng, giao thông, thuỷ lợi, công nghệ thông tin…) được lựa chọn qua các kỳ thi tuyển cán bộ, công chức
KTV nhà nước phải có đủ các tiêu chuẩn của cán bộ, công chức; ngoài ra còn phải đáp ứng tiêu chuẩn đặc thù của ngành về đạo đức nghề nghiệp và phải
có thời gian làm việc thực tế liên tục từ 5 năm trở lên theo chuyên ngành được đào tạo (đối với cán bộ tuyển chọn từ ngành khác) hoặc 3 năm kinh nghiệm thực
tế trong ngành kiểm toán
Sau 20 năm xây dựng, KTNN đã có đội ngũ 1974 cán bộ, công chức, trong
Trang 30đó KTV là 1.410 người chiếm 71,4% Chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức không ngừng được nâng lên, số có trình độ đại học trở lên chiếm 97,5%, trong
đó 100% KTV có trình độ đại học trở lên, nhiều người có 2 đến 3 văn bằng đại học Nhìn chung, đội ngũ cán bộ, công chức, KTV có cơ cấu hợp lý giữa các ngành nghề, có phẩm chất chính trị và đạo đức, năng lực đáp ứng yêu cầu nhiệm
vụ theo quy định của Luật KTNN
3.1.3 Nguyên tắc và cơ chế hoạt động kiểm toán
Hoạt động kiểm toán của KTNN Việt Nam theo 2 nguyên tắc cơ bản là: độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; Các nguyên tắc và chế độ hoạt động đó chi phối đến cơ chế hoạt động kiểm toán của KTNN thể hiện trên những nội dung chính như sau:
- Hoạt động kiểm toán có tính độc lập cao, mỗi chủ thể tham gia vào hoạt động kiểm toán có nhiệm vụ, quyền hạn riêng và chịu trách nhiệm trước pháp luật về các kết quả kiểm toán đưa ra
KTV khi tiến hành kiểm toán chỉ tuân theo pháp luật và những quy định của KTNN, tuân thủ nguyên tắc, chuẩn mực, quy trình và các quy định khác về kiểm toán của Tổng KTNN KTV có quyền độc lập và chỉ tuân theo pháp luật trong việc nhận xét, đánh giá, kết luận và kiến nghị về những nội dung đã kiểm toán KTV có quyền bảo lưu bằng văn bản ý kiến về kết quả kiểm toán, báo cáo Trưởng Đoàn kiểm toán hoặc Kiểm toán trưởng xem xét, nếu không thống nhất thì báo cáo Tổng KTNN KTV được yêu cầu Trưởng Đoàn kiểm toán, Tổ trưởng
Tổ kiểm toán làm rõ những lý do thay đổi đánh giá, xác nhận, kết luận và kiến nghị của mình trong biên bản kiểm toán, báo cáo kiểm toánTổ trưởng Tổ kiểm toán có nhiệm vụ tổng hợp kết quả kiểm toán của các thành viên trong Tổ kiểm toán để lập biên bản kiểm toán; tổ chức thảo luận trong Tổ kiểm toán để thống nhất về đánh giá, xác nhận, kết luận và kiến nghị trong biên bản kiểm toán Tổ trưởng Tổ kiểm toán phải bảo vệ kết quả kiểm toán được ghi trong biên bản kiểm toán trước Trưởng Đoàn kiểm toán; tổ chức thông báo kết quả kiểm toán
đã được Trưởng Đoàn kiểm toán thông qua với đơn vị được kiểm toán; ký biên bản kiểm toán Tổ trưởng có quyền bảo lưu bằng văn bản ý kiến của mình khác
Trang 31với đánh giá, xác nhận, kết luận và kiến nghị trong biên bản kiểm toán.Tổ trưởng chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính đúng đắn, trung thực, khách quan của những đánh giá, xác nhận, kết luận và kiến nghị trong biên bản kiểm toán của Tổ kiểm toán
Trưởng Đoàn kiểm toán có nhiệm vụ lập báo cáo kiểm toán, tổ chức thảo luận trong Đoàn kiểm toán để thống nhất về đánh giá, xác nhận, kết luận và kiến nghị trong báo cáo kiểm toán Trưởng Đoàn kiểm toán phải bảo vệ kết quả kiểm toán được ghi trong báo cáo kiểm toán trước Kiểm toán trưởng và Tổng KTNN; tổ chức thông báo kết quả kiểm toán đã được Tổng KTNN thông qua với đơn vị được kiểm toán; ký báo cáo kiểm toán Trưởng Đoàn kiểm toán có quyền yêu cầu Phó trưởng đoàn, Tổ trưởng và các thành viên trong Đoàn kiểm toán báo cáo kết quả kiểm toán; khi có ý kiến khác nhau trong Đoàn kiểm toán
về kết quả kiểm toán thì Trưởng Đoàn kiểm toán được quyền quyết định và chịu trách nhiệm về quyết định của mình Trưởng Đoàn kiểm toán có quyền bảo lưu bằng văn bản ý kiến của mình khác với đánh giá, xác nhận, kết luận và kiến nghị trong báo cáo kiểm toán.Trưởng Đoàn kiểm toán chịu trách nhiệm trước pháp luật
về tính đúng đắn, trung thực, khách quan của những đánh giá, xác nhận, kết luận và kiến nghị trong báo cáo kiểm toán
- Tính độc lập còn thể hiện trong công tác chỉ đạo, điều hành hoạt động kiểm toán
Trưởng Đoàn kiểm toán có nhiệm vụ chỉ đạo việc xây dựng và phê duyệt
kế hoạch kiểm toán chi tiết của các Tổ kiểm toán; Phân công nhiệm vụ cho Phó trưởng đoàn, Tổ trưởng Tổ kiểm toán; chỉ đạo, điều hành Đoàn kiểm toán thực hiện kiểm toán theo kế hoạch kiểm toán đã được phê duyệt; Duyệt biên bản kiểm toán của các Tổ kiểm toán Trưởng Đoàn kiểm toán có quyền tạm đình chỉ việc thực hiện nhiệm vụ của thành viên trong Đoàn kiểm toán từ Tổ trưởng Tổ kiểm toán trở xuống khi họ có sai phạm làm ảnh hưởng đến hoạt động của Đoàn kiểm toán
Tổ trưởng Tổ kiểm toán có nhiệm vụ phân công nhiệm vụ cụ thể cho các thành viên trong Tổ kiểm toán; Chỉ đạo, điều hành các thành viên trong Tổ kiểm
Trang 32toán thực hiện kiểm toán theo kế hoạch kiểm toán đã được phê duyệt Tổ trưởng
Tổ kiểm toán có quyền báo cáo và kiến nghị biện pháp xử lý những thành viên
Tổ kiểm toán có sai phạm để Trưởng Đoàn kiểm toán xem xét, xử lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị xử lý theo quy định
Trong chỉ đạo hoạt động kiểm toán, Kiểm toán trưởng có trách nhiệm tổ chức thu thập thông tin, tài liệu cần thiết liên quan đến nội dung kiểm toán, đơn
vị được kiểm toán; dự kiến thời hạn tiến hành kiểm toán; lựa chọn Trưởng Đoàn kiểm toán, bố trí thành viên Đoàn kiểm toán và chuẩn bị các điều kiện khác phục vụ cuộc kiểm toán; Thông qua kế hoạch kiểm toán của Đoàn kiểm toán để trình Tổng KTNN phê duyệt; Chỉ đạo, kiểm tra, giám sát hoạt động của Trưởng Đoàn kiểm toán, Tổ trưởng Tổ kiểm toán, KTV
- Tổ chức công tác kiểm toán thực hiện theo cơ chế thủ trưởng: cấp trên kiểm tra, xét duyệt kết quả công việc và quyết định kết quả kiểm toán (đánh giá, xác nhận, kết luận và kiến nghị); cấp dưới chịu sự chỉ đạo nghiệp vụ, kiểm tra và chấp hành ý kiến kết luận của cấp trên Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ kiểm toán, Trưởng Đoàn kiểm toán phải tuân thủ sự chỉ đạo của Kiểm toán trưởng Trưởng Đoàn kiểm toán, Phó trưởng Đoàn kiểm toán, Tổ trưởng Tổ kiểm toán
và các thành viên của Đoàn kiểm toán chịu sự kiểm tra, giám sát của Kiểm toán trưởng và các tổ chức, cá nhân có thẩm quyền theo quy định của Tổng KTNN KTV và các thành viên khác phải thường xuyên báo cáo tình hình và kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao với Tổ trưởng Tổ kiểm toán; chấp hành ý kiến chỉ đạo và kết luận của Tổ trưởng Tổ kiểm toán, Trưởng Đoàn kiểm toán Tổ trưởng
Tổ kiểm toán định kỳ báo cáo tiến độ thực hiện kế hoạch, kết quả kiểm toán và các vấn đề khác có liên quan với Trưởng Đoàn kiểm toán.Trưởng Đoàn kiểm toán định kỳ báo cáo tiến độ thực hiện kế hoạch, kết quả kiểm toán và các vấn
đề khác có liên quan đến Đoàn kiểm toán với Kiểm toán trưởng
3.1.5 Tổ chức công tác kiểm toán
* Công tác kiểm toán của KTNN được giao cho các KTNN chuyên
ngành (khu vực) chủ trì thực hiện; riêng cuộc kiểm toán báo cáo quyết toán NSNN do Vụ Tổng hợp chủ trì thực hiện Các KTNN chuyên ngành (khu vực)
Trang 33chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện các nhiệm vụ kiểm toán theo lĩnh vực, địa bàn được giao, gồm: xây dựng kế hoạch kiểm toán hàng năm, tổ chức thực hiện các cuộc kiểm toán được Tổng KTNN giao, kiểm tra thực hiện kết luận, kiến nghị kiểm toán.Mỗi cuộc kiểm toán do một đoàn kiểm toán thực hiện Đoàn kiểm toán được Tổng KTNN quyết định thành lập trên cơ sở đề nghị của thủ trưởng đơn vị chủ trì kiểm toán (Kiểm toán trưởng KTNN chuyên ngành (khu vực), Vụ trưởng Vụ Tổng hợp) Thông thường, đoàn kiểm toán gồm các thành viên thuộc đơn vị chủ trì kiểm toán; tuy nhiên, một số cuộc kiểm toán, nhất là các cuộc kiểm toán chuyên đề có thể do nhiều đơn vị tham gia phối hợp thực hiện Quy trình kiểm toán của KTNN bao gồm 4 giai đoạn: chuẩn bị kiểm toán; thực hiện kiểm toán; lập và gửi báo cáo kiểm toán; kiểm tra việc thực hiện kết luận, kiến nghị kiểm toán Giai đoạn 1 (chuẩn bị kiểm toán) và giai đoạn 4 (kiểm tra việc thực hiện kết luận, kiến nghị kiểm toán) do Kiểm toán trưởng KTNN chuyên ngành (khu vực) tổ chức thực hiện Đoàn kiểm toán chỉ thực hiện 2 giai đoạn trong quy trình kiểm toán: thực hiện kiểm toán; lập và gửi báo cáo kiểm toán
Mỗi đoàn kiểm toán có nhiều tổ kiểm toán khác nhau, đứng đầu là Trưởng Đoàn kiểm toán và có 1- 2 Phó trưởng Đoàn kiểm toán giúp việc; mỗi tổ gồm
Tổ trưởng và một số thành viên Công tác kiểm toán được thực hiện chủ yếu tại các đơn vị được kiểm toán; một số cuộc kiểm toán trong lĩnh vực dự án đầu tư xây dựng công trình được thực hiện tại trụ sở cơ quan KTNN Khi tiến hành kiểm toán tại các đơn vị cơ sở, tổ kiểm toán phải thực hiện các bước công việc theo trình tự: lập kế hoạch kiểm toán chi tiết, tiến hành kiểm toán, lập biên bản kiểm toán Kế hoạch kiểm toán chi tiết do Tổ trưởng Tổ kiểm toán lập và phải được sự xét duyệt, thông qua của Trưởng Đoàn kiểm toán Biên bản kiểm toán phải thông qua và có chữ ký xác nhận của thủ trưởng đơn vị được kiểm toán Các biên bản kiểm toán của các tổ kiểm toán là căn cứ để Trưởng Đoàn kiểm toán lập báo cáo kiểm toán Với cách thức kiểm toán như vậy, trong thời gian tham gia kiểm toán các KTV chủ yếu ở cơ sở.Đặc điểm này có ảnh hưởng nhất định đến quản lý chất lượng kiểm toán và đạo đức nghề nghiệp của KTV
Trang 34* Quy trình kiểm toáncủa KTNN gồm 4 giai đoạn: Chuẩn bị kiểm toán;
Thực hiện kiểm toán; Lập và gửi báo cáo kiểm toán; Kiểm tra việc thực hiện kết luận, kiến nghị kiểm toán Đây là quy trình kiểm toán đã được quy định trong Luật KTNN Trong Luật này cũng quy định rất rõ nội dung từng giai đoạn của quy trình kiểm toán, thời gian lập, xét duyệt và gửi báo cáo kiểm toán; đồng thời quy định rõ trách nhiệm và thời hạn giải trình của đơn vị được kiểm toán
Trên cơ sở quy định của Luật KTNN và thực tiễn hoạt động, Tổng KTNN
đã có Quyết định số 04/2007/QĐ - KTNN ngày 02/8/2007 ban hành quy trình kiểm toán của KTNN (thay thế Quyết định số 03/1999/QĐ-KTNN ngày 06/10/1999 của Tổng KTNN) Theo đó:
Quy trình kiểm toán của KTNN quy định trình tự, thủ tục tiến hành công việc của mỗi cuộc kiểm toán Quy trình kiểm toán được xây dựng trên cơ sở quy định của Luật Kiểm toán nhà nước, hệ thống chuẩn mực kiểm toán nhà nước và thực tiễn hoạt động kiểm toán của Kiểm toán Nhà nước
3.2 Phân tích thực trạng quản lý chất lượng kiểm toán của Kiểm toán nhà nước Việt Nam
3.2.1 Về hoạt động lập kế hoạch quản lý chất lượng kiểm toán của Kiểm toán nhà nước Việt Nam
Việc lập, thẩm định và ban hành kế hoạch quản lý chất lượng kiểm toán năm gồm các bước sau:
- Khảo sát và thu thập thông tin;
- Lập dự thảo kế hoạch quản lý chất lượng kiểm toán năm;
- Tổ chức thẩm định, lấy ý kiến và hoàn thiện dự thảo kế hoạch quản lý chất lượng kiểm toán năm;
- Ban hành kế hoạch quản lý chất lượng kiểm toán năm
Cụ thể các bước như sau:
KTNN chuyên ngành (khu vực) chịu trách nhiệm khảo sát, thu thập thông tin phục vụ cho lập kế hoạch quản lý chất lượng kiểm toán năm thuộc lĩnh vực, địa bàn được phân công Trên cơ sở đó, KTNN chuyên ngành (khu vực) dự kiến
Trang 35kế hoạch kiểm toán năm sau của đơn vị, trình Tổng KTNN Kế hoạch quản lý chất lượng kiểm toán năm gồm các nội dung sau:
+ Mục tiêu kiểm toán trọng tâm, các mục tiêu và nội dung kiểm toán tổng hợp;
+ Danh mục các đơn vị dự kiến kiểm toán chính thức và các đơn vị dự phòng; bản thuyết minh các tiêu thức lựa chọn
Kế hoạch quản lý chất lượng kiểm toán được thực hiện trong giai đoạn này ở từng cấp độ theo nội dung, trình tự và phương pháp cụ thể như sau:
Quản lý chất lượng kiểm toán của KTNN chuyên ngành (khu vực): Trên
cơ sở nhiệm vụ quản lý chất lượng kiểm toán được Tổng KTNN giao, Kiểm toán trưởng phân công nhiệm vụ cho các phòng nghiệp vụ chủ trì thực hiện khảo sát, lập kế hoạch quản lý chất lượng kiểm toán của các cuộc kiểm toán Trưởng phòng nghiệp vụ thành lập tổ khảo sát (gồm những KTV có kinh nghiệm và có trình độ chuyên môn phù hợp), trực tiếp chỉ đạo thực hiện việc khảo sát thu thập thông tin về đơn vị được kiểm toán, đánh giá thông tin thu thập được để lập kế hoạch kiểm toán Tổ trưởng tổ khảo sát chịu trách nhiệm dự thảo kế hoạch kiểm toán và trình Trưởng phòng xem xét, cho ý kiến hoàn thiện Trưởng phòng soát xét các căn cứ xây dựng kế hoạch quản lý chất lượng kiểm toán, nội dung kế hoạch kiểm toán, chỉ đạo hoàn thiện; tiếp theo dự thảo kế hoạch quản lý chất lượng kiểm toán sẽ được trình Kiểm toán trưởng Kiểm toán trưởng kiểm tra, soát xét lại nội dung kế hoạch quản lý chất lượng kiểm toán trước khi trình Lãnh đạo KTNN xét duyệt (qua đơn vị chuyên trách)
Sau khi dự thảo kế hoạch quản lý chất lượng kiểm toán được Lãnh đạo KTNN xét duyệt, Kiểm toán trưởng chỉ đạo sửa chữa, hoàn hiện theo ý kiến kết luận của Lãnh đạo KTNN; thừa lệnh Tổng KTNN ký kế hoạch quản lý chất lượng kiểm toán
Quản lý chất lượng kiểm toán của đơn vị chuyên trách (đơn vị cụ thể theo
từng giai đoạn như đã nói ở phần trên)thực hiện thẩm định và có ý kiến nhận xét, đánh giá về: việc quán triệt mục tiêu kiểm toán hàng năm; xác định trọng yếu, rủi ro kiểm toán; chấp hành các quy định về hồ sơ mẫu biểu… trong khảo
Trang 36sát và lập kế hoạch quản lý chất lượng kiểm toán và trình Lãnh đạo KTNN xét duyệt
Lãnh đạo KTNN (Tổng KTNN hoặc Phó tổng KTNN được uỷ quyền) tổ
chức họp xét duyệt kế hoạch quản lý chất lượng kiểm toán Những kế hoạch quản lý chất lượng kiểm toán chưa đạt yêu cầu phải sửa chữa, bổ sung theo ý kiến kết luận của Lãnh đạo KTNN tại cuộc họp Sau khi kế hoạch quản lý chất lượng kiểm toán được chỉnh sửa, hoàn thiện sẽ được gửi Vụ Tổng hợp để soạn thảo, trình Tổng KTNN ban hành Quyết định quản lý chất lượng kiểm toán
Trưởng đoàn kiểm toán tiến hành phổ biến nội dung kế hoạch quản lý
chất lượng kiểm toán và cơ chế chính sách, chế độ quản lý kinh tế, tài chính, kế toán hiện hành mang tính đặc thù mà đơn vị được kiểm toán phải tuân thủ, để các thành viên trong đoàn kiểm toán hiểu rõ về kế hoạch quản lý chất lượng kiểm toán và căn cứ pháp lý thực hiện cuộc kiểm toán
3.2.2 Tổ chức thực hiện quản lý chất lượng kiểm toán của Kiểm toán nhà nước Việt Nam
Về ban hành các chính sách, quy định quản lý chất lượng kiểm toán
Nhận thức rõ tầm quan trọng của quản lý chất lượng kiểm toán đối với việc bảo đảm và nâng cao chất lượng kiểm toán, KTNN đã xây dựng và triển khai nhiều chính sách về quản lý chất lượng kiểm toán, trọng tâm là các cuộc kiểm toán
Từ 2006-2010, KTNN đã ban hành mới Quy trình kiểm toán chung, Quy trình kiểm toán dự án đầu tư, Quy trình kiểm toán chương trình mục tiêu quốc gia, Quy trình kiểm toán NSNN, Quy trình kiểm toán DNNN, Quy trình kiểm toán các tổ chức Tài chính - Ngân hàng Năm 2008, KTNN đã ban hành Hướng dẫn kết luận về trách nhiệm và kiến nghị xử lý vi phạm theo kết quả kiểm toán, Hướng dẫn kiểm toán việc quản lý thuế tại cơ quan Thuế và Hải quan nhằm nâng cao chất lượng kiểm toán tuân thủ Năm 2010, KTNN đã ban hành Hệ thống chuẩn mực kiểm toán mới thay thế Hệ thống chuẩn mực kiểm toán năm 1999; ban hành Quy chế quản lý chất lượng kiểm toán (áp dụng cho quản lý hồ
sơ do Vụ Chế độ và Kiểm soát chất lượng kiểm toán thực hiện) KTNN đã biên
Trang 37soạn, in thành sách khổ nhỏ về những văn bản quan trọng chi phối hoạt động kiểm toán và phát cho tất cả các KTV
Tổng KTNN đã ban hành các Chỉ thị về công tác kiểm toán, như: Chỉ thị
về tăng cường quản lý hoạt động kiểm toán, Chỉ thị về công tác quản lý chất lượng kiểm toán và thực hiện công tác hồ sơ kiểm toán, Chỉ thị về nâng cao hiệu quả phối hợp với UBND, HĐND các cấp trong hoạt động kiểm toán nhằm nâng cao chất lượng kiểm toán và giữ gìn đạo đức nghề nghiệp của KTV KTNN còn tổ chức nhiều hội thảo toàn ngành với nhiều chủ đề chuyên sâu như:
“Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng, đẩy nhanh tiến độ kiểm toán”;
“thu thập bằng chứng kiểm toán”
Bên cạnh với việc xây dựng các chính sách về chuyên môn, nghiệp vụ, KTNN thường xuyên coi trọng công tác phát triển nguồn nhân lực Xuất phát từ yêu cầu hoạt động kiểm toán có tính nghề nghiệp cao, nên hầu hết cán bộ sau khi được tuyển chọn công tác tại KTNN đều phải tiếp tục được đào tạo, bồi dưỡng, bảo đảm có đủ năng lực, trình độ chuyên môn phù hợp với nhiệm vụ được giao của nghành
* Bộ máy quản lý chất lượng kiểm toán và hình thức quản lý chất lượng kiểm toán
Tổ chức công tác quản lý chất lượng kiểm toán được quan tâm ngay từ những năm đầu thành lập và có sự phát triển, nâng cao về chất theo từng năm, theo yêu cầu thực tiễn và cơ cấu tổ chức trong từng giai đoạn phát triển của KTNN Tuy cơ cấu quản lý chất lượng kiểm toán cụ thể mỗi giai đoạn là khác nhau nhưng luôn được tổ chức theo nguyên tắc 5 cấp quản lý, gồm: KTV, Tổ trưởng, Trưởng Đoàn kiểm toán, Kiểm toán trưởng KTNN chuyên ngành (khu vực), Lãnh đạo KTNN; và tuân thủ chuẩn mực về quản lý chất lượng kiểm toán của INTOSAI: mỗi công việc của cấp dưới đều được kiểm tra của cấp cao hơn Giúp việc cho Lãnh đạo KTNN trong quản lý chất lượng kiểm toán và đạo đức nghề nghiệp KTV là các đơn vị chuyên trách Tại các KTNN chuyên ngành (khu vực), phòng Tổng hợp có nhiệm vụ giúp Kiểm toán trưởng quản lý chất lượng kiểm toán
Trang 38* Hình thức quản lý
Trong thực tế tổ chức và hoạt động của KTNN, công tác quản lý chất
lượng kiểm toán được thực hiện theohình thức quản lý trong quá trình và quản
lý hồ sơ,kết hợp giữa hình thức nội kiểm và ngoại kiểm
Quản lý trong quá trình đối với các hoạt động kiểm toán (lập kế hoạch kiểm toán năm, thực hiện các cuộc kiểm toán, kiểm tra tình hình thực hiện kết luận, kiến nghị kiểm toán, lập báo cáo kiểm toán năm) chủ yếu do chủ thể (đơn
vị tiến hành) hoạt động tự thực hiện (nội kiểm); các chủ thể khác (đơn vị liên quan) tham gia vào quá trình quản lý hoạt động theo chức năng, nhiệm vụ được giao (ngoại kiểm)
Quản lý chất lượng kiểm toán thông qua hình thức quản lý hồ sơ kiểm toán (hồ sơ các hoạt động kiểm toán đã kết thúc) chủ yếu do đơn vị quản lý chuyên trách của KTNN, tức ngoại kiểm (hiện nay là Vụ Chế độ và Quản lý chất lượng kiểm toán) và chỉ tiến hành quản lý chất lượng hồ sơ các cuộc kiểm toán Việc tự quản lý chất lượng của các KTNN chuyên ngành (khu vực) đối với hồ
sơ các cuộc kiểm toán hầu như chưa thực hiện Tuy việc quản lý hồ sơ kiểm toán diễn ra sau khi cuộc kiểm toán đã kết thúc, đã phát hành báo cáo kiểm toán, tức
là nằm ngoài cuộc kiểm toán, nhưng thực tế những năm qua đã chứng tỏ tác dụng hỗ trợ rất tốt cho việc hoàn thiện công tác quản lý chất lượng kiểm toán ngay trong quy trình kiểm toán Kết quả quản lý đã giúp Lãnh đạo KTNN và các đơn vị kiểm toán đánh giá khách quan công tác quản lý chất lượng các cuộc kiểm toán đã qua, những ưu điểm, hạn chế để từ đó đề ra các giải pháp chấn chỉnh kịp thời
Tham gia vào quá trình quản lý chất lượng kiểm toán có cả 5 cấp độ quản lý: (1) KTV, (2) Tổ trưởng, (3) Trưởng Đoàn kiểm toán, (4) Kiểm toán trưởng
và (5) Lãnh đạo KTNN Trong đó, phân chia theo chủ thể quản lý thì cấp độ quản lý (1), (2), (3) và (4) thuộc về nội kiểm của đơn vị kiểm toán, cấp độ quản
lý (5) thuộc về ngoại kiểm Tổng KTNN hoặc Phó tổng KTNN được Tổng KTNN giao phụ trách các KTNN chuyên ngành, KTNN khu vực trực tiếp lãnh đạo, kiểm tra hoạt động kiểm toán của các đơn vị; xét duyệt kế hoạch kiểm toán
Trang 39và báo cáo kiểm toán
Mỗi cấp độ tham gia vào quá trình quản lý chất lượng kiểm toán với nội dung và trách nhiệm khác nhau Nhiệm vụ quản lý chất lượng của mỗi cấp độ được quy định tại một số văn bản chủ yếu sau: Luật KTNN; Chuẩn mực kiểm toán số 10 về "Kiểm tra và soát xét chất lượng kiểm toán" (1999), nay là Chuẩn mực kiểm toán số 40 (2014); Quy chế tổ chức và hoạt động của đoàn KTNN; Quy định về trình tự lập, thẩm định, xét duyệt và phát hành báo cáo kiểm toán; Quy trình kiểm toán của KTNN và các quy trình kiểm toán trong các lĩnh vực kiểm toán; Hệ thống hồ sơ mẫu biểu kiểm toán; Các quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các đơn vị trong KTNN…
3.2.3 Hoạt động kiểm tra, giám sát chất lượng kiểm toán của Kiểm toán nhà nước Việt Nam
Sau khi kết thúc giai đoạn thực hiện quản lý chất lượng kiểm toán tại các đơn vị được kiểm toán, đoàn kiểm toán phải lập báo cáo kiểm toán Việc lập, thẩm định và xét duyệt báo cáo quản lý chất lượng kiểm toán phải tuân thủ theo quy định của KTNN về trình tự lập và xét duyệt báo cáo kiểm toán Tuỳ theotừng giai đoạn mà có sự thay đổi, bổ sung cho phù hợp với cơ cấu tổ chức, nhưng về cơ bản tuân theo trình tự sau:
Trưởng Đoàn kiểm toán thành lập và trực tiếp chỉ đạo tổ soạn thảo báo
cáo quản lý chất lượng kiểm toán, gồm: Phó trưởng đoàn và một số Tổ trưởng, KTV có kinh nghiệm, có khả năng phân tích, tổng hợp kết quả quản lý chất lượng kiểm toán Báo cáo kiểm toán được lập theo mẫu quy định đối với từng lĩnh vực kiểm toán, trên cơ sở các biên bản quản lý chất lượng kiểm toán, các bằng chứng kiểm toán do các tổ kiểm toán thu thập được trong quá trình quản lý chất lượng kiểm toán tại các đơn vị được kiểm toán
Tổ soạn thảo thu thập và kiểm tra lại các biên bản quản lý chất lượng kiểm toán, bằng chứng kiểm toán; tổng hợp những số liệu, tình hình quản lý chất lượng kiểm toán; lập đề cương báo cáo kiểm toán, giao nhiệm vụ cho các thành viên tổng hợp theo từng nội dung Trưởng Đoàn kiểm toán soát xét kết cấu và
Trang 40nội dung dự thảo báo cáo, cho ý kiến bổ sung, sửa chữa để hoàn chỉnh, trình Kiểm toán trưởng xét duyệt
Kiểm toán trưởng KTNN chuyên ngành (khu vực) thành lập Hội đồng cấp
Vụ (từ tháng 8/2007) để tư vấn cho Kiểm toán trưởng thẩm định các dự thảo báo cáo kiểm toán, do Kiểm toán trưởng làm Chủ tịch Hội đồng Trên cơ sở ý kiến của Hội đồng cấp Vụ, Kiểm toán trưởng tổ chức cuộc họp xét duyệt dự thảo báo cáo quản lý chất lượng kiểm toán, với sự tham dự của các Phó kiểm toán trưởng, Trưởng đoàn kiểm toán, phòng Tổng hợp và các Tổ trưởng tổ kiểm toán về: việc thực hiện kế hoạch quản lý chất lượng kiểm toán, chấp hành quy định về lập báo cáo quản lý chất lượng kiểm toán; tính đầy đủ, đúng đắn, hợp lý, hợp pháp của các nội dung trong dự thảo báo cáo kiểm toán Kiểm toán trưởng yêu cầu, chỉ đạo đoàn kiểm toán sửa chữa những nội dung chưa đạt yêu cầu, hoàn chỉnh dự thảo báo cáo kiểm toán để trình Lãnh đạo KTNN, đồng thời gửi cho các đơn vị quản lý chuyên trách để thẩm định
Các đơn vị chuyên trách thực hiện thẩm định toàn diện nội dung, kết cấu
của dự thảo báo cáo quản lý chất lượng kiểm toán; lập báo cáo thẩm định, trình Lãnh đạo KTNN xét duyệt
Lãnh đạo KTNN xét duyệt dự thảo báo cáo kiểm toán: Kiểm toán trưởng
và Trưởng Đoàn kiểm toán có trách nhiệm bảo vệ dự thảo báo cáo kiểm toán trước Lãnh đạo KTNN trong cuộc họp xét duyệt báo cáo kiểm toán Trên cơ sở xem xét ý kiến của đoàn kiểm toán, báo cáo thẩm định của các đơn vị chức năng, Lãnh đạo KTNN chủ trì cuộc họp sẽ kết luận những nội dung cần chỉnh
sửa, bổ sung, hoàn thiện báo cáo kiểm toánKiểm toán trưởng KTNN chuyên ngành (khu vực) chỉ đạo Trưởng Đoàn kiểm toán hoàn thiện dự thảo báo cáo
kiểm toán theo ý kiến kết luận của Lãnh đạo KTNN; gửi lấy kiến của đơn vị được kiểm toán Sau khi nhận được ý kiến của đơn vị được kiểm toán, Kiểm toán trưởng chỉ đạo Trưởng Đoàn kiểm toán đề xuất ý kiến xử lý, trình Lãnh đạo KTNN xem xét, quyết định Tiếp theo, dự thảo báo cáo kiểm toán được tổ chức thông qua đơn vị được kiểm toán Kiểm toán trưởng KTNN chuyên ngành (khu vực) chỉ đạo Trưởng Đoàn kiểm toán hoàn thiện dự thảo báo cáo kiểm toán theo