Ngược lại, nghiên cứu của Prayitno và cộng sự 2013 đưa ra kết luận rằng những hộ gia đình có vốn xã hội cao thì sẽ có thành viên trong gia đình là người di cư dài hạn, nghĩa là vốn xã hộ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
***
TRẦN THỊ HỒNG NHUNG
ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA VỐN XÃ HỘI ĐẾN DI CƯ:
NGHIÊN CỨU ĐIỂN HÌNH CHO VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP Hồ Chí Minh – Năm 2015
Trang 2***
TRẦN THỊ HỒNG NHUNG
ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA VỐN XÃ HỘI ĐẾN DI CƯ:
NGHIÊN CỨU ĐIỂN HÌNH CHO VIỆT NAM
Chuyên ngành: Kinh tế phát triển
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: GS.TS NGUYỄN TRỌNG HOÀI
TP Hồ Chí Minh – Năm 2015
Trang 3Tôi xin cam đoan luận văn này hoàn toàn do tôi thực hiện Các đoạn trích dẫn và số liệu sử dụng trong luận văn đều được dẫn nguồn và có độ chính xác cao nhất trong phạm vi hiểu biết của tôi Luận văn này không nhất thiết phản ánh quan điểm của Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 23 tháng 10 năm 2015
Tác giả
Trần Thị Hồng Nhung
Trang 4MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 5
1.3 Phạm vi nghiên cứu 5
1.4 Cấu trúc luận văn 6
CHƯƠNG 2: LƯỢC KHẢO CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC 7
2.1 Lược khảo cơ sở lý thuyết 7
2.1.1 Lý thuyết về di cư 7
2.1.2 Lý thuyết về vốn xã hội 21
2.2 Lược khảo các nghiên cứu trước liên quan 27
2.2.1 Kan (2006) 27
2.2.2 David và cộng sự (2010) 29
2.2.3 Prayitno và cộng sự (2013) 31
2.2.4 Zhao và Yao (2013) 32
CHƯƠNG 3: KHUNG PHÂN TÍCH VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 36
3.1 Khung phân tích cho nghiên cứu 36
3.1.1 Đo lường di cư 36
3.1.2 Đo lường vốn xã hội của hộ gia đình và dấu kỳ vọng 36
3.1.3 Các biến kiểm soát và dấu kỳ vọng 39
3.1.4 Khung phân tích 42
3.2 Mô hình kinh tế lượng 44
3.2.1 Phương pháp nghiên cứu bằng mô hình số đếm 44
3.2.2 Mô hình kinh tế lượng và mối quan hệ của từng biến 47
3.3 Dữ liệu 51
Trang 54.1 Thực trạng di cư Việt Nam 55
4.2 Mô tả các biến trong mô hình 61
4.3 Kết quả nghiên cứu thựcnghiệm 63
4.3.1 Xác định vấn đề dữ liệu phân tán không đồng đều 63
4.3.2 Xác định vấn đề thừa 0 64
4.3.3 Xác định mô hình phù hợp và giải thích ý nghĩa 65
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH 70
5.1 Kết luận 70
5.2 Hàm ý chính sách 72
5.3 Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo 75
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Tổng kết lý thuyết về di cư và ứng dụng cho luận văn 19
Bảng 2.2: Tổng hợp các nghiên cứu trước và ứng dụng 34
Bảng 3.1: Khung phân tích nghiên cứu của luận văn 43
Bảng 3.2: Tổng hợp các mô hình có thể có của luận văn 44
Bảng 3.3: Biến và dấu kỳ vọng của biến trong nghiên cứu của luận văn 50
Bảng 4.1: Nơi thực tế thường trú tại thời điểm 1/4/2012 và 1/4/2013 chia theo thành thị/ nông thôn 58
Bảng 4.2: Tỷ suất di cư của dân số từ 5 tuổi trở lên chia theo giới tính và trình độ học vấn, năm 2013 (‰) 59
Bảng 4.3: Tỷ suất di cư của dân số từ 15 tuổi chia theo giới tính và tình trạng hôn nhân, năm 2013 (‰) 60
Bảng 4.4: Số lượng hộ có và không có người di cư phân theo thời điểm khảo sát 61
Bảng 4.5: Số lượng người di cư ở từng hộ chia theo tỉnh 62
Bảng 4.6: Số lượng hộ nhận được sự hỗ trợ tiền bạc khi cần 62
Bảng 4.7: Kết quả hồi quy dữ liệu mô hình hồi quy nhị thức âm 64
Bảng 4.8: Kết quả hồi quy dữ liệu mô hình hồi quy nhị thức âm thừa 0 65
Bảng 4.9: Kết quả tác động từng phần của các biến trong mô hình hồi quy nhị thức âm thừa 0 69
Trang 7DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Hình 4.1: Di cư quốc tế thuần Việt Nam (người) 55 Hình 4.2: Tỷ suất di cư thuần chia theo vùng kinh tế - xã hội Việt Nam từ 2005 đến
2013 (‰) 56 Hình 4.3: Tỷ suất di cư thuần từ nông thôn ra thành thị ở Việt Nam từ 2005 – 2013 (‰) 57 Hình 4.4: Tỷ lệ dân thành thị ở Việt Nam từ 2000 – 2013 (‰) 57
Hình 4.5: Tỷ suất di cư đặc trưng theo tuổi và giới tính năm 2013 59
Trang 8CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1.1 Đặt vấn đề
Một trong những mục tiêu tổng quát của kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội năm năm 2016 – 2020 ở Việt Nam là “phấn đấu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại” (Thủ tướng Chính Phủ, 2014, trang 2) Để trở một nước công nghiệp thì hai trong số các tiêu chí là cơ cấu lao động phi nông nghiệp – nông nghiệp là 75% - 25% và tỷ lệ dân số đô thị là từ 50% trở lên (Nguyễn Hồng Sơn và Trần Quang Tuyến, 2014) Tuy vậy, tỷ lệ lao động và dân nông thôn ở nước ta vẫn duy trì mức cao, cụ thể trong năm 2014, tỷ lệ lao động trên
15 tuổi ở khu vực nông thôn là 69,6%, còn tỷ lệ dân nông thôn ở Việt Nam là 66,9% (Tổng Cục thống kê, 2015) Xét ở khu vực ASEAN thì trong năm 2013, tỷ lệ dân nông thôn Việt Nam cao thứ ba, chỉ thấp hơn Campuchia và Đông Timor, trong khi đó, tỷ lệ dân nông thôn ở các nước phát triển trên thế giới đều rất thấp, ví dụ như Nhật là 8% còn Úc là 11% (World Bank, 2015b) Những con số thống kê như vậy cho thấy hai trong những điều kiện cần để Việt Nam trở thành một nước công nghiệp là tăng tỷ lệ lao động trong khu vực phi nông nghiệp cũng như tăng tỷ lệ dân
số thành thị Để làm được điều này thì điều cần thiết là sự di cư nông thôn – thành thị vì việc di cư trong nước sẽ góp phần vào việc phát triển kinh tế thông qua việc người lao động di chuyển đến các khu công nghiệp và các khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (Liên hợp quốc tại Việt Nam, 2010) cũng như có thể làm tăng dân số ở khu vực thành thị
Tuy vậy, việc di cư này cũng mang lại những thách thức cho cộng đồng nơi đến nhằm đáp ứng các nhu cầu của người nhập cư tại những nơi này Đô thị hóa do di
cư tại khu vực thành thị đã gây áp lực lên cơ sở hạ tầng và dịch vụ xã hội hiện tại
Đô thị hóa nhanh chóng không được quản lý và không có kế hoạch sẽ dẫn tới các hậu quả về xã hội và làm giảm chất lượng cuộc sống, các dịch vụ đô thị như nhà ở, giáo dục, chăm sóc y tế, nước sạch, vệ sinh và giao thông không được đảm bảo Việc này cũng gây áp lực lên kinh tế vì cơ sở hạ tầng không đảm bảo cho giao thông cũng như thu hút vốn đầu tư Tuy nhiên, nếu làm phép so sánh giữa Hà Nội,
Trang 9Thành phố Hồ Chí Minh và Thành phố New York thì dễ nhận thấy nguyên nhân dẫn đến những áp lực đến nơi di cư là do sự không đồng đều trong phân bố dân cư khu nội bộ thành phố Mật độ dân số của Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh thấp hơn nhiều so với Thành phố New York, cụ thể của Hà Nội trong năm 2013 là 2.169 người/ km2
, của Thành phố Hồ Chí Minh trong năm 2011 là 3.590 người/ km2, của Thành phố New York trong năm 2010 là 10.401 người/ km2 nhưng mật độ dân cư trong nội bộ Thành phố New York lại đồng đều hơn so với Hà Nội và Thành phố
Hồ Chí Minh (Department of City Planning City of New York, 2011; Cục thống kê thành phố Hồ Chí Minh, 2012; Cục thống kê Hà Nội, 2014) Có thể nói di cư không phải là vấn đề của đô thị mà chính là việc phân bố dân số không đồng đều trong nội
bộ các khu đô thị đó mới là vấn đề Do đó, chính sách đưa ra không nên ngăn cản dòng dân nhập cư mà nên quản lý dòng dân nhập cư một cách hiệu quả dựa trên việc ủng hộ di cư tích cực Việc quản lý dòng dân nhập cư ở đây nghĩa là nếu địa phương có dân di cư đi biết được người dân sẽ di cư và di cư đến đâu thì họ sẽ có biện pháp hỗ trợ những người dân này, giúp họ an cư lạc nghiệp tại nơi đến, giảm gánh nặng lên nơi tiếp nhận Còn di cư tích cực ở đây nghĩa là di cư mang lại lợi ích cho cộng đồng nơi đến cũng như cộng đồng nơi ở gốc Các lợi ích này bao gồm các mặt như kinh tế, xã hội Phía cộng đồng nơi ở gốc có thể giảm được lao động dư thừa, tăng thu nhập nhờ khoản tiền chuyển về của người di cư thông qua đó nâng cao mức sống Còn phía cộng đồng nơi tiếp nhận có thể tiếp nhận thêm người và giảm tình trạng thiếu lao động đồng thời làm đa dạng thêm đời sống văn hóa do những người nhập cư đem lại
Việc di cư xảy ra do nhiều yếu tố, bên cạnh lý do như kinh tế, thiên tai, dịch bệnh thì trong những giai đoạn gần đây, các nhà nghiên cứu đã chỉ ra được rằng vốn
xã hội có tác động đến vấn đề này Thực vậy, nghiên cứu của Dijk (1997) kết luận rằng những người có mối quan hệ chặt chẽ với người đang di cư thì thường sẽ tiến hành di cư, điều này có nghĩa là ban đầu, di cư thường diễn ra chậm, nhưng một khi
đã có người di cư thì số lượng người di cư sẽ tăng lên rất nhanh chóng Theo Palloni
và cộng sự (2001), các gia đình có anh chị lớn tuổi hơn di cư thì làm tăng khả năng
Trang 10di cư của những người còn lại gấp ba lần Nhìn chung, các nghiên cứu chỉ ra việc di
cư là do mối quan hệ chặt chẽ giữa người đang di cư và người ở lại vì các cá nhân
có thể có được những thông tin giá trị, sự hỗ trợ về tinh thần cũng như vật chất từ người di cư khi họ quyết định di cư, do đó các cá nhân này sẽ di cư Ngoài ra, còn
có một hướng nghiên cứu khác, đó là tập trung vào vốn xã hội giữa các cá nhân và những người ở lại hay còn gọi là vốn xã hội địa phương Kan (2006) nghiên cứu về vai trò của vốn xã hội trong hành vi di cư của hộ gia đình Kết quả của nghiên cứu cho thấy vốn xã hội địa phương làm giảm di cư David và cộng sự (2010) đề cập đến vốn xã hội địa phương và tác động của nó đến sự di cư trong bài nghiên cứu của
họ Kết luận họ đưa ra là những cá nhân có vốn xã hội nội bộ địa phương cao thì ít
di cư và khả năng thất nghiệp cao, trong khi đó những cá nhân có vốn xã hội nội bộ địa phương thấp thì di cư nhiều và khả năng thất nghiệp thấp Ngoài ra còn có nghiên cứu của Zhao và Yao (2013) chỉ ra rằng vốn xã hội địa phương của nông thôn Trung Quốc có tác động tiêu cực đến việc di cư Ngược lại, nghiên cứu của Prayitno và cộng sự (2013) đưa ra kết luận rằng những hộ gia đình có vốn xã hội cao thì sẽ có thành viên trong gia đình là người di cư dài hạn, nghĩa là vốn xã hội có tác động tích cực đến việc di cư
Bên cạnh các lợi ích của vốn xã hội như cung cấp, lan tỏa thông tin, tạo sức mạnh, sự đoàn kết cộng đồng, tăng phúc lợi xã hội (Adler và Kwon, 2000) thì cũng vốn xã hội cũng có những tác động xấu Đầu tiên là sự đoàn kết cộng đồng có thể phản tác dụng vì khối đoàn kết mạnh trong cộng đồng sẽ làm cho cá nhân trong cộng đồng đó bị gắn chặt trong các mối quan hệ và điều này làm cho các cá nhân không có các ý tưởng mới, dần dần tạo nên chủ nghĩa địa phương hẹp hòi và tính trì trệ (Adler và Kwon, 2000) Thứ hai là vốn xã hội tạo nên tình trạng kẻ ăn theo và cản trở việc kinh doanh Những quy tắc đặt ra trong cộng đồng có thể làm các thành viên gia đình phải chia sẻ nguồn lực cho các gia đình khác và do đó làm giảm động lực phát triển kinh doanh dẫn đến việc tích lũy vốn chậm (Portes, 1998) Ngoài ra, Putman (1993) cũng cho rằng vốn xã hội cũng có các tác động xấu, cụ thể ở đây là vốn xã hội có thể gây ra tình trạng mất công bằng xã hội, các lề thói và mạng lưới
Trang 11chỉ phục vụ cho một nhóm người và do đó sẽ cản trở những người khác, đặc biệt là khi lề thói mang tính chất phân biệt đối xử Dựa trên thực tế những gì đang diễn ra
ở xã hội Việt Nam, có thể nói chúng ta cũng đang hứng chịu những tác động xấu của vốn xã hội Thật vậy, một trong các thói xấu của người Việt là tâm lý hưởng thụ, mà tâm lý này sinh ra từ sự ỷ lại vào cộng đồng, vào người khác Do đó, những điều này đã hướng tác giả đến giả định khác rằng liệu có phải vốn xã hội của cá nhân, của hộ gia đình với cộng đồng đó càng cao thì khả năng di cư càng cao vì họ mong muốn phát triển ở một vùng đất mới, đặc biệt là ở đất nước mà người dân còn mang tư tưởng chỉ trích nhiều hơn là khuyến khích như Việt Nam
Với giả thuyết vốn xã hội của hộ gia đình càng cao thì số lượng người di cư trong hộ càng cao, luận văn đưa ra nghiên cứu “Đánh giá tác động của vốn xã hội đến di cư: Nghiên cứu điển hình ở Việt Nam”, trong đó tập trung vào hướng nghiên cứu vốn xã hội địa phương Lý do tác giả tập trung vào hướng nghiên cứu này vì như đã trao đổi ở trên, vốn xã hội của cá nhân đối với cộng đồng sinh sống không chỉ mang lại những điều tích cực mà cũng dẫn đến những hệ lụy không mong muốn (Putman, 1993; Portes, 1998; Adler và Kwon, 2000)
Nghiên cứu được coi là gần nhất với nghiên cứu của luận văn là nghiên cứu của Prayitno và cộng sự (2013) Nghiên cứu của luận văn và của Prayitno và cộng sự (2013) đều lựa chọn hộ gia đình để khảo sát Tuy nhiên, luận văn không chỉ lựa chọn hộ có người di cư mà cả hộ không có người di cư cũng được khảo sát, trong khi đó nghiên cứu của Prayitno và cộng sự (2013) chỉ lựa chon những hộ có ít nhất một người di cư Ngoài ra, hai nghiên cứu còn có sự tương đồng trong việc lựa chọn biến để đo lường vốn xã hội Trong nghiên cứu của luận văn, do hạn chế về số liệu nên vốn xã hội được luận văn đo lường dựa trên ba khía cạnh, đó là nhóm và mạng lưới, nguồn thông tin và liên lạc, sự gắn kết xã hội Trong nghiên cứu của Prayitno
và cộng sự (2013) thì vốn xã hội được đo lường dựa trên bốn khía cạnh khá giống với các khía cạnh được luận văn lựa chọn, đó là ý thức về nơi ở, ý thức về cộng đồng, mối quan hệ hàng xóm, sự tham gia vào cộng đồng Sự khác nhau giữa nghiên cứu của luận văn và của Prayitno và cộng sự (2013) là luận văn không sử
Trang 12dụng phương pháp phân tích thành phần chính để xây dựng chỉ số cho vốn xã hội, còn nghiên cứu của Prayitno và cộng sự (2013) thì sử dụng phương pháp này Lý do
là vì Prayitno và cộng sự (2013) tự thiết kế các câu hỏi đo lường vốn xã hội dựa trên
lý thuyết nền về vốn xã hội, còn luận văn sử dụng bảng câu hỏi với các câu hỏi đã được Grootaert và cộng sự (2004) kiểm chứng qua thực tế Ngoài ra nghiên cứu của Prayitno và cộng sự (2013) sử dụng mô hình cân bằng cấu trúc để giải thích mối quan hệ giữa vốn xã hội và việc di cư, trong khi đó luận văn sử dụng mô hình số đếm Lý do tác giả sử dụng mô hình này không phải là vì vấn đề kỹ thuật mà là vì mục đích của nghiên cứu Nghiên cứu của luận văn tập trung vào việc làm cách nào
để tăng lượng di cư và xác định được hộ gia đình nào sẽ có người di cư, từ đó có chính sách can thiệp và hỗ trợ hiệu quả Nếu sử dụng mô hình cân bằng cấu trúc thì chỉ tìm được mối quan hệ giữa các biến chứ không tìm ra được mối quan hệ tổng giữa vốn xã hội và di cư
Nghiên cứu này được thực hiện nhằm tìm ra chính sách để tăng lượng dân di cư tích cực lên khu vực thành thị và thông qua đó thúc đẩy quá trình đô thị hóa, giảm
số lượng lao động trong lĩnh vực nông nghiệp cũng như tăng số lượng dân thành thị góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại, hoàn thành mục tiêu phát triển Việt Nam thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại hóa trong năm 2020
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát là đánh giá tác động của vốn xã hội đến di cư, qua đó đưa ra chính sách nhằm tác động đến lượng dân di cư lên các khu vực đô thị một cách hợp
lý
Mục tiêu cụ thể:
Đánh giá tác động của vốn xã hội đến di cư
Gợi ý chính sách sách nhằm tác động đến lượng dân di cư tích cực từ nông thôn lên các khu vực đô thị
1.3 Phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Các hộ gia đình thuộc 12 tỉnh Hà Tây, Lào Cai, Phú Thọ, Lai Châu, Điện Biên, Nghệ An, Quảng Nam, Khánh Hòa, Đăk Lăk, Đăk Nông, Lâm
Trang 13Đồng và Long An Các tỉnh này đại diện cho các khu vực ở nước Việt Nam, cụ thể: tỉnh Hà Tây ở Đồng bằng sông Hồng, tỉnh Lào Cai và Phú Thọ ở Đông Bắc, tỉnh Lai Châu và Điện Biên ở Tây Bắc, tỉnh Nghệ An ở Bắc Trung Bộ, tỉnh Quảng Nam
và Khánh Hòa ở Nam Trung Bộ, tỉnh Đăk Lăk, Đăk Nông và Lâm Đồng ở Tây Nguyên, tỉnh Long An ở Đồng bằng sông Cửu Long Các tỉnh này cũng được Viện nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương tiến hành khảo sát từ năm 2006 đến nay nên đảm bảo về sự chính xác của số liệu
Phạm vi nghiên cứu: 3.208 hộ gia đình
Thời gian nghiên cứu: Năm 2010, năm 2011 và năm 2012
Phương pháp nghiên cứu: Sử dụng mô hình số đếm Biến phụ thuộc trong nghiên cứu của luận văn là số lượng người di cư của hộ thời điểm khảo sát đến hết năm 2012 nên biến phụ thuộc này thuộc dữ liệu số đếm, mà theo Gujarati (2003), Cameron và Trivedi (2005) thì trong trường hợp này cần sử dụng mô hình số đếm Thông qua mô hình này, tác giả sẽ tìm hiểu được mối quan hệ giữa vốn xã hội và số lượng người di cư của hộ trong vòng hai năm sau
1.4 Cấu trúc luận văn
Chương hai đề cập đến cơ sở lý thuyết, bao gồm lý thuyết về di cư, về vốn xã hội Ngoài ra chương hai còn còn đưa ra một số nghiên cứu trước có liên quan đến bài nghiên cứu của luận văn Phương pháp nghiên cứu được thể hiện ở chương ba,
cụ thể là khung phân tích, mô hình kinh tế lượng và dữ liệu Kết quả nghiên cứu được mô tả ở chương bốn Chương năm là chương cuối cùng và đưa ra kết luận, hàm ý chính sách cũng như những hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo của bài nghiên cứu này
Trang 14CHƯƠNG 2: LƯỢC KHẢO CƠ SỞ LÝ THUYẾT
VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC 2.1 Lược khảo cơ sở lý thuyết
2.1.1 Lý thuyết về di cư
2.1.1.1 Di cư và phân loại di cư
Theo National Geographic (2005) thì di cư là sự di chuyển của con người trong phạm vi thế giới từ nơi này sang nơi khác với mục đích thường trú hoặc tạm trú, thông thường là vượt qua ranh giới về chính trị Một ví dụ của di cư mục đích tạm trú là sự di cư theo mùa của những người nông dân Con người có thể di cư tự nguyện hoặc bị bắt buộc phải di cư Có bốn phạm vi di cư, đó là di cư giữa các lục địa, di cư trong các lục địa (giữa các quốc gia trong một lục địa), di cư trong các quốc gia (giữa các vùng trong một quốc gia) và di cư nông thôn – thành thị
Theo Piesse (2014), những người di cư được phân làm hai loại, đó là di cư nhân đạo và di cư kinh tế Người di cư nhân đạo bao gồm những người tỵ nạn và tìm kiếm nơi tỵ nạn, còn người di cư kinh tế bao gồm những người di cư để tìm việc hoặc để cải thiện tình trạng tài chính của mình Trong đó, tỵ nạn được hình thành từ
sự sợ hãi có cơ sở và sự bị ngược đãi vì những lý do chủng tộc, tôn giáo, dân tộc, quan điểm chính trị hoặc do là thành viên của một nhóm xã hội cụ thể nào đó mà dẫn đến kết quả là không thể hoặc không muốn sống quốc gia đó (Liên hợp quốc, 1951) Một cách phân loại khác về di cư là những người di cư được phân thành di
cư dài hạn và di cư ngắn hạn (United Nations, 1998), trong đó những người có thời gian sống ở nơi ở mới từ đủ 12 tháng trở lên được xem là di cư dài hạn, những người có thời gian sống ở nơi ở mới từ đủ 3 tháng đến dưới 12 tháng được xem là di
cư ngắn hạn
Mục tiêu nghiên cứu của luận văn là đưa ra chính sách nhằm tăng lượng dân di
cư lên các khu vực đô thị một cách hợp lý để thúc đẩy phát triển đất nước, điều này
có nghĩa là nghiên cứu này không hướng đến những người di cư vì không thể hoặc không muốn sống ở Việt Nam mà hướng đến những người di cư nhằm đem lại lợi
Trang 15ích cho cả nơi di cư đến và nơi ở gốc Do đó, nghiên cứu của luận văn không xét
trong phạm vi di cư nhân đạo mà chỉ xét trong phạm vi di cư kinh tế
a.1 Đăng ký dân số (thống kê hộ tịch, hộ khẩu)
Hiện nay chỉ một vài nước đã phát triển sử dụng đăng ký dân số để báo cáo về luồng di dân, trong khi đó không có nước đang phát triển nào sử dụng số liệu này
Dữ liệu đăng ký dân số có một số hạn chế sau: Đầu tiên, dữ liệu này chỉ gồm những trường hợp di cư hợp pháp Thứ hai, việc đăng ký dân số thường diễn ra chậm hơn
so với thực tế diễn ra Thêm vào đó, cơ quan tiến hành đăng ký dân số không phải là
cơ quan thống kê quốc gia nên sẽ gặp vấn đề về thống nhất số liệu và thống nhất định nghĩa thống kế Cuối cùng, để tiến hành đăng ký dân số đòi hỏi phải có kinh phí và nhân lực, điều này vượt quá khả năng của các nước đang phát triển
a.2 Điều tra dân số
Hầu hết tất cả các quốc gia tiến hành điều tra dân số ít nhất một lần và thường được tiến hành định kỳ mười năm Ưu điểm của dữ liệu này là nó bao hàm nhiều khía cạnh khác, không chỉ là dữ liệu dân số Những đặc điểm nhân khẩu học và kinh
tế - xã hội cơ bản của cá nhân, hộ gia đình và những đặc điểm cá nhân đơn giản của người di cư đều được thu thập trong cuộc điều tra dân số Tuy nhiên, dữ liệu này cũng có những hạn chế sau: Đầu tiên, khi cuộc điều tra dân số tiến hành mười năm một lần thì dữ liệu sẽ không phù hợp để nghiên cứu các xu hướng của hiện tượng diễn ra một cách liên tục như hiện tượng di cư Thứ hai, dữ liệu của cuộc điều tra dân số không đủ cho cuộc điều tra chuyên sâu vì mẫu điều tra khá ngắn gọn Thứ
Trang 16ba, hầu hết các cuộc điều tra dân số chỉ lấy số liệu ứng với thời điểm hiện tại nên các dữ liệu về di cư tạm thời, di cư theo mùa có thể sẽ không được báo cáo lại trong
dữ liệu của cuộc điều tra Thứ tư, chỗ ở của những người di cư thường không cố định nên dữ liệu của những người này có thể sẽ bị thiếu trong cuộc điều tra dân số Cuối cùng, cuộc điều tra dân số thường không ghi nhận dữ liệu di cư bất hợp pháp
a.3 Khảo sát
Các cuộc khảo sát cung cấp cho các nhà nghiên cứu những phương thức hiệu quả hơn và ít tốn chi phí hơn để đưa ra các hàm ý chính sách liên quan đến chiến lược di cư trong tương lai và phân tích tác động của di cư đến cộng đồng gốc và cộng đồng di cư đến Có ba loại khảo sát thường được sử dụng trong thu thập dữ liệu di cư là:
- Khảo sát lữ hành: Loại khảo sát này được sử dụng để bổ sung cho dữ liệu hiện
có về các luồng di cư Hạn chế chính của phương pháp này là chỉ một phần nhỏ những người lữ hành là những người di cư Ngoài ra, vì bản chất ngắn hạn của các di chuyển nên khi sử dụng khảo sát lữ hành có thể gây ra hiện tượng đếm trùng dữ liệu Cuối cùng, tính đại diện của dữ liệu trong khảo sát này không cao
vì những người lữ hành chỉ là các biến ngẫu nhiên của dân số
- Khảo sát định tính: Loại khảo sát này bao hàm các phỏng vấn sâu những người
di cư hoặc hộ gia đình có người di cư Loại khảo sát này có hạn chế là kích cỡ mẫu nhỏ và chỉ được tiến hành ở nơi có người di cư Tuy nhiên, khảo sát này lại
là nguồn dữ liệu tốt để có được những thông tin ban đầu để hiểu được các vấn đề gây ra di cư
- Khảo sát hộ gia đình: Loại khảo sát này giúp cung cấp các thông tin sâu cần thiết cho phân tích di cư Khảo sát hộ gia đình được phân thành hai loại là khảo sát chuyên dụng và khảo sát nhiều mục đích Khảo sát chuyên dụng không phù hợp với các nước có thu nhập thấp vì các hệ thống khảo sát hộ gia đình ở các nước này không ổn định và vì thiếu vốn Do đó, nhiều nước sử dụng khảo sát nhiều mục đích để thu thập dữ liệu di cư Điểm quan trọng và có lợi của khảo sát nhiều mục đích là nó bao hàm nhiều chủ đề và hầu hết các cuộc khảo sát thu thập dữ
Trang 17liệu toàn diện về phúc lợi của hộ gia đình nên cho phép các nhà nghiên cứu đưa
ra phân tích về các biến sở thích như di cư Tuy nhiên, khảo sát nhiều mục đích cũng bị vấn đề là dữ liệu về từng chủ đề không đủ độ sâu cần thiết, nhưng dù sao vẫn hơn dữ liệu từ đăng ký dân số và điều tra dân số
b Phương pháp gián tiếp
Theo Tổng Cục dân số (2011), trường hợp thiếu các nguồn số liệu khi áp dụng phương pháp trực tiếp thì có thể sử dụng phương pháp gián tiếp Phương pháp này dùng để tính một số chỉ tiêu di dân thông qua thống kê hộ tịch, biến động chung, biến động dân số tự nhiên và biến động dân số cơ học
Nếu có biến gia tăng dân số chung và gia tăng dân số tự nhiên thì công thức tính
di dân như sau:
NM = (Pt+n - Pt) - (B - D)t,t+n, Trong đó:
NM: Lượng di dân thuần tuý, nghĩa là chênh lệch giữa số nhập cư và xuất cư trong khoảng thời gian từ thời điểm năm t đến thời điểm năm t+n
Pt và Pt+n: Tổng dân số vào thời điểm năm t và năm t+n
B và D: Tổng số sinh và chết trong cùng thời kỳ
Nếu không có dữ liệu về sinh và tử thì công thức tính di dân thuần túy gần đúng như sau:
NM = (Px NMR0) x n Trong đó :
NM: Lượng di dân thuần tuý, nghĩa là chênh lệch giữa số nhập cư và xuất cư giữa hai thời điểm khảo sát
NMR0: Tỷ suất di dân thuần túy của kỳ gốc
P: Số dân trung bình giữa hai thời điểm khảo sát
n: Khoảng thời gian giữa hai thời điểm khảo sát
Như vậy có hai phương pháp đo lường di cư được đề cập ở trên, trong đó phương pháp đo lường gián tiếp được sử dụng khi không có đầy đủ dữ liệu về di cư
Trang 18Để đạt hiệu quả về kết quả nghiên cứu và chi phí, luận văn sử dụng dữ liệu dựa trên khảo sát hộ gia đình Thông qua khảo sát này, luận văn sẽ có được nhiều thông tin
để nghiên cứu về di cư thông qua việc lấy dữ liệu về vốn xã hội và các đặc điểm hộ
2.1.1.3 Các lý thuyết giải thích di cƣ
Quy luật di cư của Ravenstein (1885, 1889) là học thuyết đặt nền móng cho việc nghiên cứu di cư cho đến thời điểm hiện tại Dựa trên nghiên cứu thực nghiệm, Ravenstein (1885, 1889) lập luận các giả thuyết về di cư như sau: (1) đa số người di
cư di chuyển ở phạm vi ngắn; (2) việc di cư được thực hiện từng bước một; (3) những người di cư di chuyển xa nhìn chung là di chuyển đến các thành phố công nghiệp hoặc thương mại lớn; (4) mỗi dòng di cư sẽ tạo ra dòng di cư ngược lại; (5) phụ nữ có xu hướng di cư nhiều hơn nam giới ở phạm vi trong nước, còn nam giới thường di cư ra khu vực nước ngoài hơn; (6) hầu hết người di cư là người lớn, gia đình thường ít khi di cư; (7) quá trình đô thị hóa là thu hút dân số từ các vùng ngoại
ô hơn là gia tăng dân số tự nhiên; (8) sự di cư tăng lên song song với sự phát triển của công nghiệp và giao thông vận tải; (9) hầu hết sự di cư là từ khu vực nông thôn sang khu vực thành thị; (10) kinh tế là nhân tố quan trọng nhất khi di cư
Đến thời điểm hiện tại, việc nghiên cứu di cư đã phát triển hơn với khá nhiều lý thuyết riêng biệt Có vài học giả đứng ra để gộp và phân loại về các lý thuyết di cư
đã được công bố, trong đó có hai học giả tác giả muốn đề cập đến, đó là Massey và cộng sự (1993) và Faist (2000)
Massey và cộng sự (1993) phân chia các lý thuyết di cư thành hai nhóm, đó là sự
mở đầu di cư và sự duy trì di cư Sự mở đầu di cư bao gồm các lý thuyết giải thích tại sao di cư lại xảy ra, các lý thuyết này là: lý thuyết di cư tân cổ điển với mức độ
vi mô và vĩ mô, lý thuyết di cư kinh tế mới, lý thuyết thị trường lao động song song
và lý thuyết hệ thống thế giới Các lý thuyết này giải thích được lý do tại sao di cư lại bắt đầu nhưng lại không giải thích được tại sao di cư lại duy trì và tiếp tục theo không gian và thời gian Do đó, một nhóm thứ hai của các lý thuyết di cư là sự duy trì di cư đã được đề cập đến, nhóm này bao gồm các lý thuyết sau: lý thuyết mạng lưới, lý thuyết tổ chức, lý thuyết nguyên nhân tích tụ và lý thuyết hệ thống di cư
Trang 19Faist (2000) thì chia các lý thuyết di cư thành ba mức độ phân tích, đó là: mức
độ vi mô, mức độ trung mô và mức độ vĩ mô Ở mức độ vi mô, nguyên nhân dẫn đến di cư là do mong đợi và nguyện vọng của cá nhân di cư Mức độ vi mô này gồm
có các lý thuyết là lý thuyết kéo – đẩy, lý thuyết di cư tân cổ điển và lý thuyết hệ thống xã hội Ở mức độ trung mô, nguyên nhân dẫn đến di cư là do mạng lưới xã hội Mức độ trung mô này gồm có các lý thuyết là lý thuyết vốn xã hội, lý thuyết tổ chức, lý thuyết mạng lưới, lý thuyết nguyên nhân tích tụ và lý thuyết di cư kinh tế mới Ở mức độ vĩ mô, nguyên nhân dẫn đến di cư là do cấu trúc cơ hội mức độ vĩ
mô, chẳng hạn như do sự khác biệt về cơ hội việc làm và thu nhập ở các vùng Mức
độ vĩ mô này gồm có các lý thuyết là lý thuyết di cư tân cổ điển, lý thuyết hệ thống
di cư, lý thuyết thị trường lao động song song, lý thuyết hệ thống thế giới và lý thuyết chuyển tiếp di cư Luận văn nghiên cứu về mối quan hệ giữa vốn xã hội và di
cư, do đó lý thuyết di cư được tác giả sử dụng trong luận văn này là lý thuyết ở mức
độ trung mô mà cụ thể là lý thuyết vốn xã hội Ngoài ra, để xác định các biến kiểm soát cho mô hình nghiên cứu của luận văn thì tác giả sẽ tóm lược về nội dung của các lý thuyết di cư theo cách phân chia của Faist (2000)
a Mức độ vi mô
a.1 Lý thuyết kéo - đẩy
Lee (1966) cho rằng quyết định di cư được dựa trên bốn nhóm nhân tố kéo – đẩy, đó là các yếu tố gắn bó với nơi ở gốc, các yếu tố gắn với nơi sẽ di cư đến, các trở ngại di cư và các nhân tố thuộc về bản thân người di cư
Theo Lee (1966) thì số lượng di cư sẽ tùy thuộc vào các yếu tố cụ thể sau:
- Khu vực có mức độ đa dạng hóa cao thì số lượng di cư ở khu vực đó sẽ tăng lên
- Con người trong khu vực có sự tương đồng về dân tộc, học vấn, thu nhập, truyền thống thì số lượng di cư ở khu vực đó giảm xuống
- Các rào cản về di cư giảm xuống thì số lượng di cư sẽ tăng lên
- Sự lên xuống của nền kinh tế sẽ ảnh hưởng đến di cư, giai đoạn mở rộng thì số lượng di cư đến khu vực đó tăng lên, giai đoạn đi xuống thì số lượng di cư đến khu vực đó sẽ ít lại
Trang 20- Số lượng và tỷ lệ di cư có xu hướng tăng lên theo thời gian trừ khi có xuất hiện
sự cản trở
- Số lượng và tỷ lệ di cư sẽ thay đổi theo tiến trình thể chế của khu vực đến
a.2 Lý thuyết di cƣ tân cổ điển
Faist (2000) cho rằng cách tiếp cận vốn con người được dùng để phân tích lý thuyết di cư tân cổ điển ở mức độ vi mô Dựa trên nghiên cứu của Sjaastad (1962),
di cư được xem như là quyết định đầu tư cá nhân để tăng năng suất vốn con người Mỗi cá nhân sẽ tự tính toán lợi ích – chi phí hợp lý cho mình để đạt được những gì mình mong đợi trong tương lai Cách tiếp cận vốn con người khá hữu ích trong việc giải thích tính chọn lọc của di cư nhưng khá là khó để kiểm chứng bằng phương pháp thực nghiệm
a.3 Lý thuyết hệ thống xã hội
Hoffmann-Novotny (1981) đưa ra lý thuyết hệ thống xã hội để nghiên cứu về di
cư Theo Hoffmann-Novotny (1981), người di cư mong muốn đạt được những điều tốt đẹp ở nơi đến, nhưng thông thường những điều tốt đẹp lại không xảy ra mà thay vào đó những căng thẳng tại nơi ở gốc lại chuyển hóa thành một hình thức khác ở nơi ở mới Mức độ thành công của việc di cư phụ thuộc vào việc phân phối xã hội Một người di cư đến từ một nơi mà tại đó họ ở tầng lớp xã hội thấp thì khi đến nơi ở mới, họ cũng dường như không trở thành tầng lớp xã hội cao hơn Học thuyết này đặt nhân tố kinh tế trong quy mô rộng hơn để xem xét việc gì sẽ xảy ra khi người di
cư đi đến vùng đất mới Học thuyết này cũng rất khó để áp dụng trong nghiên cứu thực nghiệm
b Mức độ trung mô
b.1 Lý thuyết vốn xã hội
Các mối quan hệ xã hội, vốn xã hội trong gia đình, hàng xóm, cộng đồng và các
tổ chức chính thức giúp người di cư ra quyết định di cư và hòa nhập cuộc sống Theo Haug (2008), có năm giả thuyết về mối quan hệ giữa di cư và vốn xã hội:
Trang 21 Giả thuyết sự giống nhau về cấu trúc: Sự tồn tại của họ hàng và bạn bè ở nơi sinh sống làm giảm di cư Lúc này, mạng lưới xã hội ở nơi sinh sống được gọi là nhân tố ngăn di cư
Giả thuyết thông tin: Khi họ hàng và bạn bè đang sống ở nơi khác thì sẽ tăng di
cư Thêm vào đó, việc di cư trở nên thu hút hơn vì lúc này các cá nhân đã biết điều kiện sống ở nơi đến thông qua họ hàng và bạn bè Lúc này, mạng lưới xã hội ở nơi di cư đến là nhân tố kéo di cư
Giả thuyết thuận tiện: Họ hàng và bạn bè khuyến khích và lan truyền sự di cư đến nơi mà họ di cư từ đó Lúc này, mạng lưới xã hội ở nơi di cư đến là nhân tố kéo di cư
Giả thuyết mâu thuẫn: Sự mâu thuẫn giữa gia đình với cộng đồng làm tăng di
cư Lúc này, vốn xã hội ở nơi sinh sống là nhân tố đẩy di cư
Giả thuyết khuyến khích: Gia đình khuyến khích các thành viên di cư Lúc này, mạng lưới xã hội ở nơi sinh sống là nhân tố đẩy di cư
Luận văn chú trọng vào giả thuyết sự giống nhau về cấu trúc, giả thuyết mâu thuẫn và giả thuyết khuyến khích Lý do luận văn tập trung vào các giải thuyết này
vì các giả thuyết này được xét ở phạm vi vốn xã hội địa phương, trong khi đó hai giải thuyết thông tin và giả thuyết thuận tiện thì xét mối quan hệ giữa những người sống ở nơi khác với những người dân địa phương để nói về vốn xã hội Vì số liệu hạn chế nên luận văn không sử dụng giả thuyết khyến khích trong nghiên cứu
b.2 Lý thuyết tổ chức
Theo Massey và cộng sự (1993), một khi di cư diễn ra thì các tổ chức cá nhân và
tổ chức tình nguyện sẽ thành lập để đáp ứng nhu cầu của những người dân muốn nhập cư khi mà con số tiếp nhận của địa phương thấp Ngoài ra, các tổ chức nhân quyền tình nguyện cũng hình thành ở các nước phát triển để đảm bảo quyền cho người nhập cư
Theo Goss và Lindquist (1995), những tổ chức này góp phần giúp duy trì luồng
di cư, do đó làm việc di cư diễn ra nhiều hơn và lan rộng hơn trong một cộng đồng
b.3 Lý thuyết mạng lưới
Trang 22Theo Massey và cộng sự (1993), mạng lưới di cư là một tập hợp các mối quan
hệ giữa các cá nhân với nhau để kết nối giữa người di cư, người đã từng di cư và người chưa di cư ở nơi ở gốc và nơi ở mới với nhau Sự kết nối mạng lưới hình thành nên một dạng của vốn xã hội mà các thành viên có thể dựa vào đó để tìm kiếm được công việc ở nơi ở mới Một khi số lượng người di cư đạt đến mức nào đó thì việc mở rộng mạng lưới sẽ làm giảm chi phí và rủi ro gặp phải khi di cư, do đó làm việc di cư tăng lên và mạng lưới di cư cũng sẽ rộng hơn
b.4 Lý thuyết nguyên nhân tích tụ
Massey và cộng sự (1993) cho rằng cho tới hiện nay, các nhà khoa học xã hội đang thảo luận về sáu nhân tố kinh tế - xã hội tác động đến di cư theo lý thuyết nguyên nhân tích tụ, đó là: sự phân phối thu nhập, sự phân phối đất, tổ chức nông nghiệp, văn hóa, phân phối vốn con người trong vùng và ý nghĩa xã hội của công việc
Về phân phối thu nhập, theo Stark và cộng sự (1986) thì trước đây khi chưa có
di cư xảy ra, sự bất bình đẳng thu nhập trong các hộ nông thôn nghèo không quá lớn bởi vì các gia đình chỉ chi tiêu ở mức đủ sống với khoản thu nhập rất nhỏ từ bên ngoài Tuy nhiên, sau khi có một số người di cư để tham gia vào lực lượng lao động bên ngoài thì khoản tiền gia đình nhận được từ họ làm tăng thu nhập của gia đình Thu nhập của các gia đình có người di cư tăng lên làm cho các gia đình có mức thu nhập thấp còn lại có động lực để di cư Cứ như vậy, bất bình đẳng thu nhập lại càng tăng lên, rồi lại càng làm cho người dân có động lực di cư Việc di cư này sẽ dần kết thúc khi mọi gia đình đều có người di cư vì lúc đó bất bình đẳng thu nhập không còn cao nữa
Về phân phối đất, theo Rhoades (1978) một trong những mục tiêu quan trọng của người di cư từ vùng nông thôn là mua đất Tuy nhiên, vì tiền lương họ nhận được khi làm việc ở nơi di cư cao hơn là lợi nhuận nhận được từ nông nghiệp nên
họ không sử dụng đất này để sản xuất nông nghiệp mà dùng để nghỉ ngơi khi về hưu hoặc để khẳng định danh tiếng của mình Do đó, việc này đã làm giảm nhu cầu
về lao động nông nghiệp, dẫn đến việc di cư lại càng nhiều hơn
Trang 23Về tổ chức nông nghiệp, theo Massey và cộng sự (1993), vì tiếp cận được nguồn vốn nhiều hơn nên hộ gia đình có người di cư khi làm nông nghiệp trên mảnh đất của họ thì họ sẽ sử dụng nhiều phương pháp thâm dụng vốn hơn là những hộ gia đình không có người di cư Do đó, những hộ gia đình có người di cư lại càng cần ít lao động trong hoạt đông nông nghiệp hơn và hình thành áp lực di cư Như vậy, càng di cư nhiều, vốn cho nông nghiệp càng nhiều, lại càng ít nhu cầu lao động nông nghiêp, dẫn đến di cư lại càng tăng
Về văn hóa, theo Piore (1979), khi di cư trở nên phổ biến trong cộng đồng thì nó
sẽ thay đổi nhận thức về văn hóa và giá trị theo cách mà sẽ làm tăng di cư trong tương lai Những người di cư được trải nghiệm trong nền kinh tế công nghiệp tiên tiến sẽ thay đổi thói quen, cách sống của mình mà cuộc sống ở nơi ở gốc khó đáp ứng được Theo Reicher (1982), ở mức độ cộng đồng thì việc di cư sẽ ăn sâu vào trong hành vi và giá trị của cộng đồng đó Những người trẻ xem việc không di cư là biểu hiện của lười biếng, của người không có ước mơ
Về phân phối vốn con người trong vùng, theo Greenwood và cộng sự (1987) việc di cư sẽ làm suy yếu vốn con người ở nơi ở gốc trong khi tăng cường vốn con người ở nơi ở mới Dần dần, nơi ở mới sẽ có nền kinh tế phát triển vì có sự tập trung của vốn con người và lại càng làm cho di cư diễn ra nhiều hơn
Về ý nghĩa xã hội của công việc, theo Piore (1979) thì khi một lượng đáng kể người nhập cư nhận được công việc cụ thể nào đó thì công việc này sẽ được mặc định là việc của người nhập cư và người dân địa phương sẽ miễn cưỡng tiếp nhận công việc này, do đó củng cố thêm cấu trúc nhu cầu về người nhập cư Người nhập
cư thay đổi định nghĩa xã hội về công việc, tạo nên các tầng lớp công việc được xem là dành cho người có học vấn thấp và không phù hợp với người dân địa phương Những công việc như vậy tạo chỗ đứng cho dân nhập cư và do đó làm tăng lượng di cư
b.5 Lý thuyết di cƣ kinh tế mới
Theo Stark và Levhari (1982) thì điểm cốt lõi trong cách tiếp cận này là quyết định di cư không phải là quyết định riêng cá nhân đó mà còn là quyết định của
Trang 24những cá nhân khác có liên quan, thông thường là gia đình và hộ gia đình Việc ra quyết định được dựa trên không chỉ là để tối đa hóa thu nhập và lương mà còn để đa dạng hóa thu nhập và giảm rủi ro Từ đây có thể thấy rằng gia đình và hộ đóng vai trò phù hợp trong việc quản lý rủi ro cho kinh tế gia đình và hộ bằng việc đa dạng hóa nguồn kiếm thu nhập và nguồn lực của hộ thông qua các hoạt động khác nhau cũng như thông qua việc phân bổ nguồn lao động theo không gian và thời gian
c Mức độ vĩ mô
c.1 Lý thuyết di cư tân cổ điển
Theo Faist (2000) thì học thuyết này giải thích di cư là một phần của phát triển kinh tế Harris và Todaro (1970) giả định rằng thị thường hoàn hảo và luôn có dư cung lao động ở khu vực nông nghiệp và lượng dư này sẽ được hấp thụ bởi khu vực hiện đại Khu vực hiện đại phát triển thông qua sự tích tụ vốn và hấp thụ lao động từ khu vực truyền thống Người lao động nông thôn bị thu hút bởi mức lương hấp dẫn
và do đó sẽ di cư đến khu vực thành thị Việc di cư này sẽ tiếp tục đến khi có sự cân bằng mức lương xảy ra
c.2 Lý thuyết hệ thống di cư
Mabogunje (1970) xem di cư như là một hệ thống và giải thích di cư như là một tiến trình không gian năng động Luồng di cư và sự tương tác được hình thành với một nhóm những người di cư tiềm năng Luồng di cư sẽ bị tác động bởi các nhân tố
ở nơi ở gốc và nơi ở mới bởi các phản hồi từ những người di cư, bởi môi trường kinh tế, chính trị, xã hội, giao thông và liên lạc Những nhân tố này thay đổi theo thời gian làm cho luồng di cư trở nên năng động Tuy nhiên, học thuyết hệ thống di
cư này không thể đưa ra được các dự đoán cụ thể về luồng di cư
c.3 Lý thuyết thị trường lao động song song
Piore (1979) lập luận rằng di cư lao động quốc tế diễn ra là do các nhân tố kéo Nhu cầu cần có lực lượng lao động linh hoạt và rẻ đã dẫn tới việc hình thành thị trường lao động song song: một thị trường lao động được bảo đảm, lương cao và một thị trường lao động với công việc đòi hỏi kỹ năng thấp với mức lương thấp và không được bảo đảm Việc làm trong khu vực mức lương thấp biến động theo vòng
Trang 25quay kinh tế, do đó, nó không ổn định và không bảo đảm nên không thu hút người lao động địa phương Còn những người di cư thì có động lực để làm công việc này
vì họ không xem họ là một phần của xã hội di cư đến Cuối cùng hình thành dòng người di cư đến khu vực thành thị
c.4 Lý thuyết hệ thống thế giới
Học thuyết hệ thống thế giới của Wallerstein (1974) nhấn mạnh vai trò của tình trạng chia rẽ và trục trặc trên thế giới do sự mở rộng của chủ nghĩa thực dân và chủ nghĩa tư bản trong giai đoạn cận đại Điều này dẫn đến đất đai được giải phóng, hình thành phương pháp nông nghiệp tư bản chủ nghĩa mới và các công ty sản xuất được hình thành làm cho một bộ phận dân chúng không còn gắn với ruộng đất và có
xu hướng di cư Thêm vào đó nhu cầu lớn về lao động nhập cư ở các thành phố là một nhân tố kéo của việc di cư Theo học thuyết này, việc di cư sẽ theo sau sự năng động của việc hình thành thị trường và cấu trúc của kinh tế toàn cầu, nhưng động lực di cư của từng cá nhân thì cần phải xem xét thêm
c.5 Lý thuyết chuyển tiếp di cƣ
Giả thuyết về sự chuyển tiếp di cư của Zelinsky (1971) cho rằng mô hình di cư gồm năm bước và các bước này được dựa trên mô hình tăng trưởng của Rostow Năm bước trong giả thuyết của Zelinsky (1971) bao gồm:
Xã hội truyền thống tiền hiện đại: rất ít di cư, chủ yếu là di chuyển nội bộ do các
lý do về kết hôn hoặc quảng bá sản xuất nông nghiệp
Xã hội chuyển đổi ban đầu: di cư nông thôn - thành thị hàng loạt, việc nhập cư đến các khu vực nước ngoài là do thiết lập và xâm chiếm thuộc địa
Xã hội chuyển đổi sau này: việc di cư giảm lại
Xã hội tiên tiến: di cư nông thôn – thành thị được thay bằng di cư nội bộ thành thị, di cư của những người công nhân kỹ năng thấp từ các nước kém phát triển, vòng tuần hoàn di cư quốc tế của người lao động có kỹ năng cao và chuyên gia, vòng tuần hoàn di cư nội bộ vì mục đích kinh tế và giải trí
Xã hội cực tiên tiến trong tương lai: hệ thống phân phối và liên lạc tốt hơn cho phép giảm di cư
Trang 26Tuy nhiên, nhóm lý thuyết này gắn bó với khái niệm lạc hậu của sự phát triển và chỉ có thể áp dụng với lịch sử của các nước đã phát triển
Như vậy, bài nghiên cứu của luận văn sẽ dựa trên lý thuyết di cư ở mức độ trung
mô, trong đó tập trung cụ thể vào học thuyết vốn xã hội
2.1.1.4 Đúc kết các lý thuyết sử dụng cho phân tích của luận văn
Sau khi lược khảo các lý thuyết liên quan đến di cư thì luận văn sẽ sử sụng các
lý thuyết mức độ vi mô và trung mô để xác định biến cho mô hình nghiên cứu Lý thuyết di cư ở hai mức độ này tập hợp các lý thuyết liên quan đến việc di cư diễn ra
là do mong đợi và nguyện vọng của cá nhân di cư và do mạng lưới xã hội Do đó, vì nghiên cứu của luận văn được dựa trên khảo sát hộ gia đình, tức là quyết định di cư được dựa trên quyết định của hộ và thành viên hộ xét trong mối tương tác với xã hội, với nhu cầu cá nhân nên các biến của mô hình nghiên cứu của luận văn được dựa trên lý thuyết mức độ vi và trung mô Còn ở mức độ vĩ mô, nguyên nhân dẫn đến di cư là do cấu trúc cơ hội mức độ vĩ mô nên không phù hợp với khảo sát ở cấp
độ hộ trong nghiên cứu này Cụ thể những kế thừa từ các lý thuyết mà tác giả lược khảo cho nghiên cứu của luận văn được mô tả ở bảng sau:
Bảng 2.1: Tổng kết lý thuyết về di cư và ứng dụng cho luận văn
Lý thuyết Nội dung lý thuyết kế thừa cho nghiên cứu của luận văn
Kéo - đẩy
Lý thuyết này đưa ra các yếu tố ảnh hưởng đến số lượng di
cư Luận văn này chú trọng đến các yếu tố từ nơi ở gốc nên yếu tố được sử dụng là con người trong nơi ở gốc có sự tương đồng sẽ làm giảm di cư Có thể sử dụng các biến xác định sự tương đồng là dân tộc, học vấn, thu nhập, truyền thống làm biến kiểm soát cho mô hình luận văn
Lý thuyết Nội dung lý thuyết kế thừa cho nghiên cứu của luận văn
Di cư tân cổ điển ở
mức độ vi mô
Di cư được xem như là quyết định đầu tư cá nhân để tăng năng suất vốn con người (Faist, 2000) nên có thể sử dụng biến học vấn của cá nhân làm biến kiểm soát, nhưng vì
Trang 27nghiên cứu của luận văn ở cấp độ hộ nên không nên sử dụng biến này
Hệ thống xã hội Lý thuyết này chú trọng về kết quả của di cư nên không
phù hợp với nghiên cứu của luận văn
Vốn xã hội
Đây là lý thuyết làm nền tảng cho nghiên cứu trong luận văn này Lý thuyết này có hai giả thuyết là giả thuyết thông tin và giả thuyết thuận tiện với sự chú trọng về mạng lưới những người di cư ở nơi ở mới và là một hướng nghiên cứu khác của luận văn Do đó, có thể sử dụng biến tỷ lệ di cư của vùng làm biến kiểm soát cho nghiên cứu của luận văn
Tổ chức Lý thuyết này chú trọng về nơi ở mới hơn nơi ở gốc Đây là
một hướng nghiên cứu khác của luận văn
Nguyên nhân tích tụ
Lý thuyết này liên quan đến sự bất bình đẳng trong thu nhập, đến việc sử dụng đất nông nghiệp, đến tư tưởng của người dân vùng di cư bị ảnh hưởng bởi người đã và đang di
cư, đến vốn con người của vùng di cư, đến sự phân loại tính chất công việc ở nơi di cư đến Luận văn có thể sử dụng biến thu nhập, diện tích đất nông nghiệp để làm biến kiểm soát cho mô hình nghiên cứu
Lý thuyết Nội dung lý thuyết kế thừa cho nghiên cứu của luận văn
Di cư kinh tế mới
Lý thuyết này cho thấy tầm quan trọng của gia đình trong quyết định di cư nhằm đa dạng hóa nguồn lực và tối thiểu hóa rủi ro Luận văn có thể sử dụng biến liên quan đến số
Trang 28lượng người đang sống trong hộ và số lượng người đã di cư
để làm biến kiểm soát cho mô hình nghiên cứu
Di cư tân cổ điển ở
Hệ thống thế giới Lý thuyết này không nhấn mạnh động lực di cư của từng cá
nhân nên không phù hợp với luận văn
Chuyển tiếp di cư Lý thuyết này đã không còn phù hợp với giai đoạn hiện
nay
Nguồn: Tổng hợp của tác giả luận văn từ lược khảo lý thuyết
2.1.2 Lý thuyết về vốn xã hội
2.1.2.1 Vốn xã hội
Thuật ngữ vốn xã hội xuất phát từ lĩnh vực xã hội học Xét trên khía cạnh kinh
tế, khái niệm vốn xã hội bắt đầu phổ biến từ những thập niên 90 Đến bây giờ vẫn còn rất nhiều cuộc tranh luận về định nghĩa vốn xã hội Theo Adler và Kwon (2000) thì định nghĩa về vốn xã hội được phân loại thành hai nhánh dựa trên việc tập trung vào mối quan hệ mà cá nhân này duy trì với cá nhân khác hay tập trung vào mối quan hệ hình thành cấu trúc bên trong của một tổ chức Nhóm định nghĩa đầu tiên, tức xem vốn xã hội là nguồn lực điều hòa các hoạt động dựa trên cá nhân cụ thể, chủ yếu phổ biến ở các học giả bên lĩnh vực xã hội học Một số nhà nghiên cứu theo cách định nghĩa này là Baker (1990), Coleman (1990), Boxman và cộng sự (1991), Bourdieu và Wacquant (1992) Nhìn chung hướng này coi vốn xã hội như là một sự đầu tư của các cá nhân vào mạng lưới xã hội, vào cộng đồng để cung cấp các nguồn
Trang 29lực mà họ có thể có được lợi ích Nhóm định nghĩa còn lại nghiên cứu vốn xã hội như là một đặc tính của mối liên kết nội bộ giúp hình thành cấu trúc của các cá nhân trong tập thể (như nhóm, tổ chức, cộng đồng, vùng, quốc gia) Cách định nghĩa này phổ biến ở các nhà nghiên cứu chính trị và kinh tế phát triển ở một số học giả như Putnam (1995), Fukuyama (1995, 1997), Brehm và Rahn (1997), Inglehart (1997) Theo cách này thì vốn xã hội được dựa trên sự tin cẩn được tạo ra để ngăn ngừa tình trạng khó xử và để thúc đẩy hành động tập thể trong xã hội Một số định nghĩa lại đi theo hướng trung lập giữa hai cách định nghĩa này, chẳng hạn như của Loury (1992), Nahapiet và Ghosha (1998)
Như vậy, nhóm định nghĩa đầu tiên tập trung vào những kết quả mà vốn xã hội đem lại còn nhóm định nghĩa thứ hai tập trung vào bản chất của vốn xã hội Trong nghiên cứu của mình, luận văn cần cả hai nhóm định nghĩa này, vì với nhóm định nghĩa đầu tiên sẽ biết được kết quả vốn xã hội cao có làm di cư giảm hay không và với nhóm định nghĩa thứ hai sẽ biết được với bản chất của vốn xã hội như vậy thì nếu vốn xã hội cao liệu có làm giảm di cư không
Do đó, trong luận văn dùng một định nghĩa đầy đủ để làm cơ sở cho việc đo lường vốn xã hội, tức là sử dụng định nghĩa về vốn xã hội theo cách thứ ba – kết hợp cả hai quan điểm, theo định nghĩa của World Bank (1998) Theo World Bank (1998), vốn xã hội bao gồm thể chế, mối quan hệ, thái độ và giá trị đóng vai trò quản lý sự tương tác giữa con người và đóng góp cho sự phát triển kinh tế và xã hội Tuy nhiên, vốn xã hội không chỉ đơn giản là các thể chế làm nền tảng cho xã hội mà còn là chất kết nối thành viên trong xã hội lại với nhau Vốn xã hội bao gồm các giá trị chung và quy tắc cho ứng xử xã hội được thể hiện trong mối quan hệ cá nhân, sự tin tưởng và ý thức chung về trách nhiệm công dân để làm xã hội trở nên đoàn kết
Trang 30Câu hỏi khảo sát có thể sử dụng bảng câu hỏi của Ngân hàng Thế giới hoặc của OECD
a.1 Bảng câu hỏi của Ngân hàng thế giới
Bảng câu hỏi của Ngân hàng Thế giới được xây dựng dựa trên cách thức đo lường của Grootaert và cộng sự (2004) và thiết kế cho hộ gia đình Theo đó, vốn xã hội được đo lường dựa trên sáu khía cạnh, đó là (1) nhóm và mạng lưới, (2) sự tin tưởng và đoàn kết, (3) sự hợp tác và hành động tập thể, (4) nguồn thông tin và liên lạc, (5) sự gắn kết xã hội, (6) sự trao quyền và hoạt động chính trị Trong đó khía cạnh (1) và (2) nhằm phản ánh cấu trúc và nhận thức về vốn xã hội, khía cạnh (3) và (4) tìm hiểu cách thức hoạt động của vốn xã hội, còn khía cạnh (5) và (6) đưa ra kết quả có được từ vốn xã hội
(1) Nhóm và mạng lưới
Nhóm và mạng lưới giúp phổ biến thông tin, giảm các hành vi cơ hội và làm cho các quyết định tập thể trở nên dễ dàng hơn Sự hiệu quả của nhóm và mạng lưới phản ánh cấu trúc, thành viên và cách thức chúng hoạt động Các câu hỏi có thể mô
tả được nhóm và mạng lưới dựa trên bốn mặt sau: mật độ thành viên, sự đa dạng của thành viên, tính dân chủ trong các hoạt động và sự liên kết với các nhóm và mạng lưới khác Ở cấp độ hộ, mật độ thành viên có thể được đo lường bằng số lượng thành viên trung bình của mỗi hộ trong nhóm và mạng lưới Sự đa dạng của thành viên có thể được đo bằng nơi sống của hộ hoặc thu nhập của hộ, độ tuổi của chủ hộ, giới tính của chủ hộ, hoặc tôn giáo, dân tộc của hộ Để xác định chức năng của nhóm và mạng lưới, có thể dựa trên phạm vi hoặc mục tiêu hoạt động của chúng
Những câu hỏi ở khía cạnh này xem xét bản chất và mức độ tham gia của các thành viên trong hộ gia đình vào các tổ chức xã hội và mạng lưới phi chính thức, cũng như sự đóng góp của họ và những gì họ nhận được từ tổ chức và mạng lưới Ngoài ra còn xem xét sự đa dạng của các thành viên trong tổ chức, mạng lưới, cách thức chọn người đứng đầu và cách mà một cá nhân tham gia thay đổi như thế nào theo thời gian
Trang 31(2) Sự tin tưởng và đoàn kết
Khía cạnh này đưa ra những câu hỏi về sự tin tưởng đối với hàng xóm, người cung cấp dịch vụ cơ bản, người xa lạ và xem xét sự tin tưởng này thay đổi như thế nào theo thời gian
Sự tin tưởng là một vấn đề khó để đo lường trong các câu hỏi về hộ bởi vì mỗi người sẽ mỗi khác Do vậy, cách tiếp cận ở đây tập trung vào sự tin tưởng chung và
cả sự tin tưởng ở từng kiểu người
(3) Sự hợp tác và hành động tập thể
Những câu hỏi sẽ tập trung vào việc khám phá ra các thành viên trong hộ gia đình có tham gia vào các dự án tập thể, các hoạt động đối phó với sự khủng hoảng hay không và họ đã tham gia như thế nào; đồng thời cũng xem xét hệ quả của việc người tham gia không thể hiện theo đúng kỳ vọng của cộng đồng
Các hành động tập thể là một khía cạnh quan trọng trong cuộc sống cộng đồng ở nhiều quốc gia mặc cho mục đích của hoạt động này là khác biệt ở các nước Trong các quốc gia, hoạt động tập thể chủ yếu được định hướng chính trị và được sử dụng cho mục đích bầu cử để cung cấp thêm dịch vụ cho cộng đồng
(4) Nguồn thông tin và liên lạc
Khía cạnh này khám phá cách thức và phương tiện mà các hộ gia đình nghèo có được thông tin về điều kiện thị trường, dịch vụ công cũng như khám phá mức độ tiếp cận cơ sở hạ tầng thông tin của họ
(5) Sự gắn kết xã hội
Cộng đồng không phải là một thực thể độc lập mà được hình thành từ các bộ phận và sự khác biệt giữa chúng, trong đó sự khác biệt này có thể dẫn đến các mẫu thuẫn Sự gắn kết xã hội bao gồm ba vấn đề: sự bao hàm, sự thích giao du, sự mâu thuẫn và bạo lực Vấn đề sự bao hàm gồm các câu hỏi trải dài từ sự nhận thức chung về sự gắn kết xã hội và sự thống nhất cộng đồng cho đến các trải nghiệm cụ thể Vấn đề thích giao du gồm các câu hỏi như hình thức họp mặt với người khác trong nơi công cộng, việc đi thăm người khác ở nhà của họ và việc tham gia vào các
Trang 32hoạt động cộng đồng Về sự mâu thuẫn và bạo lực, các câu hỏi có thể xoay quanh việc hộ có trải qua mâu thuân và bạo lực trong quá khứ
Các câu hỏi ở khía cạnh này đưa ra nhằm tìm kiếm bản chất và phạm vi của sự khác biệt giữa trong nội bộ một cộng đồng và cơ chế mà cộng đồng đó kiểm soát sự khác biệt này, cũng như cơ chế loại bỏ một số nhóm ra khỏi các dịch vụ công cơ bản
(6) Sự trao quyền và hoạt động chính trị
Sự trao quyền nhằm chỉ đến sự mở rộng tài sản và khả năng của cá nhân trong việc tham gia, thương lượng, ảnh hưởng, kiểm soát và nắm giữ các tổ chức ảnh hưởng đến cuộc sống của người đó Sự trao quyền là một khái niệm rộng hơn vốn
xã hội và hành động chính trị chỉ là một trong những hoạt động được sử dụng để tăng sự trao quyền Tuy vậy, trong khái niệm vốn xã hội, sự trao quyền được định nghĩa hẹp hơn là khả năng ra quyết định mà có thể tác động đến hoạt động hằng ngày và có thể thay đổi hướng đi của cuộc sống người nào đó
Nhóm câu hỏi này nhằm tìm hiểu cảm nhận của các thành viên trong hộ gia đình
về hạnh phúc, về sự hiệu quả bản thân và tầm ảnh hưởng lên hoạt động của địa phương và quyết định chính trị
a.2 Bảng câu hỏi của OECD
Bảng câu hỏi của OECD được xây dựng dựa trên cách thức đo lường của Scrivens và Smith (2013) Theo đó, vốn xã hội được đo lường dựa trên bốn khía cạnh, đó là (1) mối quan hệ cá nhân, (2) sự hỗ trợ mạng lưới xã hội, (3) sự tham gia các hoạt động công dân, (4) sự tin tưởng và hợp tác Trong đó, khía cạnh (1) và (2) tập trung vào đo lường vốn xã hội của cá nhân, khía cạnh (3) và (4) tập trung vào đo lường vốn xã hội của tập thể
(1) Mối quan hệ cá nhân
Mối quan hệ cá nhân là nói đến mạng lưới con người (cụ thể là những người mà
cá nhân đó biết) và hành vi xã hội đóng góp cho việc thiết lập và duy trì những mạng lưới này, ví dụ như dành thời gian với nhau hoặc trao đổi qua điện thoại hoặc thư điện tử Khía cạnh này liên quan đến quy mô, cấu trúc, mật độ và thành phần
Trang 33của mạng lưới xã hội cá nhân Các câu hỏi để đo lường khía cạnh này bao gồm các câu hỏi liên quan đến tác động mà cấu trúc mối quan hệ xã hội của cá nhân tác động thế nào đến phúc lợi của họ, trong đó tập trung vào mức độ và bản chất mối quan hệ
xã hội của cá nhân
(2) Sự hỗ trợ mạng lưới xã hội
Sự hỗ trợ mạng lưới xã hội là một ích lợi trực tiếp của mối quan hệ cá nhân và
sự hỗ trợ này bao gồm cả về tinh thần, vật chất Khía cạnh này nhấn mạnh vào sự hỗ trợ mà cá nhân có thể đạt được và tập trung vào câu hỏi liên quan đến nguyên nhân
và kết quả của việc có được sự hỗ trợ đó
(3) Sự tham gia các hoạt động công dân
Sự tham gia các hoạt động công dân bao gồm các hoạt động mà thông qua đó con người đóng góp vào cộng đồng, chẳng hạn như hoạt động tình nguyện, tham gia vào tổ chức chính trị Khía cạnh này tập trung vào bản chất và phạm vi của hoạt động tập thể Các câu hỏi được thiết kế để xác định tác động của việc tham gia các hoạt động công dân đối với cá nhân cũng như xác định động lực của việc tham gia các hoạt động này
(4) Sự tin tưởng và hợp tác
Sự tin tưởng và hợp tác là ý chỉ đến các lề thói xã hội, sự tin tưởng và giá trị chung làm nền tảng cho chức năng xã hội và sự hợp tác có lợi Nhóm câu hỏi thuộc khía cạnh này được thiết kế nhằm tìm ra các nhân tố của cấu trúc phi chức thức và chức năng của xã hội về vấn đề kinh tế và xã hội Khía cạnh này liên quan đến số lượng các hiệu quả quan trọng của chính sách của chính phủ, biểu hiện của chính phủ, quản lý môi trường và sự gắn kết xã hội
Trang 34nhóm tác giả để người chơi đảm nhiệm cả hai vị trí nhưng không thông báo việc này trước cho người chơi Trò chơi được diễn ra trong điều kiện người chơi không biết nhau Người đầu tư i nhận khoản tiền Š > 0 từ thí nghiệm và có thể đầu tư khoản tiền Si (với 0 ≤ Si ≤ Š) cho người được tin tưởng j Thí nghiệm này sẽ gấp 3 khoản tiền được gởi đi, như vậy là người được tin tưởng j sẽ được nhận khoản tiền 3Si Tiếp theo, người được tin tưởng j có thể gởi lại khoản tiền Rj (với 0 ≤ Rj ≤ 3Si) cho người đầu tư i Tổng lợi ích mà người đầu tư và người được tin tưởng sẽ là tối
đa nếu người đầu tư chuyển toàn bộ khoản tiền Š cho người được tin tưởng Trong trường hợp không có sự tin tưởng thì người đầu tư sẽ không chuyển bất cứ khoản tiền nào cho người được tin tưởng Bởi vì việc trao đổi trước về trò chơi sẽ ảnh hưởng đến kết quả chơi nên Bouma và cộng sự (2008) đã sử dụng biến giả “thảo luận trước”, trong đó hai khu vực sẽ nhận kết quả 1, nghĩa là hai khu vực đó đã được trao đổi trước về trò chơi, còn ba khu vực còn lại sẽ nhận kết quả 0 Việc đo lường vốn xã hội chỉ dựa vào quyết định của người đầu tư, không dựa vào quyết định của người được tin tưởng
Luận văn sử dụng dữ liệu từ khảo sát hộ gia đình nên sẽ dựa trên cách đo lường của Grootaert và cộng sự (2004) Nếu dựa trên cách đo lường của Scrivens và Smith (2013) thì không phù hợp vì câu hỏi của cách đo lường này bao hàm cả câu hỏi về
cá nhân và hộ, nghiên cứu của luận văn chỉ tập trung về hộ Còn thông qua thí nghiệm kinh tế thì cũng chỉ ở cấp độ cá nhân nên không phù hợp với nghiên cứu
2.2 Lược khảo các nghiên cứu trước liên quan
2.2.1 Kan (2006)
Kan (2006) nghiên cứu về vai trò của vốn xã hội trong hành vi di cư của hộ gia đình Kết quả của nghiên cứu này cho thấy vốn xã hội địa phương làm giảm di cư Ngoài ra, dựa vào kết quả nghiên cứu, Kan (2006) cũng khẳng định rằng vốn xã hội
có tính chất không gian, cụ thể là vốn xã hội giữa người di cư với những người sống gần có tác động đến di cư, nhưng vốn xã hội giữa người di cư với những người sống
xa không có tác động đến di cư
Trang 35Các biến độc lập trong nghiên cứu của Kan (2006) được thu thập từ dữ liệu năm
1980, còn biến phụ thuộc được thu thập từ dữ liệu năm 1981 Kan (2006) sử dụng hai nhóm chỉ số di cư Chỉ số đầu tiên bao gồm một biến giả di cư MOVEt Chỉ số thứ hai bao gồm hai biến giả INTERCt và INTRACt, trong đó INTERCt là di cư quốc tế và INTRACt là di cư nội địa Các biến độc lập được Kan (2006) sử dụng là các biến đo lường vốn xã hội địa phương và các biến kiểm soát Để đo lường vốn xã hội địa phương, Kan (2006) sử dụng biến giả NEARHELPt-1 với câu hỏi “Giả sử gia đình bạn gặp vấn đề nghiêm trọng khẩn cấp thì có bạn bè hay họ hàng sống gần đó
mà bạn có thể nhờ giúp đỡ không” Để có cái nhìn cụ thể hơn về bản chất không gian của vốn xã hội, Kan (2006) nghiên cứu tác động của một biến giả nữa là biến FARHELPt-1 với câu hỏi “Bạn có họ hàng hay bạn bè không sống gần chỗ của bạn
mà vẫn có thể giúp bạn trong trường hợp khẩn cấp không” Ngoài ra, theo Kan (2006) thì mô hình có thể bị vấn đề nội sinh nên cần sử dụng thêm các biến công cụ Các biến công cụ được Kan (2006) sử dụng là các biến giả được đo lường trong vòng năm năm trước thời điểm khảo sát liên quan đến sự giúp đỡ và vay mượn tiền bạc giữa hộ gia đình và bạn bè hoặc họ hàng Để xác định độ phù hợp của biến công
cụ, Kan (2006) sử dụng hai kiểm định, đó là kiểm định về giới hạn xác định quá cao (overidentificatin restriction) để kiểm tra xem biến công cụ có không tương quan với sai số hay không và kiểm định biến công cụ yếu để kiểm tra xem biến công cụ
có đủ mạnh để làm cho ước lượng không bị chệch hay không
Để đáp ứng được hai chỉ số về di cư thì Kan (2006) xây dựng hai mô hình thực nghiệm Mô hình đầu tiên ứng với biến phụ thuộc là có di cư hay không di cư và mô hình thứ hai ứng với biến phụ thuộc là không di cư, di cư nội địa, di cư quốc tế Trong mô hình đầu tiên, Kan (2006) sử dụng mô hình Probit nhị thức dựa trên ước lượng phương trình đơn và không sử dụng biến công cụ vì biến phụ thuộc NEARHELPt-1 trong ước lượng này không được phép bị nội sinh Kết quả của ước lượng này cho thấy vốn xã hội địa phương làm giảm di cư Để tìm hiểu sâu hơn về vốn xã hội, Kan (2006) sử dụng biến FARHELPt-1 thay thế cho biến NEARHELPt-1trong mô hình Probit nhị thức Kết quả cho thấy lợi ích hưởng được từ họ hàng hay
Trang 36bạn bè không sống gần hộ không làm giảm di cư Điều này hỗ trợ cho sự phỏng đoán của Kan (2006) về tính không gian của vốn xã hội
Trong mô hình thứ hai, Kan (2006) tìm hiểu tác động của vốn xã hội nội bộ đến việc di cư nội địa và di cư quốc tế thông qua sử dụng mô hình Probit đa thức Kết quả kiểm định cho thấy việc sử dụng biến công cụ là phù hợp Kết quả mô hình cho thấy biến NEARHELPt-1 làm giảm di cư quốc tế nhưng lại không có tác động đến di
cư nội địa Biến FARHELPt-1 thì không có tác động đến cả di cư quốc tế và di cư nội địa Một lần nữa, sự phỏng đoán về tính không gian của vốn xã hội của Kan (2006) lại được khẳng định
Nghiên cứu của luận văn sẽ kế thừa tính không gian của vốn xã hội trong nghiên cứu của Kan (2006) Điều này có nghĩa là để nghiên cứu về mối quan hệ giữa di cư
và vốn xã hội thì cần xem xét vốn xã hội ở một phạm vi nhất định, nếu các biến đo lường vốn xã hội được đo lường ở các phạm vi không gian khác nhau thì sẽ không nghiên cứu được tác động tổng của vốn xã hội lên di cư Nghiên cứu của luận văn không phân biệt di cư quốc tế và di cư nội địa nên luận văn sẽ kế thừa kết quả nghiên cứu trong mô hình đầu tiên của Kan (2006) Trong mô hình đầu tiên, bốn biến công cụ làm cho mô hình không có ý nghĩa, do đó, luận văn không sử dụng bốn biến này Ngoài ra, nghiên cứu của luận văn sẽ sử dụng một số biến kiểm soát
có ý nghĩa về thông tin của chủ hộ trong nghiên cứu của Kan (2006) vì mục tiêu nghiên cứu của Kan (2006) cũng giống nghiên cứu của luận văn là nghiên cứu về vai trò của vốn xã hội trong hành vi di cư của hộ gia đình
2.2.2 David và cộng sự (2010)
David và cộng sự (2010) xây dựng mô hình về mối quan hệ giữa vốn xã hội địa phương và di cư, sau đó sử dụng dữ liệu ở châu Âu để chứng minh về mối quan hệ này Kết quả của nghiên cứu cho thấy vốn xã hội địa phương làm giảm di cư
Về xây dựng mô hình, David và cộng sự (2010) sử dụng lý thuyết tối đa hóa hữu dụng cho các cá nhân có đầu tư vào vốn xã hội với giả định rằng sự tích tụ vốn xã hội của cá nhân sẽ làm tăng hữu dụng cho cá nhân đó một cách trực tiếp mà không
có bất kỳ ngoại tác xã hội nào Để xây dựng mô hình thì nhóm tác giả xem các cá
Trang 37nhân sống ở hai giai đoạn và phân chia thành hai khu vực sống A và B David và cộng sự (2010) giả định một cá nhân sinh ra ở A và làm việc ở A trong giai đoạn một, do đó có S đơn vị vốn xã hội Nếu người này rời A thì vốn xã hội của họ sẽ giảm vì họ sẽ mất bạn bè, ít gặp người thân hơn Đây được gọi là tính địa phương của vốn xã hội Nhóm tác giả đặt δλ là tỷ lệ khẩu hao của vốn xã hội địa phương Nếu cá nhân này bị mất việc làm thì vốn xã hội của họ cũng sẽ giảm vì họ sẽ mất đi một vài mối quan hệ xã hội Đây được gọi là tính nghề nghiệp của vốn xã hội Nhóm tác giả đặt δπ là tỷ lệ khấu hao của vốn xã hội khi cá nhân bị mất việc Để nghiên cứu thì nhóm tác giả xác định độ hữu dụng của cá nhân này trong giai đoạn hai, tức là giai đoạn có biến cố xấu trong công việc Kết quả mô hình cho thấy mối quan hệ của vốn xã hội với di cư, với việc thất nghiệp Tuy nhiên, trong khuôn khổ bài nghiên cứu này, luận văn chỉ đề cập về mối quan hệ của vốn xã hội với di cư Khi δλ > δπ thì vốn xã hội tăng sẽ làm di cư giảm Khi δλ = 0 và δπ > 0 thì vốn xã hội tăng sẽ làm di cư tăng Khi δλ = δπ = 0 thì vốn xã hội không tác động đến việc di cư David và cộng sự (2010) sử dụng dữ liệu ở châu Âu để hỗ trợ cho lý thuyết đã xây dựng Dữ liệu này được khảo sát ở cấp độ cá nhân của 15 nước châu Âu từ năm
1994 đến năm 2001 Biến di cư (biến phụ thuộc) là biến giả, biến này nhận kết quả
1 nếu cá nhân đó di cư vào năm sau, nhận kết quả 0 nếu cá nhân đó không di cư David và cộng sự (2001) sử dụng ba câu hỏi trong bảng khảo sát để xác định ba biến đo lường vốn xã hội, đó là:
Biến “Câu lạc bộ”: Bạn có phải là thành viên của bất cứ câu lạc bộ nào không
Biến “Hàng xóm”: Mức độ thường xuyên bạn nói chuyện với hàng xóm
Biến “Bạn bè/ Họ hàng”: Mức độ thường xuyên bạn gặp bạn bè hoặc họ hàng không sống cùng với bạn
Hai câu hỏi cuối rõ ràng là hướng đến vốn xã hội địa phương, còn câu hỏi đầu tiên thì ít mang tính địa phương hơn
Để xác định mối quan hệ, đầu tiên David và cộng sự (2010) chạy mô hình Probit đơn giản Sau đó, để kiểm soát vấn đề nội sinh, nhóm tác giả sử dụng hai biến công
Trang 38cụ, đó là: độ trễ của vốn xã hội và vốn xã hội trung bình trong vùng Kết quả cho thấy vốn xã hội địa phương làm giảm di cư
Nghiên cứu của luận văn sẽ kế thừa về biến công cụ Trong nghiên cứu của David và cộng sự (2010) thì nhóm tác giả sử dụng độ trễ vốn xã hội được đo lường bằng vốn xã hội một năm trước thời điểm nghiên cứu Do đó, trong nghiên cứu của luận văn sẽ sử dụng biến phụ thuộc được xác định sau hai năm nghiên cứu để tránh việc sử dụng biến công cụ
2.2.3 Prayitno và cộng sự (2013)
Prayitno và cộng sự (2013) sử dụng dữ liệu từ 250 hộ gia đình (hộ phải có ít nhất một người di cư) để nghiên cứu về mối quan hệ giữa vốn xã hội và di cư Nhóm tác giả sử dụng các biến để xác định thuộc tính nhân khẩu học của hộ và của người di cư, các biến để đo lường vốn xã hội trong nghiên cứu này
Về các biến thuộc tính nhân khẩu học, các câu hỏi để xác định biến này được chia ra làm hai loại, một cho hộ và một cho người di cư Trong đó khoảng thời gian làm việc ở nơi di cư đến được Prayitno và cộng sự (2013) xác định là biến di cư Về các biến đo lường vốn xã hội, nhóm tác giả sử dụng các biến ẩn, các biến ẩn này là
ý thức về nơi ở, ý thức về cộng đồng, mối quan hệ hàng xóm, trao quyền và sự tham gia vào cộng đồng Để tìm ra biến phù hợp, nhóm tác giả thiết kế 12 câu hỏi cho bốn biến ẩn là ý thức về nơi ở, ý thức về cộng đồng, mối quan hệ hàng xóm, trao quyền và 13 câu hỏi cho biến ẩn sự tham gia vào cộng đồng
Prayitno và cộng sự (2013) sử dụng phương pháp phân tích thành phần chính để nhóm 12 câu hỏi cho bốn biến ẩn là ý thức về nơi ở, ý thức về cộng đồng, mối quan
hệ hàng xóm, trao quyền và kết quả là có ba thành phần được hình thành từ 12 biến này, đó là: ý thức về nơi ở, ý thức về cộng đồng và mối quan hệ hàng xóm Sau đó, nhóm tác giả sử dụng mô hình cân bằng cấu trúc để giải thích mối quan hệ giữa các biến Kết quả cho thấy những cá nhân có ý thức về nơi ở cao thì ý thức về cộng đồng sẽ cao, ý thức về cộng đồng cao thì mối quan hệ hàng xóm sẽ bền chặt cũng như có thời gian làm việc ở nơi di cư đến cao, nghĩa là những hộ gia đình có ý thức
về cộng đồng cao thì khoảng thời gian làm việc ở nơi di cư đến của cá nhân di cư
Trang 39cũng cao Do đó có thể kết luận những hộ gia đình có vốn xã hội cao thì sẽ có thành viên trong gia đình là người di cư dài hạn, nghĩa là vốn xã hội có tác động tích cực đến việc di cư
Đây là nghiên cứu mà luận văn sử dụng để tham khảo chính Nghiên cứu của Prayitno và cộng sự (2013) sử dụng bốn biến ẩn khi đo lường vốn xã hội là ý thức
về nơi ở, ý thức về cộng đồng, mối quan hệ hàng xóm và sự tham gia vào cộng đồng Nghiên cứu của luận văn sẽ kế thừa khi lựa chọn biến để đo lường vốn xã hội
và có tham khảo thêm cách đo lường của Grootaert và cộng sự (2004)
Zhao và Yao (2013) sử dụng mô hình Probit để phân tích tác động của vốn xã hội nội bộ địa phương của nông thôn Trung Quốc đến việc di cư vì lý do công việc Vốn xã hội ở đây được đo lường dựa trên chi phí của hộ cho quà tặng đám cưới và chi phí của hộ cho tang lễ Mô hình Probit gồm có hai biến, đó là: Migit = 1 nếu cá nhân i di cư vào năm t, Migit = 0 nếu cá nhân i không di cư vào năm t
Tuy nhiên, có hai lý do làm cho Zhao và Yao (2013) phải sử dụng thêm biến công cụ trong nghiên cứu Thứ nhất, những gia đình có khả năng di cư cao sẽ ít đầu
Trang 40tư vào vốn xã hội Sau là, việc tặng quà cưới còn có nghĩa là người tặng sẽ nhận được một món quà tương đương trong đám cưới của họ trong tương lai hoặc giá trị món quà cưới này tương đương với những gì mà họ đã được nhận trong đám cưới của họ trước đây Do đó, chi phí của quà cưới sẽ được cân bằng trong dài hạn và điều này có thể sẽ không tác động đến quyết định di cư Như vậy, với hai lý do này, Zhao và Yao (2013) thêm biến công cụ vào mô hình của mình Biến công cụ được
sử dụng là chi tiêu của hộ cho tang lễ của năm (t – 1) và chi phí cho quà cưới từ sáu đến bảy năm trước Kết quả cho thấy vốn xã hội ở nông thôn Trung Quốc có tác động tiêu cực đến việc di cư
Mục tiêu nghiên cứu của Zhao và Yao (2013) là tìm ra mối quan hệ giữa mạng lưới xã hội địa phương và di cư ở xã hội Trung Quốc, đây cũng là mục tiêu nghiên cứu của luận văn nhưng xét ở phạm vi Việt Nam Nghiên cứu của luận văn sẽ kế thừa nghiên cứu của Zhao và Yao (2013) trong việc sử dụng thêm biến kiểm soát về vùng sinh sống của hộ Ngoài ra, về việc sử dụng biến công cụ, vì cách đo lường vốn xã hội của Zhao và Yao (2013) chưa phản ánh được vốn xã hội một cách đầy
đủ nên cần sử dụng thêm biến công cụ Tuy nhiên, cách đo lường trong nghiên cứu của luận văn có thể phản ánh được đầy đủ nên không cần biến công cụ
Để tổng hợp những nghiên cứu trước cũng như đưa ra những đúc kết cho nghiên cứu của luận văn, tác giả xây dựng bảng sau: