1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiêu thụ khí gas tự nhiên và tăng trưởng kinh tế vai trò của FDI, tình hình thành vốn và độ mở thương mại bằng chứng từ một số nước châu á thái bình dương

112 531 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 112
Dung lượng 1,3 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TÓM TẮT Chủ đề của bài nghiên cứu này là nghiên cứu mối quan hệ giữa tiêu thụ khí gas tự nhiên và tăng trưởng kinh tế, bao gồm các biến đầu tư trực tiếp nước ngoài, sự hình thành vốn và

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

PHẠM THỊ ÁNH HỒNG

TIÊU THỤ KHÍ GAS TỰ NHIÊN VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ: VAI TRÒ CỦA FDI, HÌNH THÀNH VỐN

VÀ ĐỘ MỞ THƯƠNG MẠI - BẰNG CHỨNG TỪ MỘT

SỐ NƯỚC CHÂU Á THÁI BÌNH DƯƠNG

Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng

Mã số: 60340201

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: GS.TS TRẦN NGỌC THƠ

Thành phố Hồ Chí Minh – Năm 2015

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn ‘‘TIÊU THỤ KHÍ GAS TỰ NHIÊN VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ: VAI TRÒ CỦA FDI, HÌNH THÀNH VỐN VÀ ĐỘ MỞ THƯƠNG MẠI - BẰNG CHỨNG TỪ MỘT SỐ NƯỚC CHÂU Á THÁI BÌNH DƯƠNG’’ là công trình nghiên cứu của chính tác giả, nội dung được đúc kết từ quá trình học tập và các kết quả nghiên cứu thực tiễn trong thời gian qua, số liệu sử dụng là trung thực và có nguồn gốc trích dẫn rõ ràng Luận văn được thực hiện dưới

sự hướng dẫn khoa học của GS.TS Trần Ngọc Thơ

Tác giả luận văn

PHẠM THỊ ÁNH HỒNG

Trang 4

MỤC LỤC

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các từ viết tắt

Danh mục các bảng biểu

TÓM TẮT 1

1 Giới thiệu 2

1.1 Lý do chọn đề tài 2

1.2 Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu 5

1.3 Phạm vi nghiên cứu 6

1.4 Phương pháp nghiên cứu 7

1.5 Bố cục luận văn 9

2 Tổng quan các nghiên cứu thực nghiệm 10

2.1 Các nghiên cứu phần 1 11

2.2 Các nghiên cứu phần 2 13

2.3 Các nghiên cứu phần 3 15

2.4 Các nghiên cứu phần 4 17

3 Mô hình và phương pháp nghiên cứu 20

3.1 Mô hình và dữ liệu nghiên cứu 20

3.2 Phương pháp nghiên cứu 23

4 Kết quả nghiên cứu 31

4.1 Phân tích thống kê mô tả 32

4.2 Kiểm định tương quan chéo (Cross­section independence) và kiểm định tính dừng dữ liệu bảng 35

4.2.1 Kiểm định tương quan chéo (Cross­section dependence) 35

4.2.2 Kiểm định tính dừng dữ liệu bảng Fisher (Choi, 2001) 35

4.3 Kiểm định sự tương quan và đa cộng tuyến 37

4.3.1 Ma trận tương quan đơn tuyến tính giữa các cặp biến 37

4.3.2 Kiểm định đa cộng tuyến 38 4.4 Kiểm định hiện tượng phương sai thay đổi phần dư – Greene (2000) 39

Trang 5

4.5 Kiểm định hiện tương tự tương quan phần dư – Wooldridge (2002) và

Drukker (2003) 40

4.6 Kiểm định đồng liên kết trên dữ liệu bảng 40

4.7 Phân tích kết quả hồi quy 42

4.8 Hồi quy đối chiếu (Robustness check) và mở rộng 46

4.9 Phân tích mối quan hệ VECM Granger các biến 51

5 Kết luận 60 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 6

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT CPI: Chỉ số giá tiêu dùng

FDI: Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

GDP: Tổng sản phẩm quốc nội

IMF: Quỹ tiền tệ quốc tế

LPG: Khí hóa lỏng

TCTK: Tổng cục thống kê

WB: Ngân hàng thế giới

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 3.1: Mô tả các biến trong mô hình 21

Bảng 4.1: Thống kê mô tả giữa các biến trong mô hình 32

Biểu đồ 4.2 Biểu đồ thể hiện sự tiêu thụ khí gas tự nhiên và GDP trung bình 33

Biểu đồ 4.3 Biểu đồ thể hiện GDP bình quân đầu người giai đoạn 1991­2014 34

Bảng 4.4: Kiểm định tương quan chéo (cross­section independence) 35

Bảng 4.5: Kiểm định tính dừng 36

Bảng 4.6: Kết quả ma trận tự tương quan 37

Bảng 4.7: Kết quả kiểm tra đa cộng tuyến với nhân tử phóng đại phương sai 38

Bảng 4.8: Kết quả kiểm tra phương sai thay đổi mô hình 39

Bảng 4.9: Kết quả kiểm tra tự tương quan mô hình 40

Bảng 4.10: Kết quả kiểm định đồng liên kết dữ liệu bảng Kao (1999) 41

Bảng 4.11: Kết quả kiểm định đồng liên kết dữ liệu bảng Fisher 41

Bảng 4.12: Kết quả hồi quy mô hình 43

Bảng 4.13: Kết quả hồi quy mô hình 47

Bảng 4.14: Kết quả kiểm định nhân quả VECM Granger 52

Trang 7

TÓM TẮT Chủ đề của bài nghiên cứu này là nghiên cứu mối quan hệ giữa tiêu thụ khí gas tự nhiên và tăng trưởng kinh tế, bao gồm các biến đầu tư trực tiếp nước ngoài,

sự hình thành vốn và độ mở thương mại ở một số nước Châu Á Thái Bình Dương trong giai đoạn từ năm 1991 – 2014 Kiểm định nghiệm đơn vị được sử dụng để nghiên cứu thuộc tính dừng của dữ liệu Trong bài nghiên cứu này, tác giả cũng sử dụng các mô hình hồi quy dữ liệu bảng để nghiên cứu sự tác động của các biến độc lập: Tiêu thụ khí gas tự nhiên, đầu tư trực tiếp nước ngoài, hình thành vốn và độ mở thương mại lên biến phụ thuộc tăng trưởng kinh tế Hơn nữa, bài nghiên cứu sẽ ứng dụng kết hợp kiểm định đồng liên kết để nghiên cứu mối quan hệ giữa các biến trong dài hạn, ứng dụng mô hình VECM Granger để tìm hiểu quan hệ nhân quả giữa các biến Kết quả cho thấy tiêu thụ khí gas tự nhiên có mối quan hệ nhân quả một chiều đến tăng trưởng kinh tế trong ngắn hạn nhưng không có mối quan hệ nhân quả trong dài hạn Chỉ số đầu tư trực tiếp nước ngoài, hình thành vốn và độ

mở thương mại có quan hệ nhân quả hai chiều với tăng trưởng kinh tế ở các nước trong mẫu nghiên cứu trong ngắn hạn Mô hình kết quả hồi quy tìm thấy bằng chứng về mối quan hệ nhân quả dài hạn giữa hình thành vốn và độ mở thương mại với tăng trưởng kinh tế

Trang 8

1 Giới thiệu

1.1 Lý do chọn đề tài

Năng lượng, tức là nguồn năng lượng tái tạo và nguồn năng lượng không tái tạo, đóng vai trò tác động đến việc kích thích quá trình sản xuất trong nền kinh tế Năng lượng tái tạo bao gồm ánh sáng mặt trời, gió, thủy triều, thực vật và địa nhiệt Năng lượng không tái tạo gồm than đá, dầu thô, khí gas và urani mà chủ yếu được tạo thành từ cacbon Khí gas tự nhiên đóng vai trò là cầu nối giữa nhiên liệu hóa thạch ngày nay và nhiên liệu tái tạo trong tương lai Sự tiêu thụ khí gas tự nhiên phát ra ít hơn 50% sự ô nhiễm môi trường so với các nhiên liệu hóa thạch khác Khí gas tự nhiên đã trở thành nguồn tài nguyên chủ yếu của việc tạo ra điện do bởi sự thân thiện của khí gas với môi trường tự nhiên Trong tương lai, khí gas tự nhiên sẽ trở thành một loại nhiên liệu thiết yếu trong việc giúp kiểm soát, hạn chế sự nóng lên toàn cầu

Khí gas tự nhiên đáp ứng gần như một phần tư nhu cầu năng lượng thế giới, nhưng gần đây sự đổi mới trong việc khảo sát và sản xuất gas đã làm mở rộng rất nhiều việc cung cấp gas Trữ lượng khí gas tự nhiên thế giới tổng cộng vào khoảng

150 tỷ tỷ m³ Trữ lượng khí gas tự nhiên lớn nhất, tổng cộng 48 tỷ tỷ m³ đang nằm

ở Nga Trữ lượng lớn thứ hai thế giới, 50 tỷ tỷ m³, nằm ở Trung Đông Các mỏ có trữ lượng khác nằm ở các nơi khác ở Châu Á, Châu Phi và Úc Trữ lượng khí gas tự nhiên ở Hoa Kỳ tổng cộng 5 tỷ tỷ m³ Theo xếp hạng trữ lượng khí gas tự nhiên theo từng bang từ cao xuống thấp, các mỏ khí gas tự nhiên lớn đã được phát hiện ở: Texas, Vịnh Mexico ngoài khơi Louisiana, ở Oklahoma, ở New Mexico,

ở Wyoming và ở Vịnh Prudhoe của Bắc Slope ở bang Alaska Ở Canada, tổng trữ lượng khí gas tự nhiên là 1.7 tỷ tỷ m³ Phần lớn trữ lượng khí gas tự nhiên ở Canada nằm ở Alberta.1

Úc ­ một trong hai cường quốc xuất khẩu khí gas tự nhiên lớn nhất thế giới, đang tích cực tăng sản lượng trong vòng 5 năm tới Khách hàng chủ yếu đến từ Châu Á Trung Quốc là một trong những khách hàng có tiềm năng lớn nhất, tuy nhiên lại từ chối các nguồn cung cấp khí gas tự nhiên từ Mỹ Năm 2014, họ đã ký

1

Nguồn từ < http://vi.wikipedia.org/wiki/khí_thiên_nhiên > [Ngày truy cập: 18 tháng 08 năm 2015]

Trang 9

hợp đồng trị giá 400 tỷ USD với Nga để nhập khẩu nguồn khí gas tự nhiên trong ba thập kỷ tiếp theo

Nhờ trữ lượng đá phiến dầu và khí đốt dồi dào, năm 2014 Mỹ đã trở thành nhà sản xuất dầu mỏ và khí đốt lỏng lớn nhất toàn cầu Họ cũng đứng thứ nhất về sản lượng sản xuất khí đốt tự nhiên khô Ở Việt Nam, theo số liệu từ TCTK2, tháng 12/2014, sản lượng khí gas tự nhiên dạng khí đạt 930 triệu m3, tăng 2.2% so với tháng 12/2013, nâng lượng khí gas tự nhiên dạng khí năm 2014 lên 10190.9 triệu

m3, tăng 4.8% so với năm 2013 Khí hóa lỏng (LPG) tháng 12 đạt 55 nghìn tấn, giảm 16.1% so với tháng 12/2013, tính chung năm 2014, sản lượng LPG là 650.1 nghìn tấn, giảm 9.3% so với năm 2013

Trung Quốc – nhà tiêu thụ lớn thứ hai trên thế giới về dầu mỏ và khí đốt Năm

2014, sản lượng khí gas tự nhiên tại thị trường nội địa tăng 10.7% từ mức tăng trưởng 9.1% năm 2013, do sản lượng khí đá phiến đầu tiên tại quốc gia này được bổ sung Tổng lượng khí gas sử dụng năm 2014 của Trung Quốc đạt 132.9 tỷ m3, với sản lượng khí thông thường đạt 128 tỉ m3, tăng 9.8% so với cùng kỳ năm 2013 Đối với Việt Nam, tổng nhu cầu sử dụng khí hóa lỏng trong nước tháng 12/2014 ước khoảng 115 nghìn tấn, ổn định so với tháng 11/2014 Trong đó, nguồn cung LPG từ sản xuất trong nước của Nhà máy Dinh Cố và Dung Quất ổn định ở mức 56 nghìn tấn (bằng 48.7% nhu cầu); nguồn nhập khẩu ước khoảng 59 nghìn tấn (bằng 51.3% nhu cầu) Tính chung năm 2014, tổng nhu cầu sử dụng LPG trong nước ước khoảng 1,340 nghìn tấn, tăng 3.07% so với năm 2013 Trong đó, nguồn cung LPG từ sản xuất trong nước của Nhà máy Dinh Cố và Dung Quất ước khoảng 612 nghìn tấn (bằng 45.67% nhu cầu); nguồn nhập khẩu khoảng 728 nghìn tấn (bằng 54.33% nhu cầu).3

Khí gas tự nhiên sạch hơn than đá và dầu, bởi vì nó tạo ra sự phát thải khí

CO2 ra môi trường ít hơn 20% so với dầu và ít hơn 50% so với than đá, hiệu quả hơn và đáng tin cậy hơn so với năng lượng tái tạo, khí gas tự nhiên là câu trả lời dài hạn thiết yếu đối với năng lượng và sự biến đổi khí hậu của thế giới.4 Các nhà máy

Advocacy messages for the natural gas sector, International Gas Union; 2010

< http://www.malaysiangas.com/portal/document/publication/ 1309564614_Advocacy%20f.pdf > [Ngày truy cập: 20 tháng 8 năm 2015]

Trang 10

điện khí đốt sẽ cần thời gian xây dựng ít hơn so với các cơ sở hạt nhân hoặc so với nhà máy than đốt Hơn nữa, thời gian thi công ngắn hơn sẽ làm giảm bớt quá trình

ra quyết định đầu tư ở nhiều công ty.5

Đối với việc gia tăng tầm quan trọng của khí gas tự nhiên, nhiều đặc điểm của nguồn tài nguyên giá trị này đã không được điều tra nghiên cứu một cách đúng đắn trong lý thuyết kinh tế (Banks, 2003) Mối quan hệ nhân quả giữa khí gas tự nhiên

và nền kinh tế là một trong những lĩnh vực nhận được rất ít sự quan tâm chú ý Những nỗ lực rất hạn chế đã được tạo nên trong lý thuyết ở khía cạnh này và không

có sự đồng thuận rõ ràng giữa các nhà nghiên cứu đối với mối quan hệ giữa sự tiêu thụ khí gas tự nhiên và tăng trưởng kinh tế Thay vào đó, ý nghĩa của kiểm định nhân quả là đã tập trung vào toàn bộ sự tiêu thụ năng lượng hoặc sự tiêu thụ điện với những hàm ý chính sách rất quan trọng (Ozturk, 2010) Ví dụ, quan hệ nhân quả một chiều về tăng trưởng kinh tế đến sự tiêu thụ điện cho rằng nền kinh tế sẽ ít phụ thuộc vào năng lượng và sử dụng năng lượng bảo tồn là một lựa chọn chính sách quan trọng, vì những động thái như vậy sẽ không kìm hãm sự phát triển kinh tế Quan hệ nhân quả từ việc tiêu thụ năng lượng đến tăng trưởng kinh tế ngụ ý rằng sự tiêu thụ năng lượng có một vai trò quan trọng trong quá trình tăng trưởng kinh tế

Vì vậy, bất kỳ nỗ lực nào làm hạn chế sự tiêu thụ năng lượng có thể làm cản trở quá trình tăng trưởng kinh tế và việc nỗ lực khuyến khích sử dụng năng lượng sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Việc không tồn tại quan hệ nhân quả giữa sự tiêu thụ khí gas tự nhiên và tổng sản phẩm quốc nội (GDP) là một dấu hiệu cho thấy rằng bất kỳ sáng kiến nào trong lĩnh vực năng lượng sẽ không có tác động đến sản lượng đầu ra, phù hợp với mô hình tân cổ điển

Ở nhiều khía cạnh, khí gas tự nhiên không chỉ khác với điện mà còn là hình thức khác của năng lượng Nó không phải là vấn đề gây tranh cãi như năng lượng hạt nhân mà nó thân thiện với môi trường hơn nhiều khi so sánh với than đá hoặc dầu; và có thể lưu trữ chứ không phải giống như điện là không lưu trữ được (Percebois, 2008) Vì vậy, bỏ qua các đặc tính khác nhau của các thành phần năng lượng không chỉ giấu đi các tác động khác nhau liên quan tới các hình thức của tiêu

5

Advocacy messages for the natural gas sector, International Gas Union; 2010

< http://www.malaysiangas.com/portal/document/publication/ 1309564614_Advocacy%20f.pdf > [Ngày truy cập: 20 tháng 8 năm 2015]

Trang 11

thụ năng lượng, mà còn dẫn đến ứng dụng sai chính sách đối với mỗi thành phần năng lượng, đặc biệt đối với khí gas, đó là những đặc trưng khác biệt với các thành phần của năng lượng (Payne, 2010)

Hầu hết các nhà nghiên cứu chỉ tập trung vào tiêu thụ năng lượng và tiêu thụ điện, rất ít các tác giả nghiên cứu về tiêu thụ khí gas tự nhiên Một số các nghiên cứu trên thế giới về mối quan hệ giữa tiêu thụ khí gas tự nhiên và tăng trưởng kinh

tế đưa ra những kết quả trái ngược nhau Với mong muốn làm rõ thêm vấn đề này, trong bối cảnh kinh tế ở một số nước giai đoạn 1991 – 2014, tác giả chọn đề tài:

“TIÊU THỤ KHÍ GAS TỰ NHIÊN VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ: VAI TRÒ CỦA FDI, HÌNH THÀNH VỐN VÀ ĐỘ MỞ THƯƠNG MẠI - BẰNG CHỨNG TỪ MỘT SỐ NƯỚC CHÂU Á THÁI BÌNH DƯƠNG’’

1.2 Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu

Mục đích của nghiên cứu này là nghiên cứu mối quan hệ giữa tiêu thụ khí gas

tự nhiên và tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn 1991 – 2014, bao gồm các biến đầu

tư trực tiếp nước ngoài, hình thành vốn và độ mở thương mại ở một số nước Châu

Á Thái Bình Dương

Một số nước Châu Á Thái Bình Dương trong mô hình bao gồm 14 nước: Việt Nam, Thái Lan, Singapore, Philippines, Pakistan, New Zealand, Malaysia, Nhật Bản, Indonesia, Ấn Độ, Trung Quốc, Băng­la­đét, Australia và China Hong Kong SAR Đây là những nước có trữ lượng lớn về khí gas tự nhiên và là những nước phát triển và đang phát triển Kết quả nghiên cứu mối quan hệ giữa tiêu thụ khí gas

tự nhiên và tăng trưởng kinh tế ở những nước này sẽ là một đóng góp quan trọng cho các nhà làm chính sách

Nghiên cứu về mối quan hệ giữa tiêu thụ khí gas tự nhiên và tăng trưởng kinh

tế, luận văn sẽ tiến hành giải đáp 3 câu hỏi nghiên cứu sau:

­ Việc tiêu thụ khí gas tự nhiên có ảnh hưởng như thế nào đến tăng trưởng kinh tế, tác động tích cực hay tiêu cực? Và ngược lại, tăng trưởng kinh tế có thúc đẩy ngành khí gas phát triển hay không?

Trang 12

­ Vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài, sự hình thành vốn và độ mở thương mại có tác động như thế nào đối với tăng trưởng kinh tế?

­ Hàm ý chính sách rút ra được từ những kết quả nghiên cứu đó là gì?

sự gia tăng đáng chú ý của những con hổ Châu Á, sự nổi trội của cả Trung Quốc và

Ấn Độ thành những thế lực toàn cầu, và sự ra đời của một mạng lưới ngày càng phức tạp và năng động của mối quan hệ thương mại trải dài toàn khu vực Tốc độ tăng trưởng trung bình hàng năm của Châu Á trong 10 năm qua đã liên tục vượt quá mức trung bình của toàn cầu

Theo dự báo triển vọng kinh tế khu vực của IMF công bố ngày 7/5/2015, các nền kinh tế Châu Á Thái Bình Dương sẽ dẫn đầu tăng trưởng toàn cầu trong năm

2015, với mức 5.6%, nhờ sự phục hồi kinh tế ở Ấn Độ và Nhật Bản giúp bù đắp việc kinh tế Trung Quốc giảm sút Tỷ lệ lạm phát cũng được dự báo sẽ tiếp tục giảm

và duy trì ở mức thấp, nguyên nhân chủ yếu do giá dầu trên thế giới thấp ­ điều này

đã dẫn đến việc cắt giảm lãi suất trong nhiều nền kinh tế của khu vực

Châu Á Thái Bình Dương sản xuất khoảng 30% GDP thế giới và chiếm khoảng 40% nhu cầu năng lượng toàn cầu Trong 20 năm tới nhu cầu của khu vực

về năng lượng sẽ tăng đáng kể, khoảng 50%, dầu 40% Trong các nền kinh tế kém phát triển của Châu Á Thái Bình Dương, các nhu cầu sẽ vẫn còn lớn hơn: nhu cầu dầu mỏ sẽ tăng gấp đôi và nhập khẩu dầu sẽ tăng gấp ba Nhu cầu năng lượng của

Trang 13

Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế, ngược lại, dự kiến hầu như không tăng, và nhu cầu về dầu giảm, khoảng 20%.6

Chính vì những lý do trên, luận văn đã tiến hành nghiên cứu một số nước khu vực Châu Á Thái Bình Dương để xem xét mối quan hệ giữa các chỉ tiêu: Tiêu thụ khí gas, đầu tư trực tiếp nước ngoài, độ mở thương mại và hình thành vốn với tăng trưởng kinh tế để tìm hiểu sự tác động của các biến đến tăng trưởng kinh tế, cũng như mối quan hệ giữa chúng và tăng trưởng kinh tế

1.4 Phương pháp nghiên cứu

Bài nghiên cứu mở rộng sự tồn tại của lý thuyết về việc tiêu dùng khí gas tự nhiên theo 3 cách khác nhau Luận văn tiến hành nghiên cứu trong khuôn khổ đa biến, bao gồm 3 biến bổ sung để nghiên cứu mối quan hệ nhân quả giữa các biến trong mô hình

Việc bao gồm một chuỗi độc lập đơn nhất (trong trường hợp 2 biến) là tiền đề cho giả định rằng chuỗi dữ liệu khí gas tự nhiên là yếu tố chính duy nhất tác động đến tổng mức sản lượng đầu ra Trong trường hợp 3 biến (chẳng hạn trường hợp của Saboori và Sulaiman, 2013), hồi quy bổ sung sẽ được đưa vào phương trình Tuy nhiên, về ý nghĩa kinh tế thực tiễn, một số biến sẽ quyết định mức sản lượng đầu ra trong nước Kiểm định quan hệ nhân quả và kiểm định đồng liên kết sẽ cho ra kết quả đầu ra giả mạo và bị chệch trong trường hợp các biến thích hợp bị bỏ qua (Miller, 1991; Stern, 1993) Ngoài ra, việc không bao gồm các biến thích hợp trong

mô hình có thể gây ra những kết luận sai lầm và không có mối quan hệ nhân quả giữa chúng (Lütkepohl, 1982)

Thứ hai, ngoài việc sử dụng biến hình thành vốn và thương mại quốc tế (Apergis, 2010; Farhani và cộng sự, 2014), tác giả sử dụng thêm biến đầu tư trực tiếp nước ngoài vào phương trình tăng trưởng kinh tế và tiêu thụ khí gas tự nhiên (Solarin và Shahbazb, 2015) Đầu tư trực tiếp nước ngoài không chỉ làm tăng nhanh

tỷ lệ tăng trưởng hiện tại bằng cách thúc đẩy việc làm và sản xuất, mà còn góp phần

6

Theo Puma Energy < http://www.pumaenergy.com/media/315672/puma­energy­asia­pacific­white­paper­ press­release­vietnamese­.pdf > [Ngày truy cập: 20 tháng 8 năm 2015]

Trang 14

tăng trưởng tiềm năng trong tương lai cho đất nước thông qua việc ứng dụng phương pháp sản xuất công nghệ cao Ở một số nước, đầu tư trực tiếp nước ngoài nắm giữ giai đoạn trung tâm trong quá trình nâng cao ngành khí gas Đối với một số nước Châu Á Thái Bình Dương, đầu tư trực tiếp nước ngoài đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế và không ngạc nhiên là có nhiều động cơ để thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào nhiều lĩnh vực bao gồm cả ngành dầu khí và gas Đất nước sẽ cung cấp cho các nhà đầu tư nước ngoài một phạm vi rộng về các cơ hội kinh doanh đầu tư và những ưu đãi hấp dẫn để giúp họ nhận được nhiều nhất từ nền kinh tế năng động của các nước Chính quyền sử dụng các biện pháp ưu đãi như miễn thuế xuất nhập khẩu với những điều kiện nhất định để khếch đại ngành dầu khí và gas Các nước đã thu hút nhiều công ty nước ngoài đến từ nhiều nước để thiết lập hoạt động của họ trong nhiều loại hình kinh doanh khác nhau bao gồm cả kinh doanh dầu khí và gas

Sau khi kiểm định các giả định, các khuyết tật của mô hình như tự tương quan,

đa cộng tuyến, phương sai thay đổi, hiện tượng nội sinh, vấn đề tương quan chéo trong dữ liệu bảng,… luận văn đã lựa chọn được mô hình phù hợp nhất và khắc phục được các khuyết tật trên Mô hình CCEMG của Pesaran (2006) và AMG của Eberhardt và Teal (2010), Eberhardt và Teal (2011) là mô hình phù hợp và được nêu

rõ trong phần 3 của luận văn

Thứ ba, luận văn sử dụng sự phân loại của phương pháp kinh tế lượng bao gồm các phương pháp đồng liên kết của Kao (1999) có thể phát hiện ra các mối quan hệ mà nếu không sử dụng sẽ có thể bị sai sót nếu sử dụng các phương pháp thông thường Thất bại trong việc kết hợp các thời kỳ gián đoạn hoặc trong kiểm định nghiệm đơn vị hoặc trong kiểm định đồng liên kết sẽ làm biến dạng, sai lệch kết quả (Lee và Chang, 2005) Vì vậy, việc bao gồm các biến liên quan khác trong khuôn khổ mô hình đa biến và việc sử dụng các công cụ kinh tế lượng có tính vững hơn sẽ cung cấp các kết quả tốt hơn và đáng tin cậy hơn để phân tích mối quan hệ giữa các biến tăng trưởng kinh tế và tiêu thụ khí gas tự nhiên (Farhani và cộng sự, 2014)

Trang 15

1.5 Bố cục luận văn

Luận văn gồm 5 phần Phần 1 giới thiệu trình bày tổng quan các nội dung chính của luận văn và giải thích lý do tác giả chọn đề tài này để nghiên cứu Phần 2 trình bày tổng quan các nghiên cứu thực nghiệm có liên quan trước đây Phần 3 giới thiệu các phương pháp nghiên cứu được sử dụng Phần 4 là mô hình nghiên cứu, giải thích các biến được sử dụng để phân tích về những kết quả thực nghiệm và kết quả nghiên cứu Phần 5 là kết luận của luận văn

Trang 16

2 Tổng quan các nghiên cứu thực nghiệm

Lý thuyết về mối quan hệ nhân quả giữa tiêu thụ khí gas tự nhiên và tăng trưởng kinh tế thì rất thưa thớt khi so sánh với lý thuyết về than đá Mối quan hệ nhân quả giữa tiêu thụ năng lượng – tăng trưởng hoặc giữa tiêu thụ khí gas tự nhiên – tăng trưởng có thể được mô tả bởi 4 giả thuyết sau: Giả thuyết tăng trưởng, giả thuyết bảo tồn, giả thuyết phản hồi và giả thuyết trung lập Theo giả thuyết tăng trưởng về việc sử dụng khí gas/năng lượng thì chống lại vấn đề tăng trưởng kinh tế Bởi vì càng giảm bớt tiêu dùng khí gas/năng lượng sẽ kéo theo GDP giảm do bởi nền kinh tế phụ thuộc vào khí gas/năng lượng Giả thuyết bảo tồn cho rằng tồn tại mối quan hệ nhân quả một chiều từ tăng trưởng kinh tế đến sử dụng khí gas/năng lượng Vì vậy, tăng trưởng kinh tế có thể sẽ không tác động nhiều bởi chính sách làm giảm việc tiêu thụ khí gas/năng lượng Giả thuyết phản hồi thừa nhận rằng tồn tại mối quan hệ nhân quả hai chiều giữa tiêu thụ khí gas/năng lượng và tăng trưởng kinh tế Giả thuyết trung lập cho rằng càng giảm tiêu thụ khí gas/năng lượng sẽ không tác động đến tăng trưởng kinh tế và ngược lại (Belke và cộng sự, 2011) Trong phần 2, luận văn sẽ trình bày tổng quan một số các nghiên cứu thực nghiệm trước đây về mối quan hệ giữa các biến được sử dụng trong mô hình: Tăng trưởng kinh tế, tiêu thụ khí gas tự nhiên, đầu tư trực tiếp nước ngoài, hình thành vốn

và độ mở thương mại Có rất ít các nghiên cứu thực nghiệm trước đây về mối quan

hệ giữa tiêu thụ khí gas tự nhiên và tăng trưởng kinh tế, hầu hết các tác giả trước chỉ nghiên cứu về tiêu thụ điện hoặc tiêu thụ năng lượng nói chung trong mối quan hệ với tăng trưởng kinh tế, rất ít tìm thấy những nghiên cứu thực nghiệm về mối quan

hệ giữa tiêu thụ khí gas tự nhiên và tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên luận văn sẽ tổng hợp các nghiên cứu trước đây và phân thành 4 phần các nghiên cứu chính về mối quan hệ giữa tiêu thụ khí gas tự nhiên và tăng trưởng kinh tế, được trình bày ngay sau đây

Mặc dù các bài nghiên cứu về mối quan hệ nhân quả giữa tiêu thụ khí gas tự nhiên và tăng trưởng kinh tế là hạn chế, nhưng có thể chia các bài nghiên cứu đó thành 4 phần Phần đầu tiên liên quan đến các bài nghiên cứu sử dụng kỹ thuật đồng liên kết để suy luận về mối quan hệ nhân quả Phần thứ hai là các bài nghiên cứu 2 biến đã sử dụng kiểm định quan hệ nhân quả để nghiên cứu về mối quan hệ giữa các

Trang 17

biến, phần thứ 3 bao gồm các bài nghiên cứu 3 biến đã làm theo kiểm định quan hệ nhân quả nhưng chỉ trong phạm vi tiếp cận 3 biến Phát sinh từ các khuyết điểm của các nghiên cứu trước, các nghiên cứu phần 4 đã thực hiện đầy đủ kiểm định nhân quả trên chuỗi dữ liệu đa biến

2.1 Các nghiên cứu phần 1

Bắt đầu với lý thuyết phần 1, các bài nghiên cứu đã ứng dụng kỹ thuật đồng liên kết để nghiên cứu mối quan hệ giữa tiêu thụ khí gas tự nhiên và tăng trưởng kinh tế, bao gồm cả Lee và Chang (2005), người đã sử dụng kiểm định đồng liên kết của Johansen (1988), Hansen (1996), Gregory và Hansen (1996) để nghiên cứu mối quan hệ giữa tiêu thụ khí gas tự nhiên và tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn từ

1954 – 2003 ở Đài Loan Bằng cách sử dụng các biến ngoại sinh yếu trong hệ phương trình đồng liên kết nhằm kiểm tra mối quan hệ nhân quả trong dài hạn, các kết quả kiểm định cho thấy rằng tồn tại quan hệ nhân quả từ tiêu thụ khí gas tự nhiên đến GDP thực Kết quả thực nghiệm cho thấy đã tìm thấy bằng chứng rằng trong một thời gian dài tiêu thụ khí gas tự nhiên đóng vai trò là động lực tăng trưởng kinh tế, và vì vậy việc bảo tồn các nguồn năng lượng có thể gây tổn hại cho tăng trưởng kinh tế ở Đài Loan

Zamani (2007) đã nghiên cứu mối quan hệ giữa tiêu thụ khí gas tự nhiên và tổng quan nền kinh tế của Iran trong thời kỳ từ 1967 – 2003 Zamani đã ứng dụng

mô hình vector hiệu chỉnh sai số VECM để suy luận về mối quan hệ nhân quả giữa các biến, bài nghiên cứu đã cung cấp các bằng chứng về mối quan hệ hai chiều giữa tăng trưởng king tế và tiêu thụ khí gas tự nhiên ở Iran trong ngắn hạn

Hu và Lin (2008) đã sử dụng kiểm định đồng liên kết của Hansen và Seo (2002) để nghiên cứu mối quan hệ giữa tiêu thụ khí gas tự nhiên và GDP thực ở Đài Loan Đối với Đài Loan, tăng trưởng về tiêu thụ năng lượng thì cao hơn tăng trưởng kinh tế Bài nghiên cứu này cung cấp một lời giải thích ngắn gọn về mối quan hệ cân bằng giữa GDP và tiêu thụ năng lượng, bao gồm tiêu thụ khí gas tự nhiên Kết quả cho rằng tồn tại mối quan hệ giữa tiêu thụ khí gas tự nhiên và GDP thực ở trong nước trong dài hạn

Trang 18

Khan và Ahmad (2008) đã phát triển kiểm định Johansen (1988) và Johansen

và Juselius (1990) để nghiên cứu mối quan hệ giữa tiêu thụ khí gas tự nhiên theo đầu người, giá gas và GDP thực bình quân ở Pakistan với dữ liệu hằng năm trong giai đoạn từ 1972 – 2007 Kết quả cho thấy rằng thu nhập thực bình quân ở Pakistan

có tác động tích cực đến tiêu thụ khí gas tự nhiên trong ngắn hạn và giá cả trong nước có tác động tiêu cực đến tiêu thụ khí gas tự nhiên Tuy nhiên kết quả trong dài hạn thì thu nhập thực cũng có tác động tích cực đến tiêu thụ khí gas tự nhiên, trong khi giá cả trong nước lại không ảnh hưởng đến nhu cầu tiêu thụ khí gas trong dài hạn Ngoài ra, kết quả nghiên cứu mô hình trong ngắn hạn cho thấy rằng độ co giãn trung bình của giá cả và thu nhập thực tế của tiêu thụ khí gas tự nhiên (trong điều kiện tuyệt đối) đều lớn hơn so với mức tiêu thụ điện và than Hai tác giả cho rằng những nhà làm chính sách ở Đài Loan và những người đầu tư cá nhân sẽ được lợi ích từ bài nghiên cứu của họ vì nó cung cấp những thông tin rất hữu ích về thị trường nhu cầu tiêu thụ khí gas tự nhiên cũng như nhu cầu tiêu thụ năng lượng nói chung

Isik (2010) đã nghiên cứu mối quan hệ nhân quả giữa sự tiêu thụ khí gas tự nhiên và tăng trưởng kinh tế ở Thổ Nhĩ Kỳ trong thời kỳ từ 1977 – 2008 Bằng cách

sử dụng mô hình ARDL để nghiên cứu vai trò của sự tiêu thụ khí gas tự nhiên trong tăng trưởng kinh tế ở Thổ Nhĩ Kỳ, kết quả cho rằng sự tiêu thụ khí gas tự nhiên cũng ảnh hưởng tích cực đến tăng trưởng kinh tế trong ngắn hạn, nhưng trong dài hạn chúng có mối quan hệ tiêu cực Isik cho rằng sự tiêu thụ khí gas tự nhiên vẫn còn ở mức rất thấp, trong khi chi phí cho nguồn năng lượng lại rất cao ở Thổ Nhĩ

Kỳ Điều này sẽ tác động đến nền kinh tế một cách tích cực trong ngắn hạn và tiêu cực trong dài hạn

Mặc dù có nhiều sự đóng góp của các bài nghiên cứu trước, nhưng các bài nghiên cứu này đều có chung nhược điểm chính là đã không sử dụng phương pháp tiếp cận Granger để xác định mối quan hệ nhân quả Granger, mà thay vào đó các tác giả đã sử dụng các kiểm định đồng liên kết để kiểm tra trực tiếp mối quan hệ nhân quả Sự tồn tại của kiểm định đồng liên kết không chỉ rõ mối quan hệ nhân quả trực tiếp giữa các biến

Trang 19

2.2 Các nghiên cứu phần 2

Những bài nghiên cứu 2 biến đã ứng dụng chuỗi các kiểm định quan hệ nhân quả để nghiên cứu mối quan hệ nhân quả giữa sự tiêu thụ khí gas tự nhiên và tăng trưởng kinh tế Một số các nghiên cứu thực nghiệm có thể nêu ra như sau:

Yu và Choi (1985) đã sử dụng kiểm định nhân quả của Sims (1972) tại Vương Quốc Anh, Mỹ và Ba Lan với kết quả theo chiều từ sản lượng đầu ra đến sự tiêu thụ khí gas tự nhiên, trong khi không có quan hệ nhân quả giữa các biến trong trường hợp ở Mỹ và Ba Lan

Yang (2000) đã nghiên cứu mối quan hệ nhân quả giữa việc sử dụng khí gas tự nhiên và GDP ở Đài Loan trong giai đoạn từ 1954 – 1997 Bài nghiên cứu ứng dụng

kỹ thuật của Granger, kết quả phát hiện quan hệ nhân quả theo chiều từ sự tiêu thụ khí gas tự nhiên và GDP

Siddiqui (2004) đã ứng dụng kiểm định nhân quả Hsiao (1981) để điều tra mối quan hệ nhân quả giữa sự tiêu thụ khí gas tự nhiên và tăng trưởng kinh tế ở Pakistan trong giai đoạn từ 1970 – 2003 Các kết quả cho thấy không có mối quan hệ nhân quả giữa các biến Ngoài ra kết quả của Siddiqui còn tìm thấy rằng mở rộng sự tiêu thụ khí gas tự nhiên được kỳ vọng là dẫn đến tăng trưởng cao hơn và sự thu hẹp mức tiêu thụ khí gas tự nhiên sẽ làm chậm trễ quá trình tăng trưởng ở Pakistan trong giai đoạn nghiên cứu

Adeniran (2009) đã sử dụng kiểm định nhân quả của Sims (1972) để nghiên cứu mối quan hệ nhân quả giữa các biến sự tiêu thụ khí gas tự nhiên và GDP thực ở Nigeria trong giai đoạn từ 1980 – 2006 Các kết quả của bài nghiên cứu cho thấy rằng tồn tại mối quan hệ nhân quả theo chiều từ GDP thực đến sự tiêu thụ khí gas tự nhiên ở nước này

Payne (2011) đã nghiên cứu mối quan hệ nhân quả giữa tăng trưởng kinh tế và

sự tiêu thụ khí gas tự nhiên trong giai đoạn từ 1949 – 2006 ở Mỹ Kết quả nghiên cứu của tác giả chỉ ra rằng tồn tại mối quan hệ tích cực một chiều từ sản lượng đầu

ra đến sự tiêu thụ khí gas tự nhiên Nghĩa là tăng trưởng kinh tế càng cao thì nhu cầu tiêu thụ về khí gas tự nhiên ở Mỹ sẽ càng tăng cao

Trang 20

Trong bài nghiên cứu 2 biến khác, Zahid (2008) đã nghiên cứu mối quan hệ nhân quả giữa GDP và sự tiêu thụ khí gas tự nhiên ở 5 quốc gia – Bangladesh, Pakistan, Srilanka, Nêpal và Ấn Độ trong giai đoạn từ 1971 – 2003 bằng cách sử dụng mô hình hiệu chỉnh sai số ECM và phương pháp tiếp cận của Toda và Yamamoto (1995) Kết quả kiểm định đã chứng minh sự tồn tại mối quan hệ nhân quả một chiều từ sự tiêu thụ khí gas tự nhiên đến GDP ở Bangladesh và thiếu mối quan hệ nhân quả cho trường hợp của các quốc gia còn lại là Pakistan, Srilanka, Nêpal và Ấn Độ

Theo kết quả nghiên cứu của Lim và Yoo (2012), các tác giả đã khảo sát mối quan hệ nhân quả trong ngắn hạn và dài hạn giữa sự tiêu thụ khí gas tự nhiên và tăng trưởng kinh tế ở Hàn Quốc với dữ liệu theo quý trong giai đoạn từ 1991 –

2008 Các kết quả cung cấp bằng chứng cho thấy tồn tại mối tương quan nhân quả Granger hai chiều giữa sự tiêu thụ khí gas tự nhiên và tăng trưởng kinh tế ở Hàn Quốc

Das và cộng sự (2013) đã nghiên cứu mối quan hệ nhân quả giữa sự tiêu thụ khí gas tự nhiên và tăng trưởng kinh tế ở Bangladesh trong giai đoạn từ 1980 –

2010 Các tác giả có thể thiết lập mối quan hệ dài hạn và quan hệ nhân quả một chiều từ GDP thực đến sự tiêu thụ khí gas tự nhiên bằng cách sử dụng kiểm định nhân quả Granger: Các hoạt động kinh tế ảnh hưởng đến GDP ở Bangladest sẽ có tác động ảnh hưởng đến sự tiêu thụ khí gas tự nhiên, nhưng không có chiều ngược lại, nghĩa là mức độ tiêu thụ khí gas tự nhiên không là nguyên nhân dẫn đến tăng trưởng kinh tế ở Bangladesh

Bildirici và Bakirtas (2014) nghiên cứu mối quan hệ nhân quả giữa sự tiêu thụ khí gas tự nhiên (trong số các loại năng lượng khác nhau gồm than đá, dầu và khí gas tự nhiên) và tăng trưởng kinh tế ở các quốc gia bao gồm Braxin, Nga và Thổ Nhĩ Kỳ trong giai đoạn từ 1980 – 2011 bằng cách sử dụng phương pháp kiểm định ARDL Kết quả kiểm định cho thấy sự tồn tại mối quan hệ nhân quả hai chiều trong dài hạn giữa hai biến sự tiêu thụ khí gas tự nhiên và tăng trưởng kinh tế ở Braxin, Nga và Thổ Nhĩ Kỳ

Pirlogea và Cicea (2012) đã nghiên cứu về mối quan hệ nhân quả giữa sự tiêu thụ khí gas tự nhiên và GDP thực bình quân đầu người ở hai quốc gia Rumani và

Trang 21

Tây Ban Nha trong giai đoạn từ 1990 – 2010 Các tác giả đã sử dụng kiểm định nhân quả của Granger (1969), kết quả tìm thấy bằng chứng cho thấy rằng tồn tại mối quan hệ nhân quả trong ngắn hạn từ sự tiêu thụ khí gas tự nhiên đến tăng trưởng kinh tế ở Tây Ban Nha, trong khi không có mối quan hệ nhân quả giữa các biến ở quốc gia Rumani

2.3 Các nghiên cứu phần 3

So với các bài nghiên cứu đã ứng dụng các kiểm định đồng liên kết, các bài nghiên cứu trong khuôn khổ ứng dụng mối quan hệ nhân quả cũng đã cung cấp những kết quả, những hướng dẫn chính sách tốt hơn những bài nghiên cứu trước đó

đã thực hiên Tuy nhiên, các bài nghiên cứu về mối quan hệ nhân quả này đã thực hiện các ước lượng mô hình bằng cách thông qua phương pháp tiếp cận hai biến trong mô hình, điều này rất nhạy cảm với các vấn đề thiếu biến liên quan, có thể dẫn đến sai lệch kết quả bài nghiên cứu Do đó trong phần 3 của lý thuyết đã chọn khuôn khổ 3 biến để nghiên cứu mối quan hệ giữa sự tiêu thụ khí gas tự nhiên và tăng trưởng kinh tế

Aqueel và Butt (2001) nghiên cứu mối quan hệ nhân quả giữa sản lượng quốc gia và các thành phần của năng lượng bao gồm cả sự tiêu thụ khí gas tự nhiên được

sử dụng như là một biến kiểm soát ở quốc gia Pakistan, dữ liệu được lấy trong giai đoạn từ 1955 – 1956 đến 1995 – 1996 Các tác giả đã ứng dụng kiểm định đồng liên kết của Engle và Granger (1987) và ứng dụng kiểm định nhân quả Hsiao (1981), kết quả nghiên cứu đã tìm thấy bằng chứng là không tồn tại mối quan hệ nhân quả trong dài hạn giữa sự tiêu thụ khí gas tự nhiên và tăng trưởng kinh tế ở Pakistan trong giai đoạn nghiên cứu, trong khi tăng trưởng kinh tế ở nước này sẽ dẫn đến tăng trưởng trong sự tiêu thụ xăng dầu

Bài nghiên cứu của Lotfalipour và cộng sự (2010) đã nghiên cứu mối quan hệ nhân quả giữa tăng trưởng kinh tế, sự tiêu thụ nhiên liệu hóa thạch và sự phát thải khí cacbon ở Iran trong suốt thời kỳ 40 năm từ 1967 – 2007 bằng cách ứng dụng phương pháp kỹ thuật của Toda Yamamoto Sự tiêu thụ nhiên liệu hóa thạch, sự tiêu thụ các sản phẩm xăng dầu và sự tiêu thụ khí gas tự nhiên là ba chỉ tiêu cho sự tiêu

Trang 22

thụ năng lượng Các tác giả đã sử dụng biến sự tiêu thụ khí gas tự nhiên trong mô hình nghiên cứu, các kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng có tồn tại mối quan hệ nhân quả Granger một chiều từ sự tiêu thụ khí gas tự nhiên đến GDP trong dài hạn Nghĩa là gia tăng sự tiêu thụ khí gas tự nhiên sẽ dẫn đến tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên các tác giả đã không tìm thấy sự tiêu thụ nhiên liệu hóa thạch, sự phát thải khí cacbon dẫn đến tăng trưởng kinh tế

Kum và cộng sự (2012) đã nghiên cứu về mối quan hệ giữa sự tiêu thụ khí gas

tự nhiên và tăng trưởng kinh tế ở các nước G7 – bao gồm các nước Canada, Pháp, Đức, Ý, Nhật Bản, Vương Quốc Anh, Mỹ trong suốt giai đoạn từ 1970 –2008 Vấn

đề kiểm soát vốn, nghiên cứu đã khám phá ra rằng tồn tại mối quan hệ nhân quả theo chiều từ sự tiêu thụ khí gas tự nhiên đến tăng trưởng kinh tế ở nước Ý, trong khi đối với trường hợp ở Vương Quốc Anh thì kết quả ngược lại, tồn tại mối quan

hệ nhân quả theo chiều từ tăng trưởng kinh tế đến sự tiêu thụ khí gas tự nhiên Hơn nữa các kết quả chỉ ra rằng ở các nước Pháp, Đức và Mỹ thì sự tiêu thụ khí gas tự nhiên và GDP là có mối quan hệ nhân quả Granger hai chiều Tuy nhiên, không có mối quan hệ nhân quả nào giữa sự tiêu thụ khí gas tự nhiên và GDP cho trường hợp

ở Canada và Nhật Bản

Saboori và Sulaiman (2013) đã xem xét mối quan hệ giữa sự tiêu thụ khí gas

tự nhiên và tăng trưởng kinh tế ở Malaysia trong giai đoạn từ 1980 – 2009 Các tác giả ứng dụng phương pháp ARDL và Johansen để kiểm định đồng liên kết, ứng dụng kiểm định nhân quả Granger dựa trên mô hình VECM để kiểm tra mối quan

hệ nhân quả Các kết quả cung cấp bằng chứng về mối quan hệ dài hạn hai chiều giữa sự phát thải khí CO2 và sự tiêu thụ khí gas tự nhiên, tăng trưởng kinh tế và sự tiêu thụ khí gas tự nhiên Trong ngắn hạn, mối quan hệ một chiều tồn tại theo chiều

từ sự tiêu thụ khí gas tự nhiên và tăng trưởng kinh tế Điều này có nghĩa rằng nếu giảm sút trong việc tiêu thụ các nguồn năng lượng như gas, điện, dầu thì sẽ là một trong những cách hiệu quả nhằm kiểm soát sự phát thải khí CO2 ra ngoài mô trường, nhưng đồng thời sự giảm sút trong mức tiêu thụ các nguồn năng lượng trên cũng sẽ làm cản trở tăng trưởng kinh tế Do đó yêu cầu đặt ra cho các cấp chính quyền ở Malaysia là phải có các chính sách năng lượng phù hợp liên quan đến sự

Trang 23

tiêu thụ hiệu quả các nguồn năng lượng và sự tiêu thụ các nguồn năng lượng tái tạo

ở Malaysia

2.4 Các nghiên cứu phần 4

Cách tiếp cận bài nghiên cứu theo khuôn khổ 3 biến đã làm giảm các vấn đề thiếu biến liên quan, nhưng việc bao gồm một biến thêm vào mô hình (mà trong nhiều trường hợp là do hạn chế dữ liệu hoặc thiếu dữ liệu) thì ít giải quyết vấn đề thực sự Hầu hết các bài nghiên cứu gần đây đã có sự thay đổi trong việc sử dụng khuôn khổ đa biến

Chẳng hạn, theo bài nghiên cứu của Apergis và Payne (2010) đã nghiên cứu mối quan hệ giữa sự tiêu thụ khí gas tự nhiên và tăng trưởng kinh tế cho dữ liệu bảng gồm 67 quốc gia trong giai đoạn từ 1992 – 2005 trong khuôn khổ sử dụng mô hình đa biến Ứng dụng kiểm định đồng liên kết cho dữ liệu bảng không đồng nhất, bài nghiên cứu đã thêm biến lực lượng lao động và sự hình thành vốn vào mô hình, với ước lượng mô hình cho kết quả có tồn tại mối quan hệ cân bằng dài hạn giữa các biến trong mô hình và kết quả của quan hệ nhân quả Granger cho thấy mối quan

hệ hai chiều giữa tăng trưởng kinh tế và sự tiêu thụ khí gas tự nhiên trong ngắn hạn

và dài hạn

Ighodaro (2010) nghiên cứu liên kết giữa việc sử dụng khí gas tự nhiên và tăng trưởng kinh tế ở Nigeria từ 1970 – 2005 Việc thêm biến chi phí y tế và tiền tệ nghĩa rộng vào hệ thống, kết quả nghiên cứu đã cho thấy tồn tại sự liên kết trong dài hạn với dữ liệu chuỗi và mối quan hệ nhân quả một chiều từ việc sử dụng khí gas tự nhiên đến tăng trưởng kinh tế Vì vậy, Ighodaro cho rằng chính sách bảo tồn năng lượng liên quan đến sự tiêu dùng khí gas tự nhiên sẽ kìm hãm sự tăng trưởng kinh tế

ở Nigeria

Shahbaz và cộng sự (2013) đã xem xét mối quan hệ nhân quả ở Pakistan trong giai đoạn từ 1972 – 2010 Các biến bao gồm vốn, lao động và xuất khẩu trong khuôn khổ mô hình đa biến Các tác giả ứng dụng phân tích phương sai để chỉ ra rằng có tồn tại mối quan hệ nhân quả dài hạn một chiều từ sự tiêu thụ khí gas tự nhiên đến tăng trưởng kinh tế Sự tiêu thụ khí gas tự nhiên có tác động tích cực đến

Trang 24

tăng trưởng kinh tế ở Pakistan Hơn nữa, các tác giả ủng hộ giả thuyết led­growth

về sự tiêu thụ khí gas tự nhiên và khuyến nghị rằng các chính sách bảo tồn khí gas

tự nhiên sẽ làm chậm trễ sự tăng trưởng kinh tế Vì vậy Pakistan càng gia tăng và thúc đẩy sự tiêu dùng khí gas tự nhiên sẽ là một cách để dẫn đến tăng trưởng kinh tế cao hơn

Farhani và cộng sự (2014) đã nghiên cứu vai trò của sự tiêu thụ khí gas tự nhiên, thêm vào các yếu tố sự hình thành vốn cố định và độ mở thương mại vào mô hình tăng trưởng kinh tế ở Tuynidi cho giai đoạn từ 1980 – 2012 Các tác giả ứng dụng kiểm định phương pháp của Toda và Yamamoto (1995), kết quả cho thấy có tồn tại mối quan hệ nhân quả hai chiều giữa sự tiêu thụ khí gas tự nhiên và sản lượng thực Ngoài ra, sự tiêu thụ khí gas tự nhiên là nguyên nhân dẫn đến tăng GDP thực ở Tuynidi

Solarin và Shahbazb (2015) đã nghiên cứu mối quan hệ giữa sự tiêu thụ khí gas tự nhiên và tăng trưởng kinh tế, bao gồm các biến đầu tư trực tiếp nước ngoài,

sự hình thành vốn và độ mở thương mại ở Malaysia trong giai đoạn từ năm 1971 ­

2012 Các tác giả ứng dụng kiểm định nghiệm đơn vị được sử dụng để nghiên cứu thuộc tính dừng của dữ liệu chuỗi Bài nghiên cứu của các tác giả này sẽ ứng dụng kết hợp kiểm định đồng liên kết để nghiên cứu mối quan hệ giữa các biến trong mô hình trong dài hạn Để đạt được tính vững, phương pháp kiểm định ARDL cũng được dùng để kiểm định mối quan hệ trong dài hạn trong sự tồn tại của phá vỡ cấu trúc Các tác giả lưu ý về tính hiệu lực của tính đồng liên kết giữa các biến, vì đây là

cơ sở quan trọng để ứng dụng mô hình VECM Granger Sự tiêu thụ khí gas tự nhiên, chỉ số đầu tư trực tiếp nước ngoài, sự hình thành vốn và độ mở thương mại

có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế ở Malaysia trong giai đoạn nghiên cứu Kết quả ủng hộ tồn tại giả thuyết phản hồi giữa sự tiêu thụ khí gas tự nhiên và tăng trưởng kinh tế, đầu tư trực tiếp nước ngoài và tăng trưởng kinh tế, sự tiêu thụ khí gas tự nhiên và đầu tư trực tiếp nước ngoài

Ngoài ra, các kết quả của tác giả Solarin và Shahbazb (2015) còn chỉ rõ tồn tại mối quan hệ trong dài hạn hai chiều giữa sự tiêu thụ khí gas tự nhiên và tăng trưởng kinh tế ở Malaysia trong giai đoạn này Tóm lược các kết quả bài nghiên cứu của các tác giả như sau:

Trang 25

­ Mối quan hệ giữa đầu tư trực tiếp nước ngoài và tăng trưởng kinh tế là mối quan hệ hai chiều trong cả ngắn hạn và dài hạn Các quan hệ nhân quả hai chiều trong cũng được tìm thấy giữa sự hình thành vốn và tăng trưởng kinh tế và suy luận tương tự giữa sự tiêu thụ khí gas tự nhiên và sự hình thành vốn trong dài hạn

­ Đầu tư trực tiếp nước ngoài có quan hệ nhân quả Granger với sự tiêu thụ khí gas tự nhiên và do đó, sự tiêu thụ khí gas tự nhiên có quan hệ nhân quả Granger với đầu tư trực tiếp nước ngoài Tồn tại mối quan hệ nhân quả hai chiều giữa sự hình thành vốn và đầu tư trực tiếp nước ngoài

­ Độ mở thương mại có quan hệ nhân quả Granger với các yếu tố tăng trưởng kinh tế, sự tiêu thụ khí gas tự nhiên, đầu tư trực tiếp nước ngoài và sự hình thành vốn

­ Trong ngắn hạn, sự tiêu thụ khí gas tự nhiên và đầu tư trực tiếp nước ngoài

có quan hệ nhân quả Granger với tăng trưởng kinh tế Tồn tại mối quan hệ nhân quả hai chiều giữa sự hình thành vốn và độ mở thương mại Ngoài ra, đầu tư trực tiếp nước ngoài có quan hệ nhân quả Granger với sự hình thành vốn

Trang 26

3 Mô hình và phương pháp nghiên cứu

3.1 Mô hình và dữ liệu nghiên cứu

Luận văn tiến hành các ước lượng với một mô hình mà mô hình này sẽ bổ sung vào phiên bản của mô hình tân cổ điển của Ram và Zhang (2002) và Ramirez (2000, 2006) Bằng cách làm này, luận văn thêm biến sự tiêu thụ khí gas tự nhiên và chỉ số độ mở thương mại vào khuôn khổ mô hình đã có sẵn biến đầu tư trực tiếp nước ngoài và sự hình thành vốn như là những yếu tố quyết định cho kết quả mô hình (Solarin và Shahbazb, 2015)

Phương trình thực nghiệm được viết theo hình thức sau:

Y t = F (G t , F t , K t , O t ) (3.1)

Với Y là GDP thực bình quân đầu người, G là sự tiêu thụ khí gas tự nhiên bình quân đầu người, K là sự hình thành vốn thực bình quân đầu người (đại diện cho tổng sự hình thành vốn cố định thực), F là đầu tư trực tiếp nước ngoài bình quân đầu người và O là độ mở thương mại thực bình quân đầu người (xuất khẩu hàng hóa

và dịch vụ thực cộng với nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ thực) Các biến được nêu

cụ thể tại bảng 3.1

Tác giả tập trung vào giai đoạn 1991 – 2014 để nghiên cứu mối quan hệ giữa

sự tiêu thụ khí gas tự nhiên và tăng trưởng kinh tế Đây là giai đoạn tiêu thụ khí gas

tự nhiên nhiều và các nước đang chú trọng phát triển thị trường khí gas tự nhiên để thay thế cho năng lượng điện hoặc than đá Dữ liệu sự tiêu thụ khí gas tự nhiên được lấy từ BP Global hàng năm, dữ liệu đầu tư trực tiếp nước ngoài được lấy từ United Nations Conference on Trade and Development (UNCTAD) Các biến còn lại: GDP thực bình quân đầu người, hình thành vốn và độ mở thương mại được lấy

từ World bank

Các quốc gia trong mô hình sẽ được phân thành 2 nhóm: Nhóm quốc gia có thu nhập cao và nhóm quốc gia có thu nhập trung bình Tiêu chí phân loại dựa vào GDP hàng năm của các quốc gia theo tiêu chí phân loại từ World bank 7

7

http://data.worldbank.org/about/country­and­lending­groups

Trang 27

Phương trình (3.1) được viết lại như sau:

Yit = α0 + αG Git + αF Fit + αK Kit + αO Oit + µit (3.2)

Với µit là phần dư, i đại diện cho các quốc gia, t là thời gian

Bảng 3.1: Mô tả các biến trong mô hình

cư, dịch vụ, sản xuất điện,…

được tính trong một năm của mỗi quốc gia

BP Global

Trang 28

tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó

United Nations Conference on

Development (UNCTAD)

Capital

information K

Sự hình thành vốn (Capital formation) là một thuật ngữ dùng để mô tả sự tích lũy vốn ròng trong một chu kỳ kế toán

Sự hình thành vốn đề cập đến việc bổ sung vốn ròng như máy móc thiết bị, nhà cửa, công trình và các hàng hóa trung gian khác Một quốc gia

sử dụng vốn cổ phần trong việc kết hợp với lực lượng lao động để cung cấp những dịch

vụ và sản xuất hàng hóa Một

sự gia tăng trong vốn cổ phần này được gọi là sự hình thành vốn

World bank

Trade

Độ mở thương mại có nghĩa là

sự mở cửa của một quốc gia đới với các quốc gia khác thể hiện trong việc thực hiện hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa

World bank

Trang 29

hữu hình, được tính bằng tỷ trọng xuất nhập khẩu bình quân theo đầu người của một quốc gia

3.2 Phương pháp nghiên cứu

Sau khi tiến hành thống kê mô tả các biến trong mô hình, trong luận văn này tác giả sẽ tiến hành kiểm định các vấn đề trong dữ liệu bảng và hồi quy mô hình theo các bước như sau:

­ Kiểm định tương quan chéo (Cross-section independence)

Kiểm định tương quan chéo có thể giải thích được các thuật ngữ của kinh tế lượng, ví dụ như các cá nhân trong bảng có liên quan đến phần sai số trong mô hình

dữ liệu bảng, được cho bởi phương trình (3.3) Trong kinh tế lượng, kiểm định tương quan chéo có thể giải thích được rằng trong trường hợp với một cá nhân trong bảng bị ảnh hưởng bởi một cú sốc, các cá nhân khác trong bảng cũng sẽ bị tác động tương tự như vậy:

(3.3) Với cov( it, ij)  0

­ Kiểm định tính dừng

Trong khuôn khổ luận văn này tác giả ứng dụng hai kiểm định ADF (1984) và kiểm định PP (1988) để kiểm tra tính dừng của dữ liệu Đây là điều cần thiết để đảm bảo kết quả không bị sai lệch trước khi hồi quy mô hình

Kiểm định nghiệm đơn vị Augment Dickey Fuller (1984):

Chúng ta hãy xem xét quá trình tự hồi quy:

t p t

t

Trang 30

kiểm định t Dickey­Fuller:

) ( 1 ˆ ˆ

y Se

y

t y  

Thống kê này không tuân theo phân phối thông thường của t­student Các giá trị quan trọng được tính toán bởi Dickey và Fuller phụ thuộc vào hệ số chặn, xu hướng

Kiểm định nghiệm đơn vị Phillips­Perron (1988):

Phillips và Perron (1988) (sau đây gọi là PP) đã đề xuất chuyển đổi tham số của thống kê t từ hồi quy gốc DF dưới dạng the unit root giả thuyết H0, thống kê được chuyển đổi (thống kê Z) có phân phối DF

Kiểm định hồi quy cho kiểm định PP là:

t t t

Với t là I(0) có thể bị phương sai sai số thay đổi Kiểm định PP đúng cho bất

kỳ chuỗi tương quan nào và phương sai sai số thay đổi trong sai số ut của kiểm định hồi quy bằng cách điều chỉnh trực tiếp thống kê t  0và ˆ

Với giả thuyết không của đơn vị gốc cho tất cả N quan sát, sử dụng thuộc tính

P

1

)(log

2  được phân phối bởi 2

Z

1

1 ) (

1

 được phân phối bởi N (0,1)

­ Kiểm định sự tương quan và đa cộng tuyến

Một trong những giả định của mô hình hồi qui tuyến tính cổ điển là không có vấn đề đa cộng tuyến giữa các biến giải thích X Nói rộng ra là, vấn đề đa cộng tuyến đề cập đến tình huống trong đó tồn tại một mối quan hệ tuyến tính hoàn hảo hoặc gần như hoàn hảo giữa các biến X Các hệ quả của đa cộng tuyến là: Nếu tồn tại cộng tuyến hoàn hảo giữa các biến X, thì hệ số hồi qui của chúng là không xác định và các sai số chuẩn của chúng là vô hạn Nếu cộng tuyến cao nhưng không hoàn hảo thì việc ước lượng của các hệ số hồi qui là có thể thực hiện được nhưng sai số chuẩn của chúng có khuynh hướng rất lớn Kết quả là, các giá trị tổng thể của các hệ số không thể được ước lượng một cách chính xác Tuy nhiên, nếu mục tiêu là ước lượng tổ hợp tuyến tính của các hệ số này, các hàm ước lượng, thì việc này có thể thực hiện được ngay cả với sự hiện diện của đa cộng tuyến hoàn hảo

­ Kiểm định phương sai thay đổi

Trang 31

Một giả thiết quan trọng của mô hình hồi quy tuyến tính cổ điển là các yếu tố nhiễu ui có cùng phương sai, 2 Nếu giả thiết này không được thỏa mãn thì có phương sai thay đổi Phương sai thay đổi không làm mất đi tính chất không thiên lệch và nhất quán của các ước lượng OLS Nhưng các ước lượng này không còn có phương sai nhỏ nhất hay là các ước lượng hiệu quả Tức là chúng không còn là các ước lượng tuyến tính không thiên lệch tốt nhất (BLUE) Khi có phương sai thay đổi, các phương sai của các ước lượng OLS không được tính từ các công thức OLS thông thường Nhưng nếu ta vẫn sử dụng các công thức OLS thông thường, các kiểm định t và F dựa vào chúng có thể gây ra những kết luận sai lầm

Trong luận văn này tác giả ứng dụng kiểm định Greene (2000) để kiểm định phương sai thay đổi

­ Kiểm định tự tương quan phần dư-Wooldridge (2002) và Drukker (2003)

Nếu giả định của mô hình hồi qui tuyến tính cổ điển cho rằng các sai số hoặc các nhiễu ut được đưa vào mô hình hồi qui tổng thể là ngẫu nhiên hoặc không có tương quan bị vi phạm, thì vấn đề tự tương quan hoặc tương quan chuỗi xuất hiện

Tự tương quan có thể xuất hiện do nhiều nguyên nhân, như là sự trì trệ hoặc chậm chạp của các chuỗi thời gian kinh tế, các thiên lệch của đặc trưng do không đưa các biến quan trọng vào mô hình hoặc do sử dụng dạng hàm không chính xác, hiện tượng Cobweb, nhào nặn dữ liệu, v.v

Mặc dù các hàm ước lượng vẫn không thiên lệch và nhất quán khi có tự tương quan, chúng không còn hiệu quả nữa Kết quả là, các kiểm định thông thường t và F

về mức ý nghĩa không thể được áp dụng một cách hợp lệ Do đó, ta cần phải có một

số các biện pháp khắc phục Để kiểm tra hiện tượng tự tương quan, tác giả ứng dụng phương pháp của Wooldridge (2002) và Drukker (2003)

­ Kiểm định đồng liên kết

Trong bài nghiên cứu của Kao (1999) mô tả 2 kiểm định với giả thuyết không

là không có đồng liên kết cho dữ liệu bảng Một là kiểm định loại Dickey­Fuller và hai là kiểm định loại Augmented Dickey­Fuller Đối với loại kiểm định Dickey­Fuller, Kao trình bày 2 phần cụ thể

Trong trường hợp 2 biến, Kao xem xét mô hình sau:

,

it it i

y    i = 1,…, N, t = 1,…, T

Trang 32

Với y ity it1u it, x itx it1it

i

 là tác động cố định khác nhau trong các quan sát chéo, là hệ số chặn, yit

và xit là các bước ngẫu nhiên độc lập cho tất cả quan sát i

Bây giờ giả thuyết H0 và giả thuyết H1 được viết lại như sau:

S

e Q e t

2 / 1

1( ))

 

Chi tiết của kiểm định đồng liên kết Kao (1999) có thể được tìm thấy trong bài nghiên cứu gốc của ông

Kiểm định riêng lẻ kết hợp (Fisher/Johansen)

Kiểm định đồng liên kết Johansen: Johansen (1988) đề xuất 2 phương pháp khác nhau, một trong số đó là thống kê the likelihood ratio trace và một phương pháp khác là thống kê giá trị riêng lớn nhất, để kiểm tra sự tồn tại của các vector đồng liên kết trong dữ liệu chuỗi thời gian không dừng Thống kê trace và thống kê giá trị riêng lớn nhất sẽ được trình bày trong phương trình (3.6) và (3.7):

i trace r T

1

)ˆ1ln(

)

) ˆ 1 ln(

) 1 ,

Nếu ilà giá trị p­value cho mỗi kiểm định đồng liên kết riêng lẻ cho dữ liệu

chéo I, thì dưới giả thuyết không cho toàn bộ bảng, 

1

)(log

2  được phân phối

bởi 2

2 N

 Phần mềm Eviews báo cáo kết quả 2

 ­ value dựa trên p­value của Mackinnon­Haug­Michelis (1999) cho kiểm định đồng liên kết trace và giá trị riêng lớn nhất của Johansen

Trang 33

­ Phương pháp GMM

Các mô hình hồi quy dữ liệu bảng fixed effect và random effect không khắc phục được một số nhược điểm của mô hình, dẫn đến kết quả mô hình bị sai lệch Hơn nữa, trong mô hình tác giả có hai biến nghi ngờ bị hiện tượng nội sinh nên luận văn sẽ sử dụng phương pháp GMM để khắc phục hiện tượng nội sinh

Đầu tiên ta xem lại phương pháp Generalized Least Squarees (GLS)

Xem xét mô hình đa biến cơ bản sau:

Giả định rằng  ~ N (0, ) – các yếu tố chéo không cân bằng có nghĩa rằng chúng có phương sai sai số thay đổi và các yếu tố chéo non­zero off có nghĩa rằng chúng không có tự tương quan

Với những điều kiện này, OLS là vẫn không chệch nhưng sai số chuẩn bị sai

Ma trận hiệp phương sai đúng là: ( ) ( ) 1 ( )

X X X X X X Cov      

Có thể xấp xỉ ma trận hiệp phương sai bằng cách sử dụng các tùy chọn mạnh

mẽ trong Stata cho phương sai thay đổi hoặc tùy chọn Newy­West cho tự tương quan và phương sai thay đổi

Một ước lượng được chứng minh là ước lượng GLS: X 1X 1X 1Y

) (

Ước lượng này hiệu quả hơn OLS vì nó sử dụng nhiều thông tin hơn

Ví dụ về phương sai thay đổi: Y iX i i

Với tất cả vô hướng:

N

i i i

X

Y X

1 2 1 ˆ

N

i

i i i

X

Y X

1

2 2 1

2

/

/ ˆ

Trang 34

i i

X

Y X

Bây giờ giả sử E(X ii)  0nhưng E(Z ii)  0với Z là một biến khác Nếu chúng ta đặt mẫu tương ứng của điều kiện moment này bằng 0 thì chúng ta sẽ có:

i i

i i IV

X Z

Y Z

ˆ được xem như là ước lượng của các biến công cụ

Lưu ý rằng nếu các biến được tiêu chuẩn hóa thì mẫu số là tương quan giữa X

và Z – vì vậy ước lượng không được xác định nếu tương quan bằng 0

Hai điều kiện của một biến công cụ:

­ Có tương quan với biến cần được instrumented

­ Không tương quan với phần dư

Bây giờ giả định rằng X là N x K và Z là N x L và L > K – Chúng ta có nhiều biến công cụ hơn biến hồi quy – over identification

Mô hình trong dạng ma trận này là: Y  X  với E(X)  0

Điều kiện moment là: E(Z)  0

Vì ta có nhiều điều kiện moment hơn các tham số nên ta có thể bỏ bớt các điều kiện moment nhưng điều này không dẫn đến một ước lượng ˆ duy nhất

Vì vậy những gì được thực hiện là thay vì tìm  nhỏ nhất: min(Z) W(Z)với W là ma trận trọng số L x L

Nếu thế vào: min(Z(YX ) W(Z(YX)) Giải pháp cho tối ưu  là:

Y Z ZW X X Z ZW

 ( )1ˆ

­ Hồi quy CCEMG và AMG

Ước lượng Common Correlated Effects Mean Group (CCEMG) của Pesaran (2006) cho phép để thiết lập phương trình thực nghiệm, bao gồm tương quan chéo, quan sát time­variant không đổi theo thời gian với phương sai thay đổi của các đại lượng không gian giữa các thành phần và các vấn đề của sự đồng nhất (bi là không xác định nếu hồi quy bao gồm ft) Thứ hai là so sánh với các vấn đề bị chệch trong

Trang 35

mô hình hàm sản xuất vi mô, với đầu vào Xit có tương quan với những cú sốc không quan sát được ft Ước lượng CCEMG giải quyết vấn đề này rất đơn giản nhưng sự tăng lên mạnh mẽ của phương trình hồi quy nhóm cụ thể: một phần từ hồi quy Xit

và hệ số chặn phương trình này bây giờ bao gồm trung bình chéo của biến độc lập

và biến phụ thuộc: ybar_t và xbar_t Điều này có thể tạo ra nhân tố chung không quan sát được là ft và được cho bởi ước lượng nhóm cụ thể tác động không đồng nhất (i) Hệ số bi là trung bình chéo với trọng số khác nhau có thể được ứng dụng Trong ứng dụng thực nghiệm, các hệ số ước lượng trên các biến trung bình chéo cũng tốt như ước lượng trung bình của chúng là không thể giải thích được một cách có ý nghĩa: Chúng chỉ đưa ra để pha trộn vào các tác động xu hướng của các nhân tố phổ biến không quan sát được Trọng tâm của các ước lượng trên là có được ước lượng phù hợp của các thông số liên quan đến các biến quan sát được Phương pháp CCEMG là vững cho sự tồn tại của một giới hạn nhân tố mạnh cũng như vô số nhân tố yếu – sau này có thể được kết hợp với các hiệu ứng lan tỏa, trong khi cái trước đại diện cho các cú sốc toàn cầu (Xem Pesaran và Tosetti (2010) để biết chi tiết hơn) Hơn nữa, như đã chỉ ra bởi Kapetanios, Pesaran và Yamagata (2011), những nhân tố này có thể không dừng

Ước lượng Augmented Mean Group (AMG) được phát triển bởi Eberhardt và Teal (2010) để thay thế cho ước lượng CCEMG Trong phương pháp CCEMG thiết lập các nhân tố chung không quan sát được bị xem như là một yếu tố nguy hại, một cái gì đó có thể được kể đến mà không phải là mối quan tâm đặc biệt trong phân tích thực nghiệm Trong các hàm sản xuất xuyên quốc gia, các biến không quan sát được đại diện cho tổng các nhân tố sản xuất (TFP) Lưu ý rằng phương pháp dữ liệu bảng để phân tích xuyên quốc gia thường dựa trên hàm sản xuất Cobb­Douglas (Xem Eberhardt và Teal (2011) để biết chi tiết hơn)

Phương pháp AMG được thảo luận và kiểm định bằng cách sử dụng mô hình Monte Carlo trong Bond và Eberhardt (2009), được thực hiện trong 3 bước: (i) Mô hình hồi quy gộp tăng cường với biến giả năm được ước lượng bởi sự khác biệt đầu tiên của OLS và hệ số biến giả năm thu thập được Chúng đại diện cho ước lượng trung bình chéo của các biến không quan sát được TFP theo thời gian Đây được gọi

là “common dynamic process” (ii) Mô hình hồi quy nhóm cụ thể được tăng cường

Trang 36

sau đó với quy trình ước lượng TFP: (a) Có một biến rõ ràng, (b) Hoặc áp đặt lên mỗi thành viên trong nhóm với hệ số đơn vị bằng cách trừ quá trình ước lượng từ các biến phụ thuộc Giống như trường hợp MG, mô hình hồi quy bao gồm một hệ

số chặn với tác động cố định bất biến theo thời gian (mức độ TFP) (iii) Giống như

mô hình MG và CCEMG, các tham số của mô hình nhóm cụ thể là trung bình chéo của bảng Trong mô hình AMG biểu diễn tương tự như CCEMG trong trường hợp ước lượng bị chệch hoặc RMSE với dữ liệu bảng không dừng trên các biến (có đồng liên kết hay không) và các yếu tố sai số (phụ thuộc dữ liệu chéo)

­ Phương pháp quan hệ VECM Granger

Sau khi nghiên cứu mối quan hệ dài hạn giữa các biến, tác giả sử dụng kiểm định nhân quả Granger để nghiên cứu mối quan hệ nhân quả giữa các biến Nếu có đồng liên kết giữa các chuỗi thì tiếp theo tác giả sẽ sử dụng phương pháp mô hình hiệu chỉnh sai số (VECM), được trình bày như sau:

b b b b b

1 , 45 1 , 44 1 , 43 1 , 42 1 , 41

1 , 35 1 , 34 1 , 33 1 , 32 1 , 31

1 , 25 1 , 24 1 , 23 1 , 22 1 , 21

1 , 15 1 , 14 1 , 13 1 , 12 1 , 11

B B B B B

B B B B B

B B B B B

B B B B B

B B B B B

t t t t t

O F K G Y

m m m m m

m m m m m

m m m m m

m m m m m

B B B B B

B B B B B

B B B B B

B B B B B

B B B B B

, 55 , 54 , 53 , 52 , 51

, 45 , 44 , 43 , 42 , 41

, 35 , 34 , 33 , 32 , 31

, 25 , 24 , 23 , 22 , 21

, 15 , 14 , 13 , 12 , 11

t t t t t

O F K G Y

5 4 3 2 1

Với hệ số sai phân là (1 – L) và ECMt­1 là độ trễ của phần sai số, được tạo ra

từ phương trình dài hạn Thống kê t về độ trễ của sai số sẽ được sử dụng để nghiên cứu quan hệ nhân quả trong dài hạn Quan hệ nhân quả trong ngắn hạn được biết thông qua ý nghĩa thống kê của 2

 cho biết sự khác biệt giữa các biến Ví dụ, B12,i ≠

0 ichỉ ra rằng sự tiêu thụ khí gas là nguyên nhân làm tăng trưởng kinh tế và tăng trưởng kinh tế tác động đến sự tiêu thụ khí gas nếu B21,i ≠ 0 i

Trang 37

4 Kết quả nghiên cứu

Phần 3 đã trình bày phương pháp nghiên cứu được sử dụng để xây dựng, đánh giá các khái niệm nghiên cứu và kiểm nghiệm mô hình lý thuyết Phần 3 cũng đưa

ra cách đo lường các biến trong mô hình Phần 4 sẽ trình bày kết quả nghiên cứu thu được từ quá trình phân tích số liệu của 14 quốc gia Châu Á Thái Bình Dương trong thời gian từ năm 1991 – 2014

Các ưu điểm của dữ liệu bảng so với dữ liệu theo chuỗi thời gian và không gian, theo Baltagi (2008), vì dữ liệu bảng liên quan đến các cá nhân, doanh nghiệp, v.v… theo thời gian, nên nhất định phải có tính dị biệt (không đồng nhất) trong các đơn vị này Kỹ thuật ước lượng dữ liệu bảng có thể chính thức xem xét đến tính dị biệt đó bằng cách xem xét các biến số có tính đặc thù theo từng cá nhân Ta sử dụng thuật ngữ cá nhân theo ý nghĩa chung bao gồm các đơn vị vi mô như các cá nhân, các doanh nghiệp, Thông qua kết hợp các chuỗi theo thời gian của các quan sát theo không gian, dữ liệu bảng cung cấp “những dữ liệu có nhiều thông tin hơn, đa dạng hơn, ít cộng tuyến hơn giữa các biến số, nhiều bậc tự do hơn và hiệu quả hơn” Thông qua nghiên cứu các quan sát theo không gian lặp lại, dữ liệu bảng phù hợp hơn để nghiên cứu tính động của thay đổi Tình trạng thất nghiệp, luân chuyển công việc, và tính lưu chuyển lao động sẽ được nghiên cứu tốt hơn với dữ liệu bảng

Dữ liệu bảng có thể phát hiện và đo lường tốt hơn những ảnh hưởng mà không thể quan sát trong dữ liệu chuỗi thời gian thuần túy hay dữ liệu chéo theo không gian thuần túy Dữ liệu bảng giúp ta nghiên cứu những mô hình hành vi phức tạp hơn Ví

dụ, các hiện tượng như lợi thế kinh tế theo quy mô và thay đổi kỹ thuật có thể được xem xét thông qua dữ liệu bảng tốt hơn so với dữ liệu theo chuỗi thời gian thuần túy hay theo không gian thuần túy Bằng cách thu thập những số liệu có sẵn cho vài nghìn đơn vị, dữ liệu bảng có thể tối thiểu hóa sự thiên lệch có thể xảy ra nếu ta tổng hợp các cá nhân hay các doanh nghiệp thành số liệu tổng Nói vắn tắt, dữ liệu bảng có thể giúp chúng ta phân tích thực nghiệm theo những cách thức mà không chắc có thể đạt được nếu ta chỉ sử dụng các dữ liệu theo chuỗi thời gian hay không gian thuần túy

Trang 38

4.1 Phân tích thống kê mô tả

Sau khi thu thập và tính toán dữ liệu, kết quả được trình bày theo bảng thống

kê mô tả trong bảng 4.1 dưới đây

Kết quả thống kê chỉ ra phạm vi số quan sát, giá trị trung bình và độ lệch chuẩn, giá trị lớn nhất và giá trị nhỏ nhất của các biến được sử dụng trong nghiên cứu này, bao gồm GDP, sự tiêu thụ khí gas tự nhiên, đầu tư trực tiếp nước ngoài, sự hình thành vốn và độ mở thương mại ở 14 nước Châu Á Thái Bình Dương trong giai đoạn từ 1991 – 2014

Bảng 4.1: Thống kê mô tả giữa các biến trong mô hình

Biến

Số quan sát

Giá trị Trung bình

Độ lệch chuẩn

Giá trị nhỏ nhất

Giá trị lớn nhất Tất cả quốc gia

Trang 39

Kết quả phân tích thống kê mô tả giữa các biến trong mô hình theo bảng 4.1 cho thấy, trong mô hình cho thấy các biến có độ lệch chuẩn không quá lớn so với giá trị trung bình Giá trị lớn nhất của các biến trong mẫu tất cả các quốc gia cũng là giá trị lớn nhất trong mẫu các quốc gia có thu nhập cao Các quốc gia có thu nhập cao bao gồm 5 nước: Úc, China Hong Kong SAR, Nhật Bản, Singapore, New Zealand Các quốc gia có thu nhập trung bình bao gồm 9 nước: Bangladet, Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia, Malaysia, Pakistan, Philippines, Thái Lan và Việt Nam

Dữ liệu tương đối đồng đều ở các biến Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm 336 quan sát cho tất cả các quốc gia trong mô hình, được xem là cỡ mẫu lớn trong thống kê Dữ liệu đầu vào phù hợp thực hiện hồi quy

Biểu đồ 4.2: Biểu đồ thể hiện sự tiêu thụ khí gas tự nhiên và GDP trung bình

giai đoạn 1991 – 2014 của tất cả các quốc gia trong mô hình

(Nguồn: Tác giả tự tổng hợp số liệu từ World bank và BP Global) 8

8

Nguồn từ < http://data.worldbank.org/indicator/NE.GDI.FTOT.KD >,

http://www.bp.com/content/dam/bp/excel/Energy­Economics/statistical­review­2015/bp­statistical­review­of­ world­energy­2015­workbook.xlsx > [Ngày truy cập: 30 tháng 08 năm 2015]

1008.632

80.779 40.904 299.261

27.021

138.152 555.789

940.989 1035.364

166.595 17.268

25,348.31

720.72 1,285.55

34,737.15

5,257.35 25,265.31

655.69 1,185.78

27,352.39

2,563.07

645.40

0.000 200.000 400.000 600.000 800.000 1000.000 1200.000

Trang 40

Nhìn biểu đồ 4.2 ta thấy đồ thị biểu diễn GDP có sự tương ứng với mức tiêu thụ khí gas tự nhiên Tương ứng với GDP cao thì sự tiêu thụ khí gas tự nhiên cũng cao và ngược lại ứng với GDP thấp thì sự tiêu thụ khí gas tự nhiên cũng thấp Tuy nhiên, tiêu thụ khí gas tự nhiên ở một số quốc gia Châu Á Thái Bình Dương không đồng đều nhau Tiêu biểu có một số nước tiêu thụ khí gas tự nhiên rất cao như Singapore, New Zealand, Úc, Malaysia, Nhật Bản mà đứng đầu trong khu vực này

là New Zealand với mức tiêu thụ là 1035 kg/người/năm trong giai đoạn từ 1991 –

2014 Điều này cũng dễ hiểu khi các nước này đều là những quốc gia có thu nhập cao, sự tiêu thụ khí gas tự nhiên tăng cao tương ứng với GDP Trong khi đó, cùng là nhóm những quốc gia có thu nhập trung bình, Việt Nam là một trong những nước tiêu thụ khí gas tự nhiên ở mức thấp tương đương 44 kg/người/năm, cao hơn Ấn

Độ, Philippines và Trung Quốc Như vậy so với các nước trong khu vực thì sự tiêu thụ khí gas tự nhiên ở Việt Nam trong giai đoạn này cũng khá lớn Tuy nhiên, nước láng giềng là Thái Lan có mức tiêu thụ cao hơn hẳn Việt Nam, chiếm đến 389

kg/người/năm, gấp 8 lần so với mức tiêu thụ khí gas tự nhiên ở Việt Nam

Biểu đồ 4.3: Biểu đồ thể hiện GDP bình quân đầu người giai đoạn 1991-2014

của các quốc gia thu nhập cao và thu nhập trung bình

Ngày đăng: 28/01/2016, 18:28

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1: Mô tả các biến trong mô hình - Tiêu thụ khí gas tự nhiên và tăng trưởng kinh tế vai trò của FDI, tình hình thành vốn và độ mở thương mại   bằng chứng từ một số nước châu á thái bình dương
Bảng 3.1 Mô tả các biến trong mô hình (Trang 27)
Bảng 4.1: Thống kê mô tả giữa các biến trong mô hình - Tiêu thụ khí gas tự nhiên và tăng trưởng kinh tế vai trò của FDI, tình hình thành vốn và độ mở thương mại   bằng chứng từ một số nước châu á thái bình dương
Bảng 4.1 Thống kê mô tả giữa các biến trong mô hình (Trang 38)
Bảng 4.5: Kiểm định tính dừng  Fisher có hệ số chặn dựa trên tiếp cận  ADF - Tiêu thụ khí gas tự nhiên và tăng trưởng kinh tế vai trò của FDI, tình hình thành vốn và độ mở thương mại   bằng chứng từ một số nước châu á thái bình dương
Bảng 4.5 Kiểm định tính dừng Fisher có hệ số chặn dựa trên tiếp cận ADF (Trang 42)
Bảng 4.6: Kết quả ma trận tự tương quan - Tiêu thụ khí gas tự nhiên và tăng trưởng kinh tế vai trò của FDI, tình hình thành vốn và độ mở thương mại   bằng chứng từ một số nước châu á thái bình dương
Bảng 4.6 Kết quả ma trận tự tương quan (Trang 43)
Bảng 4.9: Kết quả kiểm tra tự tương quan mô hình  Biến phụ thuộc  Chi bình phương (χ2)         p­value - Tiêu thụ khí gas tự nhiên và tăng trưởng kinh tế vai trò của FDI, tình hình thành vốn và độ mở thương mại   bằng chứng từ một số nước châu á thái bình dương
Bảng 4.9 Kết quả kiểm tra tự tương quan mô hình Biến phụ thuộc Chi bình phương (χ2) p­value (Trang 46)
Bảng 4.11: Kết quả kiểm định đồng liên kết dữ liệu bảng Fisher - Tiêu thụ khí gas tự nhiên và tăng trưởng kinh tế vai trò của FDI, tình hình thành vốn và độ mở thương mại   bằng chứng từ một số nước châu á thái bình dương
Bảng 4.11 Kết quả kiểm định đồng liên kết dữ liệu bảng Fisher (Trang 47)
Bảng 4.12: Kết quả hồi quy mô hình  Mẫu tất cả các quốc gia - Tiêu thụ khí gas tự nhiên và tăng trưởng kinh tế vai trò của FDI, tình hình thành vốn và độ mở thương mại   bằng chứng từ một số nước châu á thái bình dương
Bảng 4.12 Kết quả hồi quy mô hình Mẫu tất cả các quốc gia (Trang 49)
Bảng 4.13: Kết quả hồi quy mô hình  Mẫu tất cả các quốc gia - Tiêu thụ khí gas tự nhiên và tăng trưởng kinh tế vai trò của FDI, tình hình thành vốn và độ mở thương mại   bằng chứng từ một số nước châu á thái bình dương
Bảng 4.13 Kết quả hồi quy mô hình Mẫu tất cả các quốc gia (Trang 53)
Bảng 4.14: Kết quả kiểm định nhân quả VECM Granger - Tiêu thụ khí gas tự nhiên và tăng trưởng kinh tế vai trò của FDI, tình hình thành vốn và độ mở thương mại   bằng chứng từ một số nước châu á thái bình dương
Bảng 4.14 Kết quả kiểm định nhân quả VECM Granger (Trang 58)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w