1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tác động của quản trị công ty đến chất lượng báo cáo tài chính nghiên cứu các công ty niêm yết tại TPHCM

90 443 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 90
Dung lượng 2,34 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề trên, trong khuôn khổ Luận văn tốt nghiệp thạc sĩ chuyên ngành Kế toán, tôi thực hiện đề tài “Tác động của quản trị công ty đến chất lượng báo c

Trang 1

ĐOÀN THỊ MỸ THƯƠNG

TÁC ĐỘNG CỦA QUẢN TRỊ CÔNG

TY ĐẾN CHẤT LƯỢNG BÁO CÁO TÀI CHÍNH: NGHIÊN CỨU CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TẠI THÀNH

PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP.HCM, 2015

Trang 2



ĐOÀN THỊ MỸ THƯƠNG

TÁC ĐỘNG CỦA QUẢN TRỊ CÔNG

TY ĐẾN CHẤT LƯỢNG BÁO CÁO TÀI CHÍNH: NGHIÊN CỨU CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TẠI THÀNH

Trang 3

Minh” là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và kết quả nghiên cứu

trong luận văn này là trung thực, có nguồn gốc trích dẫn rõ ràng và không trùng lặp với các đề tài khác Luận văn được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Phạm Văn Dược

Tác giả luận văn

Đoàn Thị Mỹ Thương

Trang 4

MỤC LỤC

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC HÌNH VẼ, SƠ ĐỒ

PHẦN MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 5

1.1 Tổng quan nghiên cứu trên thế giới 5

1.1.1 Nghiên cứu về đặc điểm Hội đồng quản trị và Ban giám đốc tác động đến Chất lượng BCTC 5

1.1.2 Nghiên cứu về Cơ cấu sở hữu vốn tác động đến Chất lượng BCTC 6

1.1.3 Nghiên cứu về đặc điểm của Ủy ban kiểm toán tác động đến Chất lượng BCTC 6

1.1.4 Nghiên cứu về Chất lượng dịch vụ kiểm toán độc lập tác động đến Chất lượng BCTC 7

1.2 Tổng quan nghiên cứu tại Việt Nam 8

1.3 Khe trống nghiên cứu 10

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 12

2.1 Quản trị công ty 12

2.1.1 Định nghĩa quản trị công ty 12

2.1.2 Các lý thuyết nền tảng 12

2.1.2.1 Lý thuyết ủy nhiệm (Agency theory) 12

2.1.2.2 Lý thuyết các bên có lợi ích (Stakeholder theory) 13

2.1.2.3 Vận dụng các lý thuyết nền vào đề tài nghiên cứu 13

2.1.3 Nguyên tắc quản trị công ty của OECD 14

2.1.4 Các mô hình quản trị công ty 15

2.1.4.1 Các mô hình quản trị công ty theo cơ cấu sở hữu và hình thức huy động…… 15

2.1.4.2 Các mô hình quản trị công ty theo cơ cấu quản lý điều hành 17

Trang 5

2.2.1 Khái niệm Báo cáo tài chính : 19

2.2.2 Chất lượng báo cáo tài chính 19

2.3 Mối quan hệ giữa quản trị công ty và chất lượng báo cáo tài chính 27

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ THIẾT KẾ THU THẬP DỮ LIỆU 29

3.1 Phát triển các giả thuyết nghiên cứu 29

3.1.1 Tác động của Sự độc lập của HĐQT đến chất lượng BCTC 29

3.1.2 Tác động của Sự tách biệt giữa giám đốc điều hành và chủ tịch HĐQT đến chất lượng BCTC 30

3.1.3 Tác động của Quy mô Hội đồng quản trị đến chất lượng BCTC 30

3.1.4 Tác động của Cổ đông tổ chức đến chất lượng BCTC 31

3.1.5 Tác động của Chuyên môn của Ban kiểm soát đến chất lượng BCTC 31 3.1.6 Tác động của Chất lượng kiểm toán độc lập đến chất lượng BCTC 32

3.2 Mô hình nghiên cứu 33

3.3 Đo lường các biến trong mô hình 34

3.4 Thiết kế thu thập dữ liệu 35

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 37

4.1 Thống kê mô tả mẫu nghiên cứu: 37

4.2 Đánh giá độ tin cậy của thang đo biến phụ thuộc 37

4.3 Thống kê mô tả biến độc lập và biến phụ thuộc: 42

4.3.1 Các nhân tố của quản trị công ty 42

4.3.2 Chất lượng BCTC 44

4.3.2.1 Đặc tính thích hợp (Relevance) 44

4.3.2.2 Đặc tính trình bày trung thực (Faithful representation) 45

4.3.2.3 Đặc tính dễ hiểu (Understandability) 47

4.3.2.4 Đặc tính có thể so sánh (Comparability) 48

4.3.2.5 Đặc tính kịp thời (Timeliness) 49

4.4 Kiểm định khuyết tật của mô hình: 49

4.5 Kết quả hồi quy mô hình tổng 52

Trang 6

5.2 Kết luận về chất lƣợng BCTC 57 5.3 Kết luận về mối quan hệ giữa Các nhân tố của quản trị công ty và Chất lƣợng BCTC 61 5.4 Hạn chế của nghiên cứu 62

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 7

BKS: Ban Kiểm soát

bình phương thông thường nhỏ nhất

Trang 8

Bảng 3.1: Tổng hợp tên biến và đo lường

Bảng 4.1: Nhóm ngành của mẫu nghiên cứu

Bảng 4.2: Hệ số tin cậy Cronbach alpha của thang đo đặc tính thích hợp

Bảng 4.3: Hệ số tin cậy Cronbach alpha của thang đo đặc tính trình bày trung thực Bảng 4.4: Hệ số tin cậy Cronbach alpha của thang đo đặc tính dễ hiểu

Bảng 4.5: Hệ số tin cậy Cronbach alpha của thang đo đặc tính có thể so sánh Bảng 4.6: Bảng thống kê dữ liệu biến độc lập

Bảng 4.7: Thống kê mô tả đặc tính thích hợp (Relevance)

Bảng 4.8: Thống kê mô tả đặc tính trình bày trung thực (Faithful representation) Bảng 4.9: Thống kê mô tả đặc tính dễ hiểu (Understandability)

Bảng 4.10: Thống kê mô tả đặc tính có thể so sánh (Comparability)

Bảng 4.11: Thống kê mô tả đặc tính kịp thời (Timeliness)

Bảng 4.12: Kiểm định phương sai và sai số thay đổi

Bảng 4.13: Kiểm định thiếu biến độc lập

Bảng 4.14: Ma trận hệ số tương quan

Bảng 4.15: Kết quả hồi quy mô hình tổng

Trang 10

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Mặc dù thị trường chứng khoán Việt Nam hình thành và phát triển khá chậm so với các quốc gia trong khu vực nhưng đã có những đóng góp nhất định vào sự phát triển của thị trường tài chính Việt Nam, là một kênh huy động vốn thuận lợi cho doanh nghiệp hiện nay Trong bối cảnh thị trường còn non trẻ, hầu hết các nhà đầu tư nhỏ lẻ, cá nhân đưa ra các quyết định dựa vào thông tin được công bố trên báo cáo tài chính là chủ yếu thì việc nâng cao chất lượng báo cáo tài chính của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán là điều hết sức cần thiết Tuy nhiên, có nhiều vụ bê bối

về chất lượng báo cáo tài chính trên thế giới cũng như tại Việt Nam như Enron, WorldCom, Marconi, Parmalat, Bông Bạch Tuyết, Dược Viễn Đông… làm suy giảm niềm tin của nhà đầu tư đối với đội ngũ quản lý và báo cáo tài chính

Việc đánh giá chất lượng các báo cáo tài chính hiện nay dường như nhờ cậy vào kiểm toán độc lập Song trên thực tế kiểm toán viên không có trách nhiệm ngăn ngừa và không thể kỳ vọng kiểm toán viên phát hiện hành

vi không tuân thủ của đơn vị được kiểm toán đối với tất cả các quy định pháp luật liên quan việc ngăn ngừa những gian lận này

Trách nhiệm ngăn ngừa và phát hiện gian lận trên báo cáo tài chính trước hết thuộc về Hội đồng quản trị và Ban giám đốc đơn vị, bởi vậy quản trị công ty đóng vai trò rất quan trọng trong việc đảm bảo chất lượng thông tin trên báo cáo tài chính Tuy nhiên, mô hình quản trị hiện tại của Việt Nam đang hạn chế vai trò này Thực trạng tại nhiều công ty có chủ tịch hội đồng quản trị kiêm nhiệm giám đốc điều hành, hay việc Ban kiểm soát chỉ hoạt động hình thức đã ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng báo cáo tài chính, đặc biệt là đối với các công ty đại chúng, niêm yết nếu báo cáo tài chính không đảm bảo chất lượng sẽ ảnh hưởng đến lợi ích của các bên liên quan Bởi vậy, xác định tương quan giữa các thành phần của quản trị công ty với chất lượng

Trang 11

báo cáo tài chính và đề ra giải pháp nâng cao chất lượng báo cáo tài chính là

đề tài mang tính cấp bách hiện nay

Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề trên, trong khuôn khổ

Luận văn tốt nghiệp thạc sĩ chuyên ngành Kế toán, tôi thực hiện đề tài “Tác

động của quản trị công ty đến chất lượng báo cáo tài chính: Nghiên cứu các công ty niêm yết tại thành phố Hồ Chí Minh” nhằm lượng hóa mối

quan hệ giữa các nhân tố của quản trị công ty với chất lượng báo cáo tài chính của các công ty cổ phần niêm yết và từ đó đề ra giải pháp nâng cao chất lượng báo cáo tài chính

2 Mục tiêu nghiên cứu:

Nghiên cứu này xem xét tác động của các nhân tố quản trị công ty: Hội đồng quản trị, Ban giám đốc, Ban kiểm soát, Cổ đông tổ chức, Kiểm toán độc lập và mức độ tác động đến chất lượng báo cáo tài chính, từ đó đưa

ra các kiến nghị nhằm hoàn thiện mô hình quản trị công ty tại Việt Nam và nâng cao chất lượng báo cáo tài chính của các công ty cổ phần niêm yết

3 Câu hỏi nghiên cứu:

- Hội đồng quản trị có ảnh hưởng đến chất lượng báo cáo tài chính của công ty cổ phần niêm yết hay không?

- Ban giám đốc có ảnh hưởng đến chất lượng báo cáo tài chính của công ty cổ phần niêm yết hay không?

- Ban kiểm soát có ảnh hưởng đến chất lượng báo cáo tài chính của công ty cổ phần niêm yết hay không?

- Kiểm toán độc lập có ảnh hưởng đến chất lượng báo cáo tài chính của công ty cổ phần niêm yết hay không?

- Cổ đông tổ chức có ảnh hưởng đến chất lượng báo cáo tài chính của công ty cổ phần niêm yết hay không?

Trang 12

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu:

- Đối tượng nghiên cứu: chất lượng báo cáo tài chính của công ty cổ phần niêm yết tại sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh

- Phạm vi nghiên cứu: Các công ty cổ phần niêm yết tại sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2010-2014

5 Phương pháp nghiên cứu và thu thập dữ liệu:

Luận văn này sử dụng kết hợp nhóm các phương pháp nghiên cứu định tính như phân tích, so sánh, tổng hợp và phương pháp định lượng kiểm định mô hình hồi quy OLS xây dựng dựa trên mô hình nghiên cứu “Chất lượng báo cáo tài chính và quản trị công ty: Bằng chứng từ ngành công nghiệp hàng không Romani” (The quality of financial reporting and corporate governance: evidence from romanian’s aeronautic industry) của nhóm tác giả Monica-Veronica Honu và Andra Gajevszky Tác giả điều chỉnh một số biến để phù hợp với mô hình tại Việt Nam

Dữ liệu được thu thập từ website của Sở giao dịch chứng khoán, website của các công ty niêm yết và một số website có thông tin liên quan khác Phần mềm thống kê SPSS 16.0 và Eviews 6.0 được sử dụng để thực hiện thống kê mô tả và phân tích hồi quy

6 Kết quả nghiên cứu của luận văn

Luận văn nghiên cứu tác động của các nhân tố trong quản trị công ty đến chất lượng báo cáo tài chính, các nhân tố này bao gồm Quy mô Hội đồng quản trị,

Sự độc lập của Hội đồng quản trị, Sự kiêm nhiệm của giám đốc điều hành và chủ tịch Hội đồng quản trị, Chuyên môn của Ban kiểm soát, Tỷ lệ sở hữu của cổ đông tổ chức và Chất lượng dịch vụ kiểm toán độc lập Trong đó, chỉ có nhân tố Chất lượng dịch vụ kiểm toán độc lập có tác động đến Chất lượng BCTC Luận văn cũng cho thấy những bất cập còn tồn tại trong cơ chế quản trị công ty tại các công ty niêm yết

và các đặc tính chất lượng của báo cáo tài chính vẫn chưa đáp ứng được mong đợi của người sử dụng

Trang 13

7 Kết cấu của luận văn

Luận văn gồm có 5 chương:

CHƯƠNG 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu

CHƯƠNG 2: Cơ sở lý thuyết

CHƯƠNG 3: Phương pháp nghiên cứu và thiết kế thu thập dữ liệu CHƯƠNG 4: Kết quả nghiên cứu và bàn luận

CHƯƠNG 5: Kết luận

Trang 14

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Quản trị công ty và chất lượng báo cáo tài chính là đề tài đang thu hút nhiều

sự đầu tư nghiên cứu trên thế giới cũng như tại Việt Nam Quản trị công ty tốt sẽ tác động tích cực đến chất lượng báo cáo tài chính Tuy nhiên, mức độ và chiều hướng tác động đến báo cáo tài chính của các nhân tố quản trị công ty thì còn tùy thuộc vào nhiều yếu tố khác Nhiều công trình nghiên cứu tập trung vào các thành phần khác nhau được thực hiện trong thời gian gần đây tại nhiều quốc gia Dưới đây tác giả tổng hợp một số nghiên cứu tại Việt Nam và một số nước trên thế giới

1.1 Tổng quan nghiên cứu trên thế giới

1.1.1 Nghiên cứu về đặc điểm Hội đồng quản trị và Ban giám đốc tác

động đến Chất lượng BCTC

Huang Zhizhong, Zhang Juan, Shen Yanzhi và Xie Wenli (2011) nghiên cứu

đề tài “Quản trị công ty có ảnh hưởng việc trình bày lại báo cáo tài chính? Bằng chứng tại Trung Quốc” (Does corporate governance affect restatement of financial reporting? Evidence from China) tập trung vào mối quan hệ giữa sai sót trong kế toán và quản trị công ty Nghiên cứu khảo sát với số lượng mẫu trên 1500 công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Trung Quốc và kết luận ban giám đốc độc lập đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo chất lượng thông tin kết toán

Tại Romani, Monica-Veronica Honu, Andra Gajevszky (2014) kết luận số thành viên ban giám đốc, Ban giám đốc có nhiều thành viên có ảnh hưởng tích cực đến chất lượng báo cáo tài chính Tuy nhiên nghiên cứu này chỉ thực hiện trên số lượng mẫu thu thập tối thiểu: 6 công ty trong ngành hàng không

Kantudu, A S., và Samaila, I A (2015) nghiên cứu ảnh hưởng của một số đặc điểm của HĐQT và Ủy ban kiểm toán đến chất lượng BCTC tại 9 công ty dầu khí Nigeria Sự tách biệt giữa chủ tịch HĐQT và CEO, sự độc lập của HĐQT đo lường bằng tỷ lệ thành viên HĐQT không điều hành và cổ phần của Ban giám đốc

có tác động cùng chiều với chất lượng BCTC

Trang 15

Trainor, J., & Finnegan, J (2013) nghiên cứu ảnh hưởng của nhân sự có học hàm, học vị cao trong Ban giám đốc và HĐQT đến chất lượng BCTC Các nhân sự cấp cao này có xu hướng nhận thức được tác động tích cực của sự độc lập trong HĐQT, hiệu quả hoạt động của Ủy ban kiểm toán từ đó có tác động tích cực tới chất lượng BCTC

1.1.2 Nghiên cứu về Cơ cấu sở hữu vốn tác động đến Chất lượng BCTC

Cơ cấu sở hữu vốn của các công ty cổ phần niêm yết rất đa dạng và tùy theo đặc điểm thị trường vốn từng quốc gia Các nghiên cứu gần đây về quản trị công ty

và chất lượng báo cáo tài chính đa phần tập trung vào tỷ lệ sở hữu bởi cổ đông tổ chức và nhà nước

Theo Huang Zhizhong, Zhang Juan, Shen Yanzhi và Xie Wenli (2011), khả năng có sai phạm trên báo cáo tài chính của công ty được sở hữu bởi nhà nước sẽ cao hơn các công ty khác

Tại Tunisia, Nesrine Klai và Abdelwahed Omri (2011) kết luận rằng tỷ lệ sở hữu của tổ chức và nhà nước càng cao thì khả năng sai sót trên báo cáo tài chính càng cao

Pucheta-Martinez, M., và Garcia-Meca, E (2014) thực hiện một nghiên cứu thực nghiệm xem xét sự ảnh hưởng của đại diện cổ đông tổ chức trong Ban giám đốc và Ủy ban kiểm toán đến chất lượng BCTC đo lường bằng ý kiến kiểm toán Nghiên cứu ghi nhận có mối quan hệ tích cực giữa sự có mặt của đại diện cổ đông

tổ chức trong Ban giám đốc và Ủy ban kiểm toán và chất lượng BCTC Đặc biệt khi

cổ đông tổ chức kinh doanh trong lĩnh vực ngân hàng và tài chính thì mối quan hệ tích cực này càng có ý nghĩa

1.1.3 Nghiên cứu về đặc điểm của Ủy ban kiểm toán tác động đến Chất

lượng BCTC

Một trong các bộ phận mà có thể tăng cường hoạt động giám sát công ty là Ủy ban kiểm toán, chức năng tương tự BKS tại Việt Nam Ủy ban kiểm toán chịu trách

Trang 16

nhiệm giám sát quá trình lập báo cáo tài chính công ty Các thành viên trong Ủy ban kiểm toán chịu trách nhiệm trong việc đảm bảo chất lượng của thông tin tài chính Krishnamoorthy, G., Wright, A., & Cohen, J (2002) tìm hiểu trên quan điểm của kiểm toán viên, có 42 kiểm toán viên giàu kinh nghiệm, gồm 21 chủ phần hùn (partner) và 21 trưởng phòng (manager) từ 5 công ty kiểm toán lớn nhất lúc bấy giờ tại Mỹ tham gia khảo sát trong nghiên cứu này 67% chuyên gia này cho rằng đảm bảo BCTC và các chính sách kế toán đạt chất lượng cao là nhiệm vụ quan trọng nhất của Ủy ban kiểm toán (Audit Committee) Để có thể giám sát quy trình lập BCTC, 64% kiểm toán viên tham gia khảo sát cho rằng các thành viên Ủy ban kiểm toán cần có kiến thức về kế toán, cụ thể là phải có khả năng đọc hiểu BCTC 81% đồng ý rằng không cần thiết tất cả thành viên của Ủy ban kiểm toán phải là những chuyên gia tài chính kế toán, 1/3 số kiểm toán viên cho rằng cần thiết phải có ít nhất một chuyên gia tài chính kế toán Chuyên gia ở đây có nghĩa là có một bằng cấp chuyên ngành tài chính kế toán (48% KTV đồng ý) hoặc có kinh nghiệm trong lĩnh vực này như từng giữ vị trí CFO (43% KTV đồng ý)

Rich, K T (2009) kết luận rằng đối với các công ty có hệ thống quản trị công

ty được đánh giá là tốt (strong governance) thì có sự gia tăng chất lượng BCTC sau khi công ty bổ nhiệm chuyên gia kế toán vào Ủy ban kiểm toán; ngược lại, đối với các công ty có hệ thống quản trị công ty không tốt (weak governance) thì không có

sự thay đổi trong chất lượng BCTC sau khi bổ nhiệm chuyên gia kế toán vào Ủy ban kiểm toán

Kantudu, A S., và Samaila, I A (2015) nghiên cứu tại 9 công ty dầu khí Nigeria kết luận khá bất ngờ là sự độc lập của Ủy ban kiểm toán có tác động ngược chiều đến chất lượng BCTC

1.1.4 Nghiên cứu về Chất lượng dịch vụ kiểm toán độc lập tác động đến

Chất lượng BCTC

Theo OECD, nội dung thứ năm trong nguyên tắc quản trị công ty về Công bố thông tin và tính minh bạch thì Kiểm toán độc lập đóng vai trò quan trọng trong cơ

Trang 17

chế quản trị công ty Kiểm toán hàng năm phải được tiến hành bởi một đơn vị kiểm toán độc lập, đủ năng lực và có chất lượng cao nhằm cung cấp ý kiến đánh giá độc lập và khách quan cho Hội đồng Quản trị và các cổ đông, đảm bảo rằng các báo cáo tài chính đã thể hiện một cách trung thực tình hình tài chính và hoạt động của công

ty về mọi mặt chủ chốt Đơn vị kiểm toán độc lập phải chịu trách nhiệm đối với cổ đông và có trách nhiệm thực hiện công tác kiểm toán một cách chuyên nghiệp đối với công ty

Theo Huang Zhizhong, Zhang Juan, Shen Yanzhi và Xie Wenli (2011); Kantudu, A S., và Samaila, I A (2015) chất lượng dịch vụ kiểm toán độc lập có tác động cùng chiều đến chất lượng BCTC

1.2 Tổng quan nghiên cứu tại Việt Nam

Phan Minh Nguyệt, luận văn thạc sĩ, (2014) “Xác định và đo lường mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến chất lượng thông tin kế toán trình bày trên báo cáo tài chính của các công ty niêm yết ở Việt Nam” Tác giả tóm tắt một số mô hình nghiên cứu liên quan trên thế giới và kiểm định bảy nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng thông tin kế toán trình bày trên báo cáo tài chính của các công ty niêm yết ở Việt Nam, đó là việc lập và trình bày báo cáo tài chính, trình độ nhân viên kế toán, rủi ro kiểm toán báo cáo tài chính, chi phí và lợi ích khi lập báo cáo tài chính, mục tiêu lập báo cáo tài chính, thuế và các văn bản liên quan và nhà quản trị công ty Sau khi kiểm định mô hình và giả thuyết nghiên cứu liên quan, tác giả kết luận có năm nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng thông tin kế toán trình bày trên báo cáo tài chính của các công ty niêm yết ở Việt Nam, bao gồm việc lập và trình bày báo cáo tài chính, rủi ro kiểm toán báo cáo tài chính, chi phí và lợi ích khi lập báo cáo tài chính, thuế và các văn bản liên quan và nhà quản trị công ty Trong đó, nhân tố nhà quản trị công ty có ảnh hưởng khá mạnh Nhà quản trị có hiểu biết nhất định về lĩnh vực tài chính kế toán, có khoản thời gian gắn bó với công ty lâu dài và xây dựng được giá trị cốt lõi cho công ty thì có ảnh hưởng tích cực đến chất lượng báo cáo tài chính

Trang 18

Nguyễn Trọng Nguyên, Luận văn thạc sĩ (2007) “Những định hướng về quản trị công ty nhằm nâng cao chất lượng báo cáo tài chính của các công ty niêm yết tại

sở giao dịch chứng khoán Hồ Chí Minh”, là nghiên cứu định tính Đề tài này tập trung vào các nhân tố trong quản trị công ty tác động đến quá trình lập báo cáo tài chính, cơ cấu và nhiệm vụ của các nhân tố này, bao gồm Hội đồng quản trị, Ủy ban kiểm toán, Ban điều hành cấp cao, Kiểm toán nội bộ, Kiểm toán độc lập và Các cơ quan quản lý Sau khi tham khảo kinh nghiệm quản trị công ty từ các quốc gia khác trên thế giới, tác giả đưa ra những hạn chế của mô hình quản trị công ty tại Việt Nam đề xuất định hướng tương lai nhằm nâng cao chất lượng báo cáo tài chính của các công ty niêm yết tại sở giao dịch chứng khoán Hồ Chí Minh Trong đó tác giả nhấn mạnh cần nâng cao sự độc lập trong vai trò giám sát của Hội đồng quản trị nhằm giảm xung đột lợi ích và tránh tình trạng tập trung quyền lực bằng các biện pháp như hạn chế thành viên HĐQT kiêm nhiệm chức vụ trong bộ máy điều hành, quy định số thành viên hội đồng quản trị độc lập tối thiểu, xây dựng mức thù lao cho thành viên hội đồng quản trị hợp lý và phải được Đại hội đồng cổ đông thông qua; xây dựng mức thù lao cho Ban Giám đốc phải đảm bảo vừa khuyến khích họ làm việc vừa quan tâm lợi ích ngắn hạn và dài hạn; phát huy vai trò của Ban kiểm soát cũng như chắc năng của kiểm toán nội bộ và kiểm toán độc lập

Ngoài ra có nhiều đề tài nghiên cứu chuyên sâu về các thành phần của quản trị công ty như luận văn thạc sĩ kinh tế, Lý Hồng Mỹ (2013) “Ủy Ban Kiểm Toán trong quản trị công ty – Kinh nghiệm của thế giới và hướng ứng dụng cho các doanh nghiệp Việt Nam” Đề tài này tập trung vào vai trò và chức năng của Ủy ban kiểm toán (Ban kiểm soát tại Việt Nam) và kết luận rằng Ủy ban kiểm toán hoạt động chưa hiểu quả do mô hình quản trị hai hội đồng tại Việt chưa phát huy hết được chức năng của Ban kiểm soát

Phạm Thị Hồng Phương, Luận văn thạc sĩ (2012) “Báo cáo tài chính các công

ty cổ phần niêm yết trên Sở GDCK thành phố Hồ Chí Minh” tập trung nghiên cứu các vấn đề tồn tại trong việc trình bày và công bố báo cáo tài chính của các công ty

Trang 19

niêm yết trên HOSE Ngoài các nguyên nhân bên ngoài như hệ thống chuẩn mực chưa hoàn thiện, cơ chế pháp lý, chất lượng dịch vụ kiểm toán độc lập thì nguyên nhân quan trọng khác xuất phát từ mô hình quản trị công ty liên quan đến trách nhiệm của hội đồng quản trị, nhà quản lý, ban kiểm soát

1.3 Khe trống nghiên cứu

Trên thế giới, các nghiên cứu về tác động của quản trị công ty đến chất lượng báo cáo tài chính rất đa dạng với nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau, các biến giải thích được lựa chọn đưa vào mô hình cũng rất phong phú Tại Việt Nam nghiên cứu về đề tài này cũng được khai thác nhiều Các nghiên cứu trong và ngoài nước đều tập trung vào các biến độc lập liên quan đến Hội đồng quản trị, Ban giám đốc, Ủy ban kiểm toán, Cơ cấu sở hữu vốn Tuy nhiên, việc đánh giá chất lượng báo cáo tài chính của các nghiên cứu trước đây vẫn chưa toàn diện, phương pháp được

sử dụng phổ biến là mô hình dồn tích xem xét hành vi điều chỉnh lợi nhuận hoặc mô hình giá trị hợp lý xem xét phản ứng của thị trường chứng khoán đối với việc công

bố BCTC Nghiên cứu này tác giả sử dụng phương pháp đánh giá BCTC theo mô hình đặc tính chất lượng của Ferdy van Beest, Geert Braam và Suzanne Boelens (2009) để đo lường năm đặc tính bao gồm Đặc tính thích hợp (relevance), Đặc tính trình bày trung thực (Faithful representation), Đặc tính dễ hiểu (Understandability), Đặc tính có thể so sánh (Comparability), Đặc tính kịp thời (Timeliness) Các nhân

tố của quản trị công ty cũng được chọn lọc theo mục tiêu nghiên cứu và bối cảnh nghiên cứu tại Việt Nam

Trang 20

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Trong chương này, tác giả tổng hợp một số nghiên cứu liên quan đến quản trị công

ty và chất lượng BCTC trong nước cũng như ngoài nước và xác định hướng đi cho nghiên cứu của riêng mình Hầu hết các nghiên cứu trước đây tập trung vào đặc điểm của HĐQT, Ban giám đốc, Cơ cấu sở hữu và Ủy ban kiểm toán và sử dụng phương pháp dồn tích hoặc mô hình giá trị hợp lý để đo lường chất lượng BCTC Các nghiên cứu đã được phân loại và tổng hợp nhằm hệ thống hóa các kết quả nghiên cứu trước đây để làm nền tảng phát triển mô hình nghiên cứu trong các chương tiếp theo

Trang 21

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT

2.1 Quản trị công ty

2.1.1 Định nghĩa quản trị công ty

Quản trị công ty là một quy trình mà theo đó, công ty được điều khiển, định hướng

và kiểm soát (OECD, 1999) Quản trị công ty là một hệ thống mà qua đó những người chủ sở hữu và chủ nợ công ty thực hiện việc kiểm soát và yêu cầu trách nhiệm giải trình về các nguồn lực mà họ đã tin tưởng giao cho doanh nghiệp Khi cổ đông chuyển giao trách nhiệm và quyền lực cho HĐQT và Ban giám đốc công ty,

họ cũng đồng thời yêu cầu trách nhiệm giải trình về việc sử dụng các nguồn lực Trách nhiệm giải trình còn được mở rộng cho các bên có lợi ích liên quan khác như chủ nợ, nhân viên, khách hàng, cơ quan quản lý, cộng đồng

2.1.2 Các lý thuyết nền tảng

2.1.2.1 Lý thuyết ủy nhiệm (Agency theory)

Vấn đề đại diện: Vấn đề đại diện xuất hiện trong mối quan hệ giữa người hưởng lợi

và người được thuê hoặc ủy quyền, khi người được hưởng lợi thuê hoặc ủy quyền các cá nhân khác đại diện mình thực hiện một số hành động phục vụ cho lợi ích của mình Đó là khi chủ sở hữu, cổ đông thuê nhà quản lý điều hành công ty thay mình Người đại diện là giải pháp hoàn hảo trong nhiều tình huống, ví dụ như người chủ

sở hữu bị hạn chế trong việc điều hành doanh nghiệp do không đủ kiến thức chuyên môn trong lĩnh vực kinh doanh hoặc do quy định của pháp luật mà người đó không được phép trực tiếp điều hành doanh nghiệp Tuy nhiên, người đại diện cũng gây ra những tranh cãi do khả năng họ hành động để tối đa hóa lợi ích của ban thân thay vì lợi ích của công ty Có sự bất cân xứng thông tin giữa nhà quản lý và các đối tượng hưởng lợi còn lại Nhà quản lý trực tiếp điều hành nên hiểu rõ những hành động và tình huống có thể đem lại nguồn lợi cho doanh nghiệp và cho bản thân mình Ông ta

có thể lựa chọn lợi ích cho bản thân thay vì công ty Bên cạnh đó, có sự không chắc chắn trong những vấn đề có thể xảy ra trong quá trình điều hành doanh nghiệp Với hàng ngàn nhân tố vừa là cơ hội, vừa là rủi ro, nhà quản lý không chỉ cần năng lực

Trang 22

mà cần cả may mắn để để kiểm soát rủi ro và đưa công ty đi theo đúng định hướng

Và dù cho nhà quản lý điều hành như thế nào thì chủ sở hữu vẫn phải chịu một khoản chi phí đại diện do sự ủy quyền của mình Điển hình là chi phí kiểm toán báo cáo tài chính

2.1.2.2 Lý thuyết các bên có lợi ích (Stakeholder theory)

Lý thuyết này mở rộng đối tượng có lợi ích hợp pháp từ những hoạt động của công

ty bao gồm khách hàng, nhà cung cấp, chủ nợ,… chứ không chỉ bao gồm chủ sở hữu Tất cả các đối tượng này đều chịu rủi ro từ hoạt động kinh doanh của công ty Bởi vậy, lý thuyết này giải thích mục tiêu quản trị công ty là phải hướng vào lợi ích của nhóm ngưởi hưởng lợi thay chỉ hướng vào chủ sở hữu, những người này đều có thể ảnh hưởng đến tình hình hoạt động công ty theo chiều hướng tích cực hoăc tiêu cực

2.1.2.3 Vận dụng các lý thuyết nền vào đề tài nghiên cứu

Lý thuyết ủy nhiệm giải thích một phần mối quan hệ giữa quản trị công ty và chất lượng báo cáo tài chính Trong tình huống nhà quản lý không hoàn thành mục tiêu điều hành công ty như cam kết hoặc để tối đa hóa lợi ích của bản thân do thù lao phụ thuộc vào kết quả kinh doanh thì khả năng ông ta có thể “phù phép” báo cáo tài chính nếu công ty không có một cơ chế quản trị phù hợp Lý thuyết các bên có lợi ích mở rộng phạm vi trách nhiệm giải trình của nhà quản lý, đặc biệt trong trường hợp các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán thì BCTC không chỉ phục vụ chủ sở hữu công ty theo như lý thuyết ủy nhiệm mà còn hướng đến các nhà đầu tư tương lai trên thị trường chứng khoán, nhà quản lý hay chủ nợ, khách hàng

Quản trị công ty ra đời như một hệ quả tất yếu để giải quyết các vấn đề mà các lý thuyết trên đặt ra, trong đó có mục tiêu đảm bảo chất lượng báo cáo tài chính

Trang 23

2.1.3 Nguyên tắc quản trị công ty của OECD

Có nhiều bộ nguyên tắc quản trị công ty được các quốc gia cũng như tổ chức chuyên nghiệp phát hành Trong số đó Bộ Nguyên Tắc Quản trị Công ty của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế OECD đang trở nên rất phổ biến Bộ Nguyên Tắc Quản trị Công ty của OECD ban đầu được xây dựng nhằm đáp ứng lời kêu gọi của Hội nghị cấp Bộ trưởng OECD ngày 27-28 tháng 4 năm 1998 phát triển một bộ tiêu chuẩn và hướng dẫn chung về quản trị công ty cùng với các chính phủ, các tổ chức quốc tế và khối tư nhân Kể từ khi được phê chuẩn năm 1999, bộ Nguyên tắc

đã trở thành nền tảng cho các sáng kiến quản trị công ty ở các quốc gia thành viên

và không thành viên của OECD Bộ Nguyên tắc này cũng được Diễn đàn Ổn định Tài chính sử dụng như một trong Mười hai Tiêu chuẩn Chủ chốt đối với Hệ thống Tài chính Vững mạnh Do đó, các nguyên tắc này được sử dụng làm nền tảng cho phần quản trị công ty của các Báo cáo của Ngân hàng Thế giới/Quỹ Tiền tệ Quốc tế

về Tình hình Tuân thủ các Tiêu chuẩn và Chuẩn mực (ROSC) Bộ Nguyên tắc này không mang tính bắt buộc và không nhằm vào các quy định chi tiết của luật pháp quốc gia Bộ Nguyên tắc cố gắng xác định cácmục tiêu và gợi ý các cách khác nhau

để đạt được chúng Mục đích của Bộ nguyên tắc là đóng vai trò tham khảo Chúng

có thể được sử dụng bởi các nhà hoạch định chính sách khi xem xét và phát triển khuôn khổ pháp lý và quản lý cho quản trị công ty, phản ánh tình hình kinh tế, xã hội, luật pháp và văn hóa nước họ, cũng như bởi các bên tham gia thị trường khi họ phát triển thông lệ thị trường của mình

Các nguyên tắc quản trị công ty của OECD bao gồm:

- Đảm bảo cơ sở cho một khuôn khổ quản trị công ty hiệu quả: Khuôn khổ quản trị công ty cần thúc đẩy tính minh bạch và hiệu quả của thị trường, phù hợp với quy định của pháp luật, và phân định rõ ràng trách nhiệm giữa các cơ quan giám sát, quản lý và cưỡng chế thực thi

- Quyền của cổ đông và các chức năng sở hữu cơ bản: Khuôn khổ quản trị công ty phải bảo vệ và tạo điều kiện thực hiện quyền của cổ đông

Trang 24

- Đối xử bình đẳng đối với cổ đông: Khuôn khổ quản trị công ty cần đảm bảo sự đối

xử bình đẳng đối với mọi cổ đông, trong đó có cổ đông thiểu số và cổ đông nước ngoài Mọi cổ đông phải có cơ hội khiếu nại hiệu quả khi quyền của họ bị vi phạm

- Vai trò của các bên có quyền lợi liên quan trong quản trị công ty: Khuôn khổ quản trị công ty phải công nhận quyền của các bên có quyền lợi liên quan đã được pháp luật hay quan hệ hợp đồng quy định và phải khuyến khích sự hợp tác tích cực giữa công ty và các bên có quyền lợi liên quan trong việc tạo dựng tài sản, việc làm và

ổn định tài chính cho doanh nghiệp

- Công bố thông tin và tính minh bạch: Khuôn khổ quản trị công ty phải đảm bảo việc công bố thông tin kịp thời và chính xác về mọi vấn đề quan trọng liên quan đến công ty, bao gồm tình hình tài chính, tình hình hoạt động, sở hữu và quản trị công

ty

- Trách nhiệm của hội đồng quản trị: Khuôn khổ quản trị công ty cần đảm bảo định hướng chiến lược của công ty, giám sát có hiệu quả công tác quản lý của hội đồng quản trị và trách nhiệm của hội đồng quản trị đối với công ty và cổ đông

2.1.4 Các mô hình quản trị công ty

2.1.4.1 Các mô hình quản trị công ty theo cơ cấu sở hữu và hình thức huy động

Bảng 2.1: Các mô hình quản trị công ty theo cơ cấu sở hữu và hình thức huy động

Cơ cấu, Mô hình

Đặc điểm

Mô hình sở hữu ngoài công ty

Mô hình sở hữu bên trong công ty

Mô hình sở hữu Nhà nước

và gia đình

Cơ cấu

Chủ sở hữu công ty là

cổ đông nhỏ lẻ hoặc nhà đầu tư có tổ chức

Chủ sở hữu tập

thường có quan hệ kinh tế với công ty như nhà cung cấp,

Thực chất là mô hình sở hữu bên trong

Trang 25

hàng,…

Đặc điểm

Cổ đông nhỏ lẻ, ít tham gia trực tiếp vào quản trị công ty, cổ đông thường phản ứng với kết quả KD của công ty bằng hành vi mua vào hoặc bán tháo cổ phiếu; mô hình này đòi hỏi thông tin về công ty phải được công bố rộng rãi trên thị trường vốn, khuôn khổ pháp lý được xây dựng chặt chẽ để tạo

sự công bằng trong giao dịch của các nhà đầu tư

Mức độ tham gia quản trị công ty của chủ sở hữu cao, nhưng cũng tạo ra nhiều vấn đề phức tạp trong sở hữu chéo, thị trường vốn ở các quốc gia

Quốc gia

điển hình

Anglo-Saxon, Anh, Mỹ

Đức và Nhật

Nguồn: Nguyễn Trọng Nguyên (2007)

Trang 26

2.1.4.2 Các mô hình quản trị công ty theo cơ cấu quản lý điều hành

Bảng 2.2: Các mô hình quản trị công ty theo cơ cấu quản lý điều hành

Cơ cấu, Mô hình

vệ quyền lợi của chủ sở hữu và thực hiện vai trò kiểm tra, giám sát, Hội đồng quản trị có các thành không trực tiếp điều hành, đại diện cho cổ đông

Ban lãnh đạo có hai cấp đại diện cho chủ sở hữu là Hội đồng Quản trị và Ban giám sát

Đặc điểm

Thành viên HĐQT không điều hành được chỉ định như đại diện cho các cổ đông thiểu số, giám sát và góp phần quyết định lương của các thành viên HĐQT điều hành Tuy nhiên, thành viên HĐQT không điều hành có trách nhiệm pháp lý như thành viên điều hành, điều này làm giảm chức năng kiểm tra, giám sát của các thành viên không điều hành

HĐQT định hướng chiến lược, điều hành doanh nghiệp Ban giám sát kiểm soát, giám sát các hoạt động của doanh nghiệp, đảm bảo theo đúng chiến lược HĐQT đề ra Tuy nhiên, Ban giám sát chỉ làm đúng trách nhiệm, chức năng khi có một hành lan pháp lý tạo cho Ban giám sát đủ quyền lực cần thiết

Trang 27

Quốc gia

điển hình

Nguồn: Nguyễn Trọng Nguyên (2007)

2.1.5 Nhận xét về mô hình quản trị công ty của các công ty niêm yết tại Sở GDCK

TP.HCM

Nếu xét về cơ cấu quản lý điều hành thì các công ty Việt Nam thuộc mô hình hai

hội đồng nhưng có “biến dạng” Ths Bùi Xuân Hải – ĐH Luật TP.HCM, NCS

Luật ĐH La Trobe, Australia nhận xét : Cấu trúc quản trị nội bộ của CTCP theo luật Việt Nam có rất nhiều điểm tương đồng với Luật Công ty 2005 của Trung Quốc (sửa đổi Luật Công ty 1993), nơi mà cấu trúc quản trị nội bộ của CTCP cũng gồm

có các cơ quan: ĐHĐCĐ, HĐQT, TGĐ, và BKS Trong khi đó HĐQT của CTCP

trong luật công ty Việt Nam không giống với HĐGĐ (board of directors) trong luật công ty Anh–Mỹ, cũng không phải là HĐ Giám sát (Aufsichtsrat) hay Ban Quản trị (Vorstand) theo mô hình luật công ty của Đức HĐQT trong luật công ty Việt Nam

không có quyền hạn rộng lớn như HĐGĐ trong cấu trúc một hội đồng như ở nhiều nước Song, nó có thẩm quyền rộng hơn so với HĐQT của cấu trúc hai hội đồng theo luật công ty của một số nước châu Âu Chức năng giám sát trong các CTCP, trong đó có việc giám sát sát lập và trình bày báo cáo tài chính, đặc biệt là các công

ty niêm yết, đã và đang là vấn đề được quan tâm trong giới nghiên cứu về quản trị công ty Có thể nói rằng, so với mô hình cơ quan giám sát trong cả hai cấu trúc quản trị phổ biến trên thế giới như đã nói ở trên, thì mô hình BKS độc lập từ HĐQT và

do ĐHĐCĐ bầu trong các CTCP ở Việt Nam là cấu trúc khá độc đáo và hiệu quả, nếu BKS làm việc thực sự như được thiết kế trong luật Sự hoài nghi về hiệu quả hoạt động của các thành phần quản trị công ty trong các CTCP Việt Nam không phải là không có cơ sở, từ đó dẫn tới những e ngại từ phía người sử dụng báo cáo tài chính về chất lượng báo cáo tài chính được công bố

Trang 28

2.2 Chất lượng báo cáo tài chính

2.2.1 Khái niệm Báo cáo tài chính :

Báo cáo tài chính là phương pháp kế toán tổng hợp số liệu từ các sổ kế toán theo các chỉ tiêu kinh tế tài chính tổng hợp, phản ánh tình hình tài sản, công nợ, nguồn vốn tại một thời điểm, tình hình sử dụng vốn và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định vào một hệ thống biểu mẫu báo cáo đã quy định

2.2.2 Chất lượng báo cáo tài chính

Báo cáo tài chính đảm bảo chất lượng là báo cáo tài chính đáp ứng được nhu cầu của đối tượng sử dụng Tùy vào đối tượng sử dụng mà báo cáo tài chính cần thỏa mãn các mục tiêu khác nhau

Theo Nguyễn Trọng Nguyên (2014, trang 5) có một số quan điểm về đo lường chất lượng báo cáo tài chính như sau:

Điều chỉnh lợi nhuận

Quan điểm thứ nhất là điều chỉnh lợi nhuận Điều chỉnh lợi nhuận là một kế hoạch được sử dụng bởi Ban điều hành của công ty nhằm tác động đến lợi nhuận để đưa ra con số lợi nhuận đáp ứng được mục tiêu đã xác định trước Điều chỉnh lợi nhuận theo hai hướng hoặc tăng lợi nhuận hoặc giảm lợi nhuận Mục tiêu này có thể liên quan đến các khoản khuyến khích vật chất cho nhà quản lý hoặc cũng có thể đảm bảo điều khoản hợp đồng tín dụng hoặc nhằm điều chỉnh về thuế của doanh nghiệp Hành vi điều chỉnh lợi nhuận không chỉ nói đến việc tác động bằng các con số thông qua các phương pháp kế toán mà còn thông qua các giao dịch trong hoạt động kinh tế từ đó ảnh hưởng đén lợi nhuận trên báo cáo tài chính

Không như gian lận, điều chỉnh lợi nhuận liên quan đến vấn đề lựa chọn chính sách

và ước tính kế toán trên cơ sở phù hợp các nguyên tắc kế toán được chấp nhận chung

Trang 29

Đo lường điều chỉnh lợi nhuận, hầu hết các nghiên cứu đều sử dụng mô hình Jones (1991) thông qua tính toán chỉ tiêu dồn tích linh hoạt (discretionary accruals) Tổng dồn tích là chênh lệch giữa những lợi nhuận và dòng tiền từ hoạt động kinh doanh như: khấu hao, chênh lệch hàng tồn kho, nợ phải thu, nợ phải trả Mức điều chỉnh càng cao cho thấy mức độ điều chỉnh lợi nhuận càng nhiều

Quan điểm thứ hai là công bố lại báo cáo tài chính Công bố lại báo cáo tài chính là trường hợp công bố báo cáo tài chính nhằm cung cấp sự khẳng định về những sai sót trọng yếu mà đã công bố trong báo cáo tài chính trước đây Điều này đồng nghĩa, thông qua báo cáo tài chính công bố lại cho thấy dấu hiệu rõ ràng là báo cáo tài chính đã công bố trước đây là không trung thực, thể hiện chất lượng báo cáo tài chính thấp Phương pháp chủ yếu các nghiên cứu này là lựa chọn các công ty có công bố lại báo cáo tài chính trong giai đoạn thời gian nghiên cứu đến trước thời điểm công bố lại báo cáo tài chính Mức độ chênh lệch số liệu lợi nhuận ở thời điểm công bố ban đầu với thời điểm công bố lại báo cáo tài chính phản ánh chất lượng báo cáo tài chính là thấp đến mức độ nào Điều này gần tương tự tình trạng tại Việt Nam, đó là sự chênh lệch lợi nhuận trước và sau kiểm toán

Quan điểm thứ ba là gian lận báo cáo tài chính Gian lận báo cáo tài chính là hành

vi cố tình bóp méo thông tin công bố nhằm đánh lừa người sử dụng báo cáo tài chính Gian lận có thể liên quan đến sự thay đổi trong việc ghi nhận các nghiệp vụ, tạo nghiệp vụ ảo, áp dụng sai những nguyên tắc kế toán được chấp nhận chung Các nhà nghiên cứu về gian lận thường tập trung vào những vấn đề như tham ô, biển thủ nhằm tìm ra những nguyên nhân dẫn đến gian lận để từ đó đưa ra những giải pháp

để ngăn ngừa và phát hiện gian lận

Trang 30

Công bố tự nguyện

Quan điểm thứ tư là công bố tự nguyện Công bố tự nguyện biểu hiện dưới nhiều hình thức như: buổi họp báo, cuộc họp thảo luận với các nhà phân tích tài chính, thư gởi cho cổ đông, cung cấp những thông tin bổ sung trong báo cáo thường niên (báo cáo thường niên) Các nội dung công bố này thường là các thông tin phi tài chính Phương pháp nghiên cứu theo xu hướng này đều thực hiện việc đo lường thông qua chỉ số công bố từ những nghiên cứu trước đó hoặc danh mục các yêu cầu công bố của hội nghề nghiệp hoặc cơ quan có thẩm quyền, dựa trên việc cho điểm từng khoản mục, với điểm 1 cho những khoản mục có công bố và điểm 0 cho những khoản mục không công bố Mức độ điểm càng cao thì chất lượng thông tin báo cáo tài chính càng cao Ví dụ: Bader.S và Waleed.S (2010) dựa trên danh mục gồm 76 khoản mục, với mẫu 170 Công ty niêm yết tại thời điểm 2007 Kuwait Tác giả xác định điểm bình quân chung về mức độ công bố tự nguyện của các công ty niêm yết tại Kuwait là 19%, thể hiện chất lượng thông tin báo cáo tài chính thấp

Chưa có định nghĩa nào thống nhất về chất lượng thông tin báo cáo tài chính Chất lượng thông tin báo cáo tài chính là một khái niệm mang tính chất định tính, nó phụ thuộc vào cảm nhận của người sử dụng thông tin Đối với người này có thể đánh giá chất lượng thông tin báo cáo tài chính là cao, nhưng với người khác có thể là không Tuy nhiên, suy cho cùng chất lượng thông tin báo cáo tài chính phụ thuộc vào hai yếu tố: khối lượng và tính trung thực của thông tin Từ bốn quan điểm trên nhận thấy:

- Quan điểm thứ nhất, hai và ba chỉ đo lường về tính trung thực những chỉ tiêu tài chính trên báo cáo tài chính theo truyền thống

- Quan điểm thứ tư chỉ đo lường khối lượng công bố thông tin, tuy nhiên thông tin này có trung thực hay không là chuyện khác

Như vậy, cả bốn quan điểm trên chỉ quan tâm đến chất lượng thông tin báo cáo tài chính ở những góc độ khác nhau, chưa được toàn diện nhằm mang lại tính hữu ích

cho người sử dụng thông tin

Trang 31

Chất lượng báo cáo tài chính theo nghĩa rộng

Quan điểm các nhà nghiêm cứu cho rằng các nghiên cứu về: điều chỉnh lợi nhuận, công bố lại và gian lận báo cáo tài chính thường đo lường các thông tin về tài chính Chất lượng báo cáo tài chính theo nghĩa rộng không chỉ nói đến những thông tin tài chính mà bên cạnh đó cần phải có những thông tin phi tài chính để những thông tin này hữu ích cho quá trình ra quyết định

Đặc tính thích hợp (relevance): thông tin thích hợp cần phải có giá trị dự báo, giá trị

xác nhận hoặc cả hai Các biến quan sát bao gồm: (a) thông tin cần phải có những định hướng về tương lai; (b) thông tin phải công bố những rủi ro, cơ hội về phương thức quản trị, trách nhiệm với xã hội và môi trường có liên quan đến doanh nghiệp; (c) mức độ sử dụng giá trị hợp lý trong việc định giá tài sản và nợ phải trả; (d) thông tin phải trình bày những đánh giá về mức độ thực hiện các kế hoạch, dự án đã

đề ra trước đây; và (e) thông tin cần trình bày hoạt động của các bộ phận hợp thành chung hoạt động của công ty, như hoạt động của các đơn vị trực thuộc, Công ty con…

Đặc tính trình bày trung thực (Faithful representation): Để trình bày trung thực

thông tin phải đầy đủ, trung lập và không có sai sót trọng yếu Các biến quan sát bao gồm: (a) Doanh nghiệp cần trình bày chi tiết và giải thích lý do lựa chọn các chính sách và ước tính kế toán; (b) thông tin trình bày không được thiên lệch, nói quá tốt hoặc quá xấu về hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nhằm hướng người

sử dụng theo hướng đã định nào đó; (c) ý kiến của kiểm toán viên về báo cáo tài chính và những nhận xết về hệ thống kiểm soát nội bộ; (d) doanh nghiệp trình bày các thông tin về quản trị Công ty

Đặc tính dễ hiểu (Understandability): để thông tin dễ hiểu, nó cần phải được trình

bày một cách rõ ràng, đầy đủ Ngoài những con số, cần trình bày các biểu đồ, bảng biểu và các thuật ngữ phải được giải thích rõ ràng

Trang 32

Đặc tính có thể so sánh (Comparability): để có thể so sánh, doanh nghiệp cần cung

cấp những thông tin có thể so sánh trong cùng một doanh nghiệp qua các thời kỳ và

so sánh với các doanh nghiệp khác Thông tin phải nhất quán, cần có lý giải những thay đổi về chính sách và ước tính kế toán cũng như ảnh hưởng của nó trong thuyết minh báo cáo tài chính

Đặc tính kịp thời (Timeliness): đo lường bằng thời gian từ ngày kết thức niên độ

đến ngày công bố báo cáo tài chính

Bảng 2.3 tổng hợp các phương pháp đánh giá chất lượng báo cáo tài chính được trình bày trong nghiên cứu “Chất lượng báo cáo tài chính: Đo lường năm đặc tính chất lượng” (Quality of financial reporting: measuring qualitative characteristics) của nhóm tác giả Ferdy van Beest, Geert Braam và Suzanne Boelens (2009)

Trang 33

Bảng 2.3: Các phương pháp đánh giá chất lượng báo cáo tài chính

Mô hình dồn

tích

Mô hình giá trị hợp lý (Value relevance)

Mô hình các yếu tố đặc biệt trong báo cáo hằng năm

Mô hình đặc tính chất lượng

các đặc tính chất lượng

Chỉ tập trung vào các yếu tố đặc biệt và rất khó để đo lường

Rất khó để đo lường

Trang 34

báo cáo tài

chính

không phải là đại diện chính xác cho thị trường chứng khoán

Barth et al., 2001; Choi

et al., 1997; Nichols &

Wahlen, 2004; Nelson,

1996

Hirst et al., 2004;;

Beretta &

Bozzolan, 2004;

Cohen et al.,

2004

Schipper & Vincent, 2003; Van der Meulen, et

Barth et al.,

2006

Nguồn: Ferdy van Beest, Geert Braam và Suzanne Boelens (2009)

Geert Braam và Ferdy van Beest (2009) trên cơ sở các biến quan sát được khảo sát

từ báo cáo thường niên của mỗi doanh nghiệp, Geert Braam và Ferdy van Beest sử dụng thang đo Likert 5 điểm để đo lường và cho điểm từng đặc tính Tổng số điểm của các đặc tính thể hiện chất lượng thông tin báo cáo tài chính của từng doanh nghiệp

Như vậy, phương pháp đo lường chất lượng thông tin báo cáo tài chính của Geert Braam và Ferdy van Beest mang tính chất toàn diện hơn, bao gồm số lượng và tính trung thực của thông tin, phù hợp với quan điểm của FASB và IASB Có thể vận dụng phương pháp này để đo lường chất lượng thông tin báo cáo tài chính các Công

ty niêm yết tại Việt Nam Phương pháp đo lường này cũng phù hợp với văn bản hướng dẫn chế độ kế toán tại Việt Nam

Điều 101 thông tư 200/2014/TT-BTC hướng dẫn về chế độ kế toán quy định thông tin trình bày trong Báo cáo tài chính phải đáp ứng các yêu cầu sau:

i) Thông tin trình bày trên Báo cáo tài chính phải phản ánh trung thực, hợp lý tình hình tài chính, tình hình và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp Để đảm bảo sự trung thực, thông tin phải có 3 tính chất là đầy đủ, khách quan, không có sai sót

Trang 35

- Thông tin được coi là đầy đủ khi bao gồm tất cả các thông tin cần thiết để giúp người sử dụng Báo cáo tài chính hiểu được bản chất, hình thức và rủi ro của các giao dịch và sự kiện Đối với một số khoản mục, việc trình bày đầy đủ còn phải

mô tả thêm các thông tin về chất lượng, các yếu tố và tình huống có thể ảnh hưởng tới chất lượng và bản chất của khoản mục

- Trình bày khách quan là không thiên vị khi lựa chọn hoặc mô tả các thông tin tài chính Trình bày khách quan phải đảm bảo tính trung lập, không chú trọng, nhấn mạnh hoặc giảm nhẹ cũng như có các thao tác khác làm thay đổi mức độ ảnh hưởng của thông tin tài chính là có lợi hoặc không có lợi cho người sử dụng Báo cáo tài chính

- Không sai sót có nghĩa là không có sự bỏ sót trong việc mô tả hiện tượng và không có sai sót trong quá trình cung cấp các thông tin báo cáo được lựa chọn và áp dụng Không sai sót không có nghĩa là hoàn toàn chính xác trong tất cả các khía cạnh, ví dụ, việc ước tính các loại giá cả và giá trị không quan sát được khó xác định là chính xác hay không chính xác Việc trình bày một ước tính được coi là trung thực nếu giá trị ước tính được mô tả rõ ràng, bản chất và các hạn chế của quá trình ước tính được giải thích và không có sai sót trong việc lựa chọn số liệu phù hợp trong quá trình ước tính

ii) Thông tin tài chính phải thích hợp để giúp người sử dụng Báo cáo tài chính dự đoán, phân tích và đưa ra các quyết định kinh tế

iii) Thông tin tài chính phải được trình bày đầy đủ trên mọi khía cạnh trọng yếu Thông tin được coi là trọng yếu trong trường hợp nếu thiếu thông tin hoặc thông tin thiếu chính xác có thể làm ảnh hưởng tới quyết định của người sử dụng thông tin tài chính của đơn vị báo cáo Tính trọng yếu dựa vào bản chất và độ lớn, hoặc cả hai, của các khoản mục có liên quan được trình bày trên báo cáo tài chính của một đơn

vị cụ thể

iv) Thông tin phải đảm bảo có thể kiểm chứng, kịp thời và dễ hiểu

Trang 36

v) Thông tin tài chính phải được trình bày nhất quán và có thể so sánh giữa các kỳ

kế toán; so sánh được giữa các doanh nghiệp với nhau

2.3 Mối quan hệ giữa quản trị công ty và chất lượng báo cáo tài chính

Trong nghiên cứu của Zabihollah Rezaee (2002) “ Vai trò quản trị công ty đối với báo cáo tài chính” ông đưa ra mô hình công cụ sáu chân (The six-legged stool) bao gồm: Hội đồng quản trị, Ủy ban kiểm toán, Ban quản lý cấp cao, Kiểm toán độc lập, kiểm toán nội bộ và các cơ quan quản lý Tác giả khẳng định công ty nên phát riển quản trị công ty theo mô hình này để đảm bảo báo cáo tài chính đạt chất lượng Để đạt được mục tiêu này, cần thực hiện quản trị công ty theo hướng sau:

 Phát huy vai trò của Ủy ban kiểm toán (Ban kiểm soát)

 Ban quản lý cấp cao cần hiểu rõ vai trò, trách nhiệm pháp lý, trách nhiệm giải trình về việc lập và trình bày báo cáo tài chính

 Kiểm toán độc lập cần tuân thủ đúng quy trình kiểm toán, duy trì sự độc lập cần thiết, lưu giữ bằng chứng kiểm toán thích hợp

 Sự độc lập của Kiểm toán nội bộ

 Ngoài ra, Ủy ban chứng khoán, Bộ Tài chính và các cơ quan quản lý liên quan có trách nhiệm ban hành các quy định cần thiết và giám sát chất lượng báo cáo tài chính của các công ty niêm yết

Ngoài mô hình công cụ sáu chân trên, một số nghiên cứu cho kết quả các thành phần khác của quản trị công ty có ảnh hưởng đến chất lượng báo cáo tài chính, tác giả sẽ đề cập các nhân tố này để thảo luận phần biến nghiên cứu trong phần sau

Trang 37

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

Nội dung chính của chương này là giới thiệu các khái niệm được sử dụng trong nghiên cứu và lý thuyết nền tác giả sử dụng để giải quyết các giả thuyết đặt ra về tác động của quản trị công ty đến chất lượng BCTC, cụ thể là lý thuyết ủy nhiệm và lý thuyết các bên liên quan Khái niệm quản trị công ty sử dụng trong bài là khái niệm của OECD được đề cập trong bộ nguyên tắc quản trị công ty của tổ chức này Về chất lượng BCTC, chương này tổng hợp các phương pháp đo lường chất lượng BCTC của các nghiên cứu trong nước và quốc tế như nghiên cứu của Nguyễn Trọng Nguyên (2014) tổng hợp các phương pháp gồm điều chỉnh lợi nhuận, công bố tự nguyện, gian lận, công bố lại thông tin, đặc tính chất lượng Theo Ferdy van Beest, Geert Braam và Suzanne Boelens (2009) thì có 4 mô hình gồm mô hình hình dồn tích, mô hình giá trị hợp lý, mô hình các yếu tố đặc biệt trong BCTC, mô hình đặc tính chất lượng Theo đó, tác giả sẽ sử dụng mô hình đặc tính chất lượng, dựa vào thang đo Likert 5 điểm của Ferdy van Beest, Geert Braam và Suzanne Boelens để

đo lường chất lượng BCTC

Trang 38

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ THIẾT KẾ THU

THẬP DỮ LIỆU

3.1 Phát triển các giả thuyết nghiên cứu

Do khái niệm Quản trị công ty tại Việt Nam vẫn chưa được các công ty chú trọng nên vấn đề công bố thông tin về quản trị công ty còn nhiều bất cập Việc thu thập đầy đủ các dữ liệu để xây dựng một hệ thống chỉ số Quản trị công ty ở Việt Nam là vô cùng khó khăn và phức tạp Do giới hạn về thời gian nghiên cứu và khả năng thu thập dữ liệu nên tác giả chỉ xem xét và kiểm định tác động của một số nhân tố quản trị công ty đến chất lượng BCTC Đây là các nhân tố xuất hiện phổ biến trong các nghiên cứu trong và ngoài nước trước đây, tập trung chủ yếu vào đặc tính của HĐQT, Ban Giám đốc, Ủy ban kiểm toán, Kiểm toán độc lập và Cơ cấu sở hữu vốn

3.1.1 Tác động của Sự độc lập của HĐQT đến chất lượng BCTC

Phan Minh Nguyệt, luận văn thạc sĩ, (2014) “Xác định và đo lường mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến chất lượng thông tin kế toán trình bày trên báo cáo tài chính của các công ty niêm yết ở Việt Nam” xác định nhà quản trị là một nhân tố quan trọng nhằm nâng cao chất lượng báo cáo tài chính, trong đó, sự góp mặt của thành viên hội đồng quản trị không điều hành sẽ nâng cao chất lượng thông tin kế toán trên báo cáo tài chính thông qua việc tăng cường khả năng giám sát của HĐQT

và giải quyết những xung đột lợi ích giữa HĐQT và cổ đông riêng lẻ Bên cạnh đó, thông tư 121/2012/TT-BTC quy định về quản trị công ty áp dụng cho các công ty đại chúng cũng yêu cầu tối thiểu một phần ba (1/3) tổng số thành viên HĐQT là thành viên HĐQT không điều hành Sự có mặt của các thành viên HĐQT không điều hành được tin tưởng sẽ làm chức năng giám sát, trong đó có giám sát quá trình lập BCTC được hiệu quả hơn do giải quyết được vấn đề đại diện mà lý thuyết ủy nhiệm đặt ra

Từ đó, giả thuyết, giả thuyết H1 được phát biểu như sau:

H1: Mức độ độc lập của HĐQT càng cao thì chất lượng báo cáo tài chính càng cao

Trang 39

3.1.2 Tác động của Sự tách biệt giữa giám đốc điều hành và chủ tịch

HĐQT đến chất lượng BCTC

Như một hệ quả của việc tăng cường tính độc lập của HĐQT, việc tách biệt hai chức danh giữa giám đốc điều hành và chủ tịch HĐQT sẽ nâng cao chất lượng báo cáo tài chính Kết luận này được đề cập trong nhiều nghiên cứu trên thế giới cũng như tại Việt Nam như Phan Minh Nguyệt, luận văn thạc sĩ, (2014) “Xác định

và đo lường mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến chất lượng thông tin kế toán trình bày trên báo cáo tài chính của các công ty niêm yết ở Việt Nam”; Nguyễn Trọng Nguyên, Luận văn thạc sĩ (2007) “Những định hướng về quản trị công ty nhằm nâng cao chất lượng báo cáo tài chính của các công ty niêm yết tại sở giao dịch chứng khoán Hồ Chí Minh” hay Aiyesha Dey (2005) trong nghiên cứu “Quản trị công ty và độ tin cậy của báo cáo tài chính” (Corporate Governance and Financial Reporting Credibility) nghiên cứu trên thị trường chứng khoán Úc Lý thuyết người đại diện hỗ trợ việc phân chia các vị trí của chủ tịch hội đồng quản trị

và giám đốc điều hành từ quan điểm cho rằng một chủ tịch độc lập có thể theo dõi

và giám sát các hoạt động của giám đốc điều hành và các nhà quản lý cấp cao Từ

đó giả thuyết H2 được phát biểu như sau:

H2: Chất lượng báo cáo tài chính tăng khi có sự tách biệt giữa CEO và vị trí chủ tịch hội đồng quản trị

3.1.3 Tác động của Quy mô Hội đồng quản trị đến chất lượng BCTC

Một số ý kiến cho rằng quy mô HĐQT không phải là vấn đề quan trọng trong việc đảm bảo HĐQT hoạt động hiệu quả Tuy nhiên, có nhiều nghiên cứu thực nghiệm cho kết quả có tương quan giữa quy mô HĐQT và Chất lượng BCTC Monica-Veronica Honu và Andra Gajevszky (2014) thực hiện nghiên cứu “Chất lượng báo cáo tài chính và quản trị công ty: Bằng chứng từ ngành công nghiệp hàng không Romani” (The quality of financial reporting and corporate governance: evidence from Romanian’s aeronautic industry) kết luận HĐQT có nhiều thành viên

có ảnh hưởng tích cực đến chất lượng báo cáo tài chính HĐQT nhiều thành viên hàm ý khả năng giám sát sẽ cao hơn Từ đó giả thuyết H3 được phát biểu như sau:

Trang 40

H3: Có sự tác động cùng chiều của quy mô HĐQT đến chất lượng BCTC

3.1.4 Tác động của Cổ đông tổ chức đến chất lượng BCTC

Cơ cấu sở hữu có ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng BCTC Theo Nesrine Klai và Abdelwahed Omri (2011) trong nghiên cứu “Quản trị công ty và Chất lượng báo cáo tài chính: Trường hợp các công ty tại Tunisia” (Corporate Governance and Financial Reporting Quality: The Case of Tunisian Firms) nghiên cứu về mối liên

hệ giữa cơ cấu sở hữu công ty và chất lượng báo cáo tài chính, nghiên cứu kết luận rằng quyền lực của các cổ đông tổ chức, tổ chức của chính phủ, nhà đầu tư nước ngoài hay sở hữu theo gia đình có ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng báo cáo tài chính Quyền lực của các cổ đông tổ chức càng tăng lên thì khả năng ảnh hưởng đến thông tin trên báo cáo tài chính để bảo vệ lợi ích của họ càng lớn

Từ đó, giả thuyết H4 được phát biểu như sau:

H4: Tỷ lệ sở hữu công ty bởi các cổ đông tổ chức càng cao thì chất lượng báo cáo tài chính càng thấp

3.1.5 Tác động của Chuyên môn của Ban kiểm soát đến chất lượng

BCTC

Trong các nghiên cứu ở nước ngoài, khi xem xét đặc điểm của Ủy ban kiểm toán ảnh hưởng đến chất lượng BCTC, hai nhân tố thường được xem xét là sự độc lập và chuyên môn Tuy nhiên, trong bối cảnh Việt Nam thì sự độc lập của Ban kiểm soát rất khó xem xét và đánh giá, gần như chỉ là hình thức nên tác giả chỉ xem xét chuyên môn của Ban kiểm soát Theo Nhâm Phong Tuân và Nguyễn Anh Tuấn (2013) nghiên cứu quản trị công ty tại 100 công ty có tỷ lệ vốn hóa chiếm 80% thị trường trên HNX và HOSE cho biết hơn 83% trong số 100 công ty niêm yết được khảo sát cho rằng BKS đóng vai trò tích cực trong kiểm tra báo cáo thường niên và báo cáo tài chính Tuy nhiên, trên thực tế vai trò của BKS trong xét chọn, phối hợp, giám sát kiểm toán độc lập chưa thể hiện rõ trong 98% doanh nghiệp được khảo sát Một số công ty cho biết việc xét chọn kiểm toán độc lập là việc của BKS nhưng

Ngày đăng: 28/01/2016, 18:13

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng  2.1:  Các  mô  hình  quản  trị  công  ty  theo  cơ  cấu  sở  hữu  và  hình  thức  huy  động - Tác động của quản trị công ty đến chất lượng báo cáo tài chính   nghiên cứu các công ty niêm yết tại TPHCM
ng 2.1: Các mô hình quản trị công ty theo cơ cấu sở hữu và hình thức huy động (Trang 24)
Bảng 2.3: Các phương pháp đánh giá chất lượng báo cáo tài chính - Tác động của quản trị công ty đến chất lượng báo cáo tài chính   nghiên cứu các công ty niêm yết tại TPHCM
Bảng 2.3 Các phương pháp đánh giá chất lượng báo cáo tài chính (Trang 33)
Hình  3.1:  Mô  hình  nghiên - Tác động của quản trị công ty đến chất lượng báo cáo tài chính   nghiên cứu các công ty niêm yết tại TPHCM
nh 3.1: Mô hình nghiên (Trang 42)
Bảng 3.1: Tổng hợp tên biến và đo lường - Tác động của quản trị công ty đến chất lượng báo cáo tài chính   nghiên cứu các công ty niêm yết tại TPHCM
Bảng 3.1 Tổng hợp tên biến và đo lường (Trang 43)
Bảng 4.1: Nhóm ngành của mẫu nghiên cứu - Tác động của quản trị công ty đến chất lượng báo cáo tài chính   nghiên cứu các công ty niêm yết tại TPHCM
Bảng 4.1 Nhóm ngành của mẫu nghiên cứu (Trang 46)
Bảng 4.2: Hệ số tin cậy Cronbach alpha của thang đo đặc tính thích hợp - Tác động của quản trị công ty đến chất lượng báo cáo tài chính   nghiên cứu các công ty niêm yết tại TPHCM
Bảng 4.2 Hệ số tin cậy Cronbach alpha của thang đo đặc tính thích hợp (Trang 47)
Bảng 4.4: Hệ số tin cậy Cronbach alpha của thang đo đặc tính dễ hiểu - Tác động của quản trị công ty đến chất lượng báo cáo tài chính   nghiên cứu các công ty niêm yết tại TPHCM
Bảng 4.4 Hệ số tin cậy Cronbach alpha của thang đo đặc tính dễ hiểu (Trang 50)
Bảng 4.6. Bảng thống kê dữ liệu biến độc lập - Tác động của quản trị công ty đến chất lượng báo cáo tài chính   nghiên cứu các công ty niêm yết tại TPHCM
Bảng 4.6. Bảng thống kê dữ liệu biến độc lập (Trang 51)
Bảng 4.5: Hệ số tin cậy Cronbach alpha của thang đo đặc tính đặc tính có thể so  sánh - Tác động của quản trị công ty đến chất lượng báo cáo tài chính   nghiên cứu các công ty niêm yết tại TPHCM
Bảng 4.5 Hệ số tin cậy Cronbach alpha của thang đo đặc tính đặc tính có thể so sánh (Trang 51)
Bảng 4.7 cho thấy đa số BCTC không hữu ích cho việc dự báo tương lai, 50,9%  BCTC không cung cấp bất kỳ thông tin nào về tương lai, 47,2% có thông tin về  tương lai nhưng rất ít, chỉ có 2 công ty công bố thông tin về tương lai trong mục  thuyết minh riêng - Tác động của quản trị công ty đến chất lượng báo cáo tài chính   nghiên cứu các công ty niêm yết tại TPHCM
Bảng 4.7 cho thấy đa số BCTC không hữu ích cho việc dự báo tương lai, 50,9% BCTC không cung cấp bất kỳ thông tin nào về tương lai, 47,2% có thông tin về tương lai nhưng rất ít, chỉ có 2 công ty công bố thông tin về tương lai trong mục thuyết minh riêng (Trang 53)
Bảng 4.9: Thống kê mô tả đặc tính dễ hiểu (Understandability) - Tác động của quản trị công ty đến chất lượng báo cáo tài chính   nghiên cứu các công ty niêm yết tại TPHCM
Bảng 4.9 Thống kê mô tả đặc tính dễ hiểu (Understandability) (Trang 56)
Bảng 4.11: Thống kê mô tả đặc tính kịp thời (Timeliness) - Tác động của quản trị công ty đến chất lượng báo cáo tài chính   nghiên cứu các công ty niêm yết tại TPHCM
Bảng 4.11 Thống kê mô tả đặc tính kịp thời (Timeliness) (Trang 58)
Bảng 4.13: Kiểm định thiếu biến độc lập - Tác động của quản trị công ty đến chất lượng báo cáo tài chính   nghiên cứu các công ty niêm yết tại TPHCM
Bảng 4.13 Kiểm định thiếu biến độc lập (Trang 59)
Phụ lục 1: Bảng tổng hợp thang điểm đánh giá chất lƣợng BCTC theo năm đặc tính - Tác động của quản trị công ty đến chất lượng báo cáo tài chính   nghiên cứu các công ty niêm yết tại TPHCM
h ụ lục 1: Bảng tổng hợp thang điểm đánh giá chất lƣợng BCTC theo năm đặc tính (Trang 76)
Bảng  CĐKT  và - Tác động của quản trị công ty đến chất lượng báo cáo tài chính   nghiên cứu các công ty niêm yết tại TPHCM
ng CĐKT và (Trang 78)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w